Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA, XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.Nhận thức chung về mặt lý luận bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều điều tra, xét xử vụ án hình sự của cơ quan Viện kiểm sát 1. Khái niệm bảo đảm quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm quyền công tố: Theo Từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa: Công tố có nghĩa là "điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước Tòa án".[ 38, tr 204] Từ điển Luật học đưa ra khái niệm: Công tố là "Quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội”.[ 7, tr188] Như vậy, công tố chính là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Ở Việt Nam, quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với chức năng của Viện kiểm sát nhân dân.
Nghiên cứu lý luận về quyền công tố, có thể thấy thời gian qua đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này và đưa ra nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về quyền công tố. Trong tiến trình thực hiện cải cách bộ máy nhà nước, cải cách hoạt động tư pháp, khi đề cập đến chức năng của VKSND thì khái niệm quyền công tố lại được các nhà nghiên cứu đề cập nhiều hơn. Có một số tác giả cho rằng quyền công tố không phải là chức năng độc lập của Viện kiểm sát mà mọi hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là thực hành quyền công tố, quyền công tố là một quyền năng, công tố là một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS. Có một số tác giả khác lại cho rằng, quyền 9 e công tố tồn tại trong cả lĩnh vực tố tụng hình sự và các lĩnh vực dân sự, kinh tế, lao động, hành chính, dẫn đến tình trạng mở rộng phạm vi quyền công tố vượt khỏi lĩnh vực tố tụng hình sự hoặc một số tác giả lại quá thu hẹp phạm vi quyền công tố, coi quyền công tố là quyền của VKS truy tố kẻ phạm tội ra Toà án và thực hiện việc buộc tội tại phiên toà hình sự sơ thẩm.
[11] Những quan điểm này, tác giả đều không đồng tình vì đã không thể hiện đúng bản chất của quyền công tố. Bởi lẽ, quyền công tố là quyền lực nhà nước, nó tồn tại trong bất kì các kiểu Nhà nước nào, gắn liền với bản chất giai cấp sâu sắc và được nhà nước sử dụng nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Bản chất của quyền công tố là sự buộc tội, luôn gắn liền với vấn đề tội phạm và người phạm tội vì vậy nó chỉ phát sinh khi có tội phạm và chỉ xuất hiện trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Quyền công tố được được phát động khi có hành vi nguy hiểm xâm phạm tới các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ xảy ra, trong phạm vi chức năng của mình, chủ thể thực hiện quyền công tố (ở Việt Nam là VKS) sử dụng các quyền năng, biện pháp TTHS cần thiết nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người bị coi là thực hiện hành vi phạm tội.
Vì quyền công tố gắn liền với quyền lực nhà nước nên mang tính cưỡng chế, dù đối tượng bị tác động có muốn hay không, phân biệt với việc đề cao sự thỏa thuận của các đương sự trong lĩnh vực dân sự, kinh tế, lao động. Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trước, có thể hiểu: Quyền công tố là một loại quyền lực Nhà nước được giao cho VKS thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nhằm truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử và thực hiện sự buộc tội người đó trước phiên tòa nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và thực hiện theo quy định của Hiến pháp 10 e và pháp luật. Việc thực hiện quyền công tố được Nhà nước giao cho chủ thể nhất định và được tiến hành theo những phương thức đặc thù. Về chủ thể thực hiện quyền công tố, tại Điều 2 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Vậy, VKSND chính là chủ thể thực hiện quyền công tố. Đây là cơ quan do Quốc hội thành lập, thừa hành quyền lực từ Quốc hội và được Quốc hội giao cho chức năng thực hành quyền công tố; nhân danh Nhà nước sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý theo quy định của pháp luật để thực hiện sự buộc tội đối với người phạm tội trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự và bảo vệ sự buộc tội đó nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và thực hiện theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Để làm tốt thực hiện tốt quyền này, Viện kiểm sát có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội. Trên cơ sở đó truy tố bị can ra trước Toà án và thực hiện sự buộc tội đó tại phiên toà.
Về chức năng thực hành quyền công tố, tại Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã quy định: “Thực hành quyền công tố, là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.” VKS thực hiện quyền công tố trong tất cả các giai đoạn tố tụng (từ khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử) và tùy từng giai đoạn tố tụng cụ thể mà việc sử dụng các quyền năng pháp lý của VKS cũng khác nhau. Như vậy, thực hành quyền công tố là quá trình VKS hiện thực hoá quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội bằng các quyền năng tương ứng mà Nhà nước đã trao cho VKS. 11 e Đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội. Vì chức năng duy nhất của quyền công tố là chức năng buộc tội nhân danh Nhà nước trong lĩnh vực tố tụng hình sự.
Nội dung của quyền công tố là sự buộc tội của nhà nước đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội. Phạm vi quyền công tố: Về phạm vi không gian: phạm vi quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Về phạm vi thời gian: Phạm vi quyền công tố bắt đầu khi tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị hoặc khi đình chỉ vụ án. Một vụ án hình sự được giải quyết thông qua nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau: khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử.
Theo pháp luật TTHS nước ta, VKS thực hiện quyền công tố trong tất cả các giai đoạn tố tụng (từ khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử) và tùy từng giai đoạn tố tụng cụ thể mà việc sử dụng các quyền năng pháp lý của VKS cũng khác nhau. Trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm thì quyền công tố của VKS được quy định cụ thể như sau: - Quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự: là quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân, pháp nhân có hành vi phạm tội, là quyền mà chủ thể được Nhà nước giao được sử dụng các quyền năng pháp lý để chứng minh hành vi phạm tội trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. VKSND thực hiện quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, thể hiện qua các quyền năng pháp lý như: Yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án bị can; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu để làm rõ tộiphạm, người phạm tội; đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra; trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; phê chuẩn, không phê chuẩn các 12 e quyết định của cơ quan điều tra; hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan điều tra quyết định việc truy tố bị can; quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra. - Quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn trong tố tụng hình sự, trong đó Tòa án có thẩm quyền thay mặt Nhà nước tiến hành việc xét xử lần đầu, toàn diện, tổng thể vụ án hình sự trên cơ sở bản cáo trạng của VKS, xem xét đánh giá chứng cứ và dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa làm cơ sở để ra các phán quyết công minh, có căn cứ và đúng pháp luật bằng bản án và quyết định của mình.
Quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là quyền lực Nhà nước giao cho VKS thực hiện việc buộc tội cá nhân, pháp nhân có hành vi phạm tội trước Tòa án. VKSND sử dụng các quyền năng pháp lý để thực hiện quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như sau: Công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa; xét hỏi; xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ; thực hiện việc luận tội đối với bị cáo; tranh luận tại phiên tòa; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội theo quy định của BLTTHS (giải quyết việc Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung; giải quyết việc rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa) 1. Khái niệm bảo đảm quyền công tố: Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển học định nghĩa thì: “Bảo đảm là làm cho chắc chắn, thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết”.