Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN 1. Cơ sở lý luận của áp dụng hình phạt tù có thời hạn. Khái niệm áp dụng hình phạt tù có thời hạn: Hình phạt là một trong những chế định quan trọng, nghiêm khắc của Nhà nước được quy định trong pháp luật hình sự. Về khái niệm hình phạt, Điều 26 BLHS năm 1999 quy định: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội.
Khung hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự và sẽ do Toà án quyết định mức hình phạt cụ thể”. [17] Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung thêm đối tượng chịu TNHS là các pháp nhân thương mại; do vậy BLHS 2015 cũng đã bổ sung thêm khái niệm hình phạt như sau: ”Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó.12] Quy định Hình phạt trong hệ thống PLHS Việt Nam bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Hình phạt chính là hình phạt được áp dụng chính cho một tội phạm và được tuyên độc lập [Tr.353 Luật Hình sự Việt Nam phần chung]. Theo khoản 1, Điều 32 Bộ luật hình sự năm 2015, quy định 8 Trần Đình Hoàng MS: 8.04 Ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự về hình phạt chính, bao gồm: a) Cảnh cáo; b) Phạt tiền; c) Cải tạo không giam giữ; d) Trục xuất; đ) Tù có thời hạn; e) Tù chung thân; g) Tử hình.
Hình phạt bổ sung bao gồm: a) Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; b) Cấm cư trú; c) Quản chế; d) Tước một số quyền công dân; đ) Tịch thu tài sản; e) Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; g) Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính…”.12] Hình phạt tù có thời hạn là việc cách ly người phạm tội ra khỏi đời sống cộng đồng trong một thời gian nhất định và tước bỏ quyền tự do của họ. Hình phạt tù có thời hạn được quy định tại Điều 38 BLHS 2015 như sau: “Tù có thời hạn là buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là 03 tháng và mức tối đa là 20 năm…” [24, tr. Nguyên tắc áp dụng HPTCTH đối với trường hợp một người phạm nhiều tội được PLHS quy định như sau: “Khi xét xử cùng 01 lần một người phạm nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt …Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn…”.
Như vậy, có thể thấy để đạt được mục đích vừa trừng trị người phạm tội, vừa giáo dục người phạm tội phải biết tuân thủ pháp luật và thượng tôn pháp luật là rất quan trọng. Hình phạt nói chung, hình phạt tù có thời hạn rói riêng được quyết định áp dụng thông qua hoạt động xét xử của Tòa án nhân danh nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam - Cơ quan thay mặt Nhà nước nhằm khôi phục trật tự nếu nó bị xâm phạm, hoặc nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp và chính đáng của công dân, của tập thể, của quốc gia và xã hội. Hoạt động xét xử của 9 Trần Đình Hoàng MS: 8.04 Ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự Tòa án phải tuân thủ nghiêm theo quy định của BLTTHS kể từ khi bắt đầu thụ lý hồ sơ, đưa vụ án ra xét xử và ban hành ra bản án, quyết định. Từ những phân tích trên thì khái niệm áp dụng HPTCTH được hiểu như sau: Áp dụng HPTCTH là hoạt động áp dụng PLHS sau khi đã định tội danh, trên cơ sở hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại Tòa, xác định các tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ quy định của Bộ luật hình sự lựa chọn mức hình phạt tù có thời hạn để áp dụng đối với người bị kết tội và ra phán quyết kết tội trong bản án.
Đặc điểm áp dụng hình phạt tù có thời hạn - Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự Đối với hồ sơ vụ án hình sự, xuất phát từ nguyên tắc Tòa án chỉ xét xử những hành vi, những bị can theo tội danh mà cơ quan công tố đã truy tố và Tòa án đã đưa ra xét xử, thông thường người áp dụng pháp luật phải ngay từ đầu nắm vững nội dung cáo trạng. Bản cáo trạng trong hồ sơ vụ án hình sự như là một chiếc "chìa khóa" để mở hồ sơ vụ án về các vấn đề: ai đã thực hiện hành vi bị truy tố, hành vi bị truy tố là hành vi gì, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi bị truy tố ra sao, động cơ của hành vi đó là gì, người bị truy tố có lỗi hay không có lỗi, nếu có lỗi thì lỗi cố ý hay vô ý; nhân thân người bị truy tố có đặc điểm gì cần lưu ý; hành vi bị truy tố xâm phạm đến quan hệ xã hội nào mà pháp luật hình sự bảo vệ; điều luật mà bản cáo trạng viện dẫn để buộc tội là điều luật nào của Bộ luật hình sự. Trên cơ sở đó, người áp dụng pháp luật đối chiếu với bản kết luận điều tra của cơ quan điều tra để tìm hiểu xem vì sao cáo trạng chấp nhận toàn bộ hoặc một phần nội dung của bản kết luận điều tra. Tiếp theo đó là việc nghiên cứu lời khai của bị can, bị cáo, người làm chứng, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, các tài liệu giấy tờ liên quan, kết quả giám định, bản ảnh, biên bản khám nghiệm hiện trường.
Trong trường hợp vụ án có đồng phạm thì cần lưu ý đến sự giống nhau và khác nhau giữa các lời khai của các bị can, bị cáo, các biên bản đối chất về những vấn đề khác nhau thể hiện qua các lời khai và chứng cứ của hồ sơ vụ án. Qua nghiên cứu hồ sơ, 10 Trần Đình Hoàng MS: 8.04 Ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự người áp dụng pháp luật cần hệ thống lại một cách logic các chứng cứ gỡ tội, các chứng cứ buộc tội để đưa ra nhận định công tác điều tra, thu thập chứng cứ đã đi đến cùng hay chưa, đã thu thập đủ các chứng cứ cần thiết để chứng minh việc buộc tội và gỡ tội hay chưa; có những vấn đề gì đã rõ hoặc chưa rõ v. Để xác định và áp dụng hình phạt tù, thì người áp dụng pháp luật cần phải nắm rõ các quy định pháp luật về các loại tội phạm, đây là hoạt động cơ bản và quan trọng nhất trong toàn bộ các hoạt động áp dụng hình phạt và Nhà nước có thể ngày càng hoàn thiện hệ về thống pháp luật này cũng phải thông qua hoạt động này. - Chủ thể áp dụng HPTCTH là Hội đồng xét xử: Hiến pháp năm 2013 đã quy định: TAND là cơ quan xét xử và thực hiện quyền tư pháp.
Tòa án, cụ thể là HĐXX, thông qua hoạt động xét xử để thực hiện quyền lực nhà nước, và HĐXX nhân danh nhà nước ra bản án quyết định một tổ chức, cá nhân có tội hay không có tội; qua đó thể hiện ý chí, thái độ, sức mạnh của bộ máy nhà nước đối với người phạm tội. Trong quá trình xét xử Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm. Pháp luật TTHS quy định Hội thẩm nhân dân (HTND) ngang quyền với Thẩm phán, và HĐXX thảo luận và quyết định theo đa số. Đối với hoạt động xét xử các vụ án hình sự thì quyết định áp dụng hình phạt của HĐXX là trọng tâm của hoạt động tố tụng hình sự.
- Được thực hiện sau khi định tội danh. Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi tội phạm cụ thể đã dược thực hiện với 11 Trần Đình Hoàng MS: 8.04 Ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự các dâu hiệu của cấu thành tội phạm đã được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự. Để hoạt động áp dụng PLHS được hiệu quả thì hoạt động định tội danh phải được tiến hành cùng lúc cả ba quá trình: Một là xác định đúng, khách quan các tình tiết thực tế của vụ án. Hai là nhận thức đúng nội dung của các quy định trong BLHS.
Ba là lựa chọn đúng quy phạm PLHS tương ứng để đối chiếu chính xác, đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định với các tình tiết của hành vi được thực hiện trong thực tế. Trên cơ sở đó đưa ra kết luận có cơ sở, có căn cứ đồng nhất giữa hành vi thực tế cấu thành tội phạm được quy định trong điều, khoản của Luật. - Hình phạt được áp dụng là hình phạt tù có thời hạn. Khi xác định được tội danh, HĐXX sẽ lựa chọn và áp dụng một hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
Bộ luật HS quy định hình phạt gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Trường hợp hình phạt được áp dụng là hình phạt tù có thời hạn thì buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. Đối với người phạm một tội thì tù có thời hạn có mức tối thiểu là 03 tháng và mức tối đa là 20 năm; nếu người bị kết án đã bị tạm giam, tạm giữ, thì thời hạn này được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù theo nguyên tắc 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày tù. Đối với trường hợp phạm nhiều tội thì Tòa sẽ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với từng tội, nhưng khi tổng hợp các hình phạt và thời gian áp dụng hình phạt tù có thời hạn được cộng lại thành hình phạt chung thì không được vượt quá ba mươi năm.
Đây là hình phạt khá phổ biến trong thực tiễn xét xử của tòa án.