Tổng quan nghiên cứu

Quyền con người là giá trị phổ quát được khẳng định mạnh mẽ trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Việt Nam chính thức gia nhập từ ngày 24/09/1982. Tại khoản 5 Điều 9 của Công ước này cùng khoản 5 Điều 31 Hiến pháp năm 2013, quyền được bồi thường thiệt hại khi bị giam giữ, truy cứu trách nhiệm hình sự oan sai đã được hiến định như một nguyên tắc tư pháp cốt lõi. Tuy nhiên, trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015, việc triển khai thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và Thông tư liên tịch số 05/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BQP-BTC-BNN&PTNT đã bộc lộ nhiều rào cản phức tạp. Án oan sai trong tố tụng hình sự chiếm tỷ lệ lớn về kinh phí bồi thường và thường kéo dài qua nhiều năm, gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn tập trung làm rõ hệ thống cơ sở lý luận về bảo đảm quyền con người, đánh giá thực trạng áp dụng quy định pháp luật bồi thường nhà nước cho người bị oan trong tố tụng hình sự từ năm 2010 đến năm 2015 trên phạm vi 63 tỉnh thành cả nước. Trên cơ sở nhận diện những bất cập về thẩm quyền và định mức chi trả, đề tài xác định hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực thực thi, hướng tới mục tiêu giảm 50% thời gian thụ lý hồ sơ và bảo đảm 100% các quyền nhân thân, tài sản của công dân được phục hồi kịp thời theo đúng chuẩn mực tư pháp hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của hai học thuyết pháp lý chủ đạo: Học thuyết quyền tự nhiên và quyền pháp lý về quyền con người (gắn với chuẩn mực của Liên hợp quốc và tư tưởng lấy dân làm gốc trong cải cách tư pháp Việt Nam); Học thuyết về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Nhà nước. Về bản chất, trách nhiệm bồi thường nhà nước là nghĩa vụ công quyền nhưng được vận hành theo nguyên tắc dân sự bình đẳng, tự nguyện thỏa thuận nhằm bù đắp tổn thất do hành vi trái pháp luật của người tiến hành tố tụng gây ra.

Khung khái niệm cốt lõi của đề tài bao gồm 4 thuật ngữ cơ bản:

  • Quyền con người: Nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của cá nhân được pháp luật quốc gia và thỏa thuận quốc tế công nhận, bảo vệ.
  • Người bị oan trong tố tụng hình sự: Cá nhân không thực hiện hành vi vi phạm hoặc không cấu thành tội phạm nhưng bị cơ quan chức năng áp dụng biện pháp ngăn chặn, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án phạt tù.
  • Cơ chế bồi thường nhà nước: Hệ thống các quy định và biện pháp thực thi nghĩa vụ bồi hoàn vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự cho nạn nhân của các quyết định tư pháp sai lầm.
  • Thiệt hại do hoạt động tố tụng gây ra: Bao gồm thiệt hại vật chất (tài sản bị tổn thất, thu nhập thực tế bị mất, chi phí y tế, cứu chữa) và thiệt hại phi vật chất (suy sụp tinh thần, tổn hại danh dự, uy tín, nhân phẩm).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật qua 5 giai đoạn phát triển lịch sử (từ Sắc lệnh số 46/SL năm 1945, Thông tư số 173/UBTP năm 1972, Bộ luật Tố tụng hình sự các năm 1988, 2003, 2015 đến Nghị quyết 388/2003/NQ-UBTVQH và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009). Nguồn dữ liệu thực tiễn được trích xuất từ các báo cáo tổng kết giai đoạn 2010 - 2015 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp.

Quy trình khảo sát sử dụng cỡ mẫu gồm 120 vụ việc bồi thường oan sai điển hình trên phạm vi toàn quốc. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm tập trung vào các vụ án có tính chất phức tạp, kéo dài, có quyết định đình chỉ điều tra hoặc bản án tuyên không phạm tội. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích quy phạm kết hợp thống kê mô tả và so sánh luật học là nhằm phát hiện các khoảng trống pháp lý, đối chiếu sự sai lệch giữa thời hạn định lượng trên văn bản và thực tế thương lượng bồi thường của các cơ quan tiến hành tố tụng trong suốt timeline nghiên cứu 5 năm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, các vụ việc yêu cầu bồi thường trong tố tụng hình sự chiếm tỷ trọng khoảng 65% tổng số tiền bồi thường của Nhà nước giai đoạn 2010 - 2015. Đây là lĩnh vực có tính chất nhạy cảm và thiệt hại nghiêm trọng nhất khi so sánh với lĩnh vực quản lý hành chính và thi hành án dân sự.

Thứ hai, thời gian giải quyết yêu cầu bồi thường bị kéo dài nghiêm trọng. Theo Điều 17 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, thời hạn thương lượng là 30 ngày, nhưng trong thực tế, hơn 70% các vụ việc kéo dài từ 12 tháng đến trên 36 tháng do tình trạng đùn đẩy trách nhiệm. Trong cơ cấu các cơ quan giải quyết bồi thường sau cùng, Cơ quan điều tra chiếm khoảng 40%, Viện kiểm sát chiếm 35% và Tòa án chiếm 25% các vụ việc thụ lý.

Thứ ba, cơ chế xác định mức bồi thường thiệt hại tinh thần còn mang tính cào bằng. Định mức tính theo 3 ngày lương tối thiểu cho 1 ngày bị tạm giữ, tạm giam theo Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH hoặc 360 tháng lương tối thiểu trong trường hợp nạn nhân bị chết chưa phản ánh đúng tổn thất cơ hội, sự suy giảm sức khỏe tâm thần kéo dài và tình trạng gia đình ly tán của người bị oan.

Thứ tư, xuất hiện lỗ hổng lập pháp khi Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại, nhưng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 chỉ tập trung vào thể nhân, chưa có điều khoản điều chỉnh trường hợp pháp nhân bị khởi tố, phong tỏa tài khoản oan sai.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của tình trạng chậm trễ bồi thường bắt nguồn từ tâm lý sợ trách nhiệm của cán bộ tiến hành tố tụng và quy định về trách nhiệm bồi hoàn cá nhân (Điều 46 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Điều 37 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002) chưa được phân định rõ ràng giữa lỗi vô ý và lỗi cố ý. Hơn nữa, việc xác minh thiệt hại thực tế đối với tài sản và thu nhập bị mất gặp nhiều trở ngại do cơ chế giám định tài chính trải qua 4 cấp thẩm định phức tạp giữa cơ quan tư pháp và cơ quan tài chính.

Khi so sánh với các quy định trước thời điểm có Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, có thể nhận thấy Điều 31 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có bước tiến vượt bậc khi khẳng định trách nhiệm trực tiếp của Nhà nước thay vì quy định trách nhiệm riêng lẻ của từng cơ quan tiến hành tố tụng. Về phương diện trình bày trực quan, các dữ liệu về phân bổ cơ quan gây oan sai và mức độ chênh lệch thời gian thụ lý có thể được biểu diễn thông qua biểu đồ tròn (thể hiện thị phần 40% của Cơ quan điều tra, 35% của Viện kiểm sát và 25% của Tòa án) kết hợp với bảng đối chiếu thời hạn quy định 30 ngày so với thời gian giải quyết thực tế trung bình từ 180 đến 720 ngày.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Khẩn trương sửa đổi, hoàn thiện Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước: Bổ sung chế định bồi thường thiệt hại cho pháp nhân thương mại khi bị xử lý hình sự oan sai; nâng mức bồi thường tổn thất tinh thần từ 3 ngày lương lên mức tối thiểu 5 ngày lương cơ sở cho mỗi ngày bị giam giữ oan. Mục tiêu hoàn thiện 100% văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ trước quý IV năm 2017 do Quốc hội và Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện.
  • Thiết lập cơ chế giải quyết bồi thường liên thông một cửa: Rút ngắn thời hạn thụ lý hồ sơ từ 30 ngày xuống tối đa 20 ngày; ban hành quy chuẩn phân định rõ cơ quan chịu trách nhiệm bồi thường sau cùng nhằm triệt tiêu 100% tình trạng đùn đẩy giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong giai đoạn 2017 - 2020 do Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo.
  • Tăng cường cơ chế bồi hoàn tài chính và xử lý kỷ luật nghiêm minh: Quy định mức truy thu trách nhiệm vật chất đối với điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán có lỗi chủ quan dẫn đến án oan ở mức từ 10% đến 30% tổng kinh phí Nhà nước đã chi trả bồi thường, thực hiện định kỳ hàng năm do Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao giám sát.
  • Chuẩn hóa năng lực và đạo đức công vụ tư pháp: Tổ chức 100% các khóa đào tạo bắt buộc về kỹ năng tranh tụng, chứng minh tội phạm và tôn trọng quyền con người cho đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng; hoàn thành lộ trình đào tạo chuyên sâu trong giai đoạn 2017 - 2022 do Học viện Tư pháp và các cơ sở đào tạo luật triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên: Nắm vững căn cứ xác định các trường hợp bồi thường tại Điều 26 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để phòng ngừa oan sai trong quá trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn như tạm giữ 12 giờ hoặc tạm giam theo Điều 117 và 119 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Luật sư và Chuyên gia tranh tụng hình sự: Vận dụng hệ thống luận cứ về bồi thường thiệt hại vật chất, tổn thất tinh thần và thủ tục cải chính công khai trong thời hạn 30 ngày để bảo vệ tối đa quyền lợi cho thân chủ trong các vụ án hình sự.
  • Cơ quan lập pháp và Viện nghiên cứu chính sách: Sử dụng số liệu thực chứng giai đoạn 2010 - 2015 làm căn cứ thực tiễn phục vụ việc sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và hoàn thiện hệ thống chế tài trách nhiệm công vụ.
  • Giảng viên và Học viên cao học chuyên ngành Luật hình sự: Khai thác tài liệu làm giáo trình chuyên đề về Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự và Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong các viện nghiên cứu, trường đại học.

Câu hỏi thường gặp

Người bị tạm giữ hình sự nhưng sau đó được trả tự do có đương nhiên được bồi thường không? Theo khoản 1 Điều 26 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, người bị tạm giữ chỉ được bồi thường khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ quyết định tạm giữ vì lý do người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, loại trừ các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự hoặc tự nhận tội thay người khác.

Mức bồi thường tổn thất tinh thần cho người bị giam giữ oan sai được tính theo công thức nào? Mức bồi thường được xác định dựa trên quy định tại Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH và Thông tư liên tịch số 05/2012/TTLT. Cụ thể, mỗi ngày bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù oan được chi trả bằng 3 ngày lương tối thiểu chung tại thời điểm giải quyết bồi thường. Trường hợp nạn nhân tử vong, thân nhân được nhận khoản tiền bù đắp tinh thần chung bằng 360 tháng lương tối thiểu.

Thời hiệu công dân có quyền nộp đơn yêu cầu bồi thường oan sai là bao lâu? Căn cứ Điều 5 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, thời hiệu yêu cầu bồi thường là 2 năm (24 tháng), tính từ ngày bản án, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng có hiệu lực pháp luật xác định người đó không phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm.

Khi nào việc xin lỗi và cải chính công khai cho người bị oan phải được thực hiện? Theo quy định tại Điều 4 Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH và các văn bản liên tịch hướng dẫn, cơ quan gây oan sai phải trực tiếp tổ chức xin lỗi công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của nạn nhân và đăng tải cải chính liên tiếp trong 3 số báo trung ương, báo địa phương trong thời hạn 30 ngày kể từ khi có quyết định xác định oan sai.

Cán bộ làm oan người vô tội có phải trực tiếp bồi thường tiền cho nạn nhân không? Nhà nước là chủ thể đứng ra chi trả toàn bộ một lần bằng tiền cho người bị oan theo nguyên tắc tại Điều 7 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Sau đó, cán bộ thi hành công vụ có lỗi dẫn đến oan sai phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả kinh phí vào ngân sách nhà nước theo quyết định của thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quyền con người và bản chất dân sự của cơ chế trách nhiệm bồi thường nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự.
  • Công trình phản ánh sâu sắc thực tiễn thực thi pháp luật bồi thường oan sai tại Việt Nam giai đoạn 2010 - 2015 qua khảo sát 120 vụ việc điển hình trên toàn quốc.
  • Đề tài chỉ rõ những bất cập lớn về tình trạng vi phạm thời hạn giải quyết 30 ngày, sự đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan tố tụng và định mức bồi thường tinh thần chưa thỏa đáng.
  • Luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá, tập trung sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nhằm mở rộng diện bồi thường cho pháp nhân và tăng định mức chi trả tổn thất nhân thân.
  • Định hướng lộ trình triển khai đồng bộ các giải pháp cải cách tư pháp và nâng cao trách nhiệm hoàn trả công vụ của chức danh tư pháp trong giai đoạn 2017 - 2025.

Các cơ quan tư pháp và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình nghiên cứu để ứng dụng vào công tác lập pháp và bảo vệ quyền con người trong thực tiễn xét xử.