Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu. Chuong 3: Phan tich thue trang ảnh hưởng của Tiên lương đến NSLD tại Chi nhánh Công ty CP Lập đoàn Truyén thông Thanh Niễn Nha In Bao Thanh Niên Hà Nội. Chương 4: Kết quã nghiên cửu và một số kiến nghị về Tiên lương góp phần nâng cao NSLD tại Chỉ nhánh Công ty CP Tập đoàn Truyền thông Thanh Nién — Nha Tn Báo Thanh Niễn Hà Nội CHUONG 1: TONG QUAN TINH HiNH NGHIEN CUU VA CO SO LY LUAN CHUNG VE TIEN LUONG VA NANG SUAT LAO DONG EM Tổng quan tình hình nghiên cứu Việc nghiên cứu vẫn đề “Ảnh hưởng của Tiên lương đến Năng suất lao động” được rất nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu và đánh giá. Tuy nhiên, chính thức tiền.
hành nghiên cửu vân đề nảy trên một phạm vi vả đổi tượng nhất định thông qua mô hình bằng phương pháp định lượng và định tính kết hợp thì ở Việt Nam chưa cỏ nhiều, hầu hết các tác giả nghiên cứu dựa trên sự tăng giảm tiền lương, quỹ tiên lương tác động đến sự tăng giảm Năng suất lao động của Doanh nghiệp thông qua các con số hiện hình qua các thời kỳ, từ đó so sánh sự chênh lệch vẻ số liêu đề rút ra kết luận vẻ sự ảnh hưởng, đề xuất những giải pháp tăng giảm tiền lương và quỹ lương cho thời kỷ tiếp theo. Nhưng việc tăng năng suất lao động ngoài những yêu tố tác động thẻ hiện vẻ mặt con số như Quỹ tiên lương, quỹ phụ cập, quỹ khen thưởng, nỏ cỏn chịu sự ảnh hưởng từ yêu tổ con người, lao động, những yêu tổ mang tính định tỉnh thuộc về Tiền lương như chỉnh sách tiền lương, hình thức trả lương, cap bậc chức vụ vả cơ hội thăng tiên, chế độ khen thưởng không bằng tiên. những yêu tổ này tác động trực tiếp đền thai độ, tình thần làm việc của Nhân viên, có thể làm cho Nhân viên thỏa mãn hoặc không, có thẻ làm tăng hiệu quả công việc và ngược lại tùy vào Chính sách của Công ty. Vì vậy nghiên cứu ảnh hưởng của Tiền lương không thẻ bỏ qua sự tác động của các yếu tô mang tính định tính trên.
Nghiên cứu nảy xin được giới thiệu một số bài nghiên cửu tương tư vẻ vẫn đẻ này của các tác gia sau’ 1. Tình hình nghiên cứu trong nước. Nhóm tác giả thuộc CIEM, Trung tâm Thông tin — Tư liệu Thông tin, 2012. Vai trò của Lương và Thu nhập như là động lực thúc đẫy tăng trưổng kinh: tế bên vững.
Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế TW. Đối với chuyên đề này, nhóm tác giả đã nghiên cứu và đưa ra vai trò và ảnh hưởng của Tiền lương như là động lực thúc đây tăng trưởng kinh tế bên vững, nhóm. tác giả đã nghiên cứu trên phạm vị và dối tượng là “Nền kinh tế”, một phạm vi rat rộng, và lớn, vi vậy nhóm tác giá nghiên cứu trên điện rộng, đánh giá chưng thông, qua việc thu thập và xử lý số liệu để đưa ra những giải pháp mang lâm cỡ quốc gia, dua ra những chính sách vẻ Tiền lương phù hợp với nên kinh tế hiện nay nhằm thúc đây tăng trưởng kinh tế bên vững. Với chuyên đề ty, nhóm tác giả phân tích thông tín mang lính lý thuyết, định tính, nhưng kết quả nhóm tác giả cũng dưa rõ được những kiển nghị có lợi cho việc cái cách chính sách tiển lương của nước ta.
Trong, chuyên để này, ngoài yêu tế Tiền hương làm trọng tâm, nhóm tác giả cũng rất coi trọng các yếu lố định tính tác động trực tiếp đến người lao động, là động lực khuyến khích họ trong công việc. Nguyễn Hữu Dũng, 2010. Chứnh sách Tiền lương: Thực trạng, vẫn dé va yan cau dit ra trong giai đoạn 2011 -2015. Viện Khoa học và Xã hội.
Với đề tài nghiên cứu này, tác giả rất quan tâm đến yêu tổ Tiên lương, tác giả nghiên cứu vẫn đề này trên phạm vi nên kinh tế thị trường, tác giả cho rằng Chính sách tiến lương là một Irong những nội dung quan trọng của thể chế kimh tế thị trường. Do đỏ hoản thiện chỉnh sách tiển lương sé gớp phần to lớn hoàn thiện thê chế kinh tế thì trường định hướng XHƠN ở nước 1a. Tuy nhiên, Chính sách tiền lương là vận dễ rất tổng hợp, có nhiều mới quan hệ chính trị, kinh tế - xã hội tương. tác chặt chẽ với nhau, liên quan đến vẫn để sở hữu, phan bổ nguồn lực, quan hệ giữa tích lũy và tiêu dung, phát triển nguồn nhân lực, an ainh xã hội., tác giá cũng cho rằng trong, kinh tế thị tưởng, chính sách tiền lương quốc gia cân phái tách bach giữa các khu vục: sản xuất kinh doanh (doanh nghiệp), hành chính nha mide và sự nghiệp cung cấp địch vụ công.
Kết quả nghiên cứu tác giã đạt được cfing rất rõ ràng, và phủ hợp với điều kiện nẻn kinh tế thị trường hiện nay, tác giả đã đưa ra 3 kiến nghị cơ bản cho Chính sách Tiền lueng đỏ lá (1) Tiên lương và thu nhập trả cho người lao động phải đâm bảo đủ sống; (2) Thục hiện nguyên tắc công bằng về phân phải tiển lương vả thu nhập trong doanh nghiệp (3) Phân phối tiễn lương vá thu nhập trong doanh nghiệp phải đãm bao mdi quan hé hai hoa loi ích giữa Nhà mác, người sử dụng lao động và người lao động, giữa ngắn hạn và đài hạn. Tuy nhiên, dit kết quả dạt được tác giả dã trình bảy rất rõ ràng nhưng dó chỉ dựa trên những nghiên. cứu, lý luận, cách nhìn nhận của riêng tác giả về vẫn để đỏ, không có sự kiểm định. giả thuyết, không có con số thể hiện mức độ số ảnh hướng mà tác giả đã để xuất Tắt cả những nghiên cứu của tác giá dựa trên sự lập luận.
Nguyễn Thế Truyền, 1996. VẲ các chỉ tiêu biểu hiện mức năng suất lao động và vận dụng phương pháp chỉ sã phân tích biển động mức Năng suất lao động trong doanh nghiệp công nghiệp ngành độc Luận án Tiến sĩ. Đại hoc Kinh ‡ễ TPHCM. Trong bài nghiên cửu này, tác giả đã nghiên cứu về Năng suất lao động và biến động múc năng suất lao động, trong đó tác giả nghiên cứu mức biển động tiên hương so với mức biến động năng suât lao động, tác giả dua vào số liện trên bảo cáo tài chính của Công ty để so sánh sự lăng giảm biến động của Quỹ Tiên lương, lác động đến sự tăng giảm biến động của NSLD qua các thời kỳ, từ đó tác giả nhận xét được mức độ ảnh hưởng và đưa ra các giải pháp tăng NSLD cho kỳ sau dựa vào yếu tố Tiên lương Tác giả cũng chỉ ra được khổng phải cứ tăng Quỹ tiễn lương thì sẽ tăng năng suất lao động và ngược lại, nỏ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
tác giả chưa nghiên cứu sự ânh hưởng của các yếu tổ định tĩnh thuộc về Tiền lương tác động đến con người, một yếu tổ tác động trực tiếp và ảnh hưởng to lớn đến NSLD, tác giá không sử dụng mô hình đẻ nghiên cứu sự ảnh hướng đó. Lương tối thiển và Năng suất lao động. Thổi báa Kinh té Sai Gon (http://www.vn/I 188} Luong-toi-thieu-va-nang-suat- lao-dong. Tác giả đá đưa ra những số liệu và tài liệu thứ cấp tác giả thu thập được dé khẳng định tắm quan trọng của Năng suất lao động, tác giả cũng, đưa ra những lập hiận liên quan đến Larơng tôi thiếu hiện nay ở Việt Nam, chính sách Luong ctia nha ước rất chú trọng nghiên cửu việc tầng múc lương tối thiểu, rhhưng thực Lễ việc tăng lương tối thiểu này chí làm tăng thêm Chỉ phí lương của Doanh nghiệp, mức tăng cho Người lao động không đang bao nhiêu, cùng với đó khi nhà nước ting lương lối thiểu, giá cả thị trường tăng theo, phân lương được tăng không thé bu dip được chủ phi tăng theo đó.
Mặt khác việc tăng Chi phí lương dó của Doanh nghiệp góp phân làm giám năng suất lao động, tốc độ tăng lương cao hơn tốc độ tăng ning suất lao động. Tác giả cũng dẫn chứng một nghiên cứu gần đây của TỔ chức Lao động Thế giới (11.O) cho thấy năng suất lao dộng của Việt Nam thuộc nhỏm thấp nhất châu Á - Thái Binh Dương, thập hơn Singapore gần 15 lân, thấp hơn Nhật 11 lâm và Hàn Quốc 10 lần. So với các nước láng giêng ASBAN có mức thụ nhập trung bình, năng suất lao động của Việt Kam vẫn có khoảng cách lớn, chỉ bằng mớt phân nằm Malaysia và hai phần năm Thái Lan, các nhà chức trách tại Việt Nam cũng đăng rất quan tâm đến kết quả này, quan Lâm đến tâm quan lrọng của yêu tổ Năng suất lao động trên nên kính tế, từ đó định hướng tập trưng nghiên cửu và phân tích sâu hơn dé mang lại hiệu quả tốt nhất ä. Nguyễn Thanh Phúc, 2012.
Lương phải là động lực phần đấu cho người lao dộng, Tạp chí Tuyên giáo, số 4 ngày 06/05/2012. Ta thầy đề tăng năng suât lao động, quan tâm đến yêu tổ con người hay Người tạo động là cực kỷ cần thiết. Trong bài viết này, tác giả đã rất đúng dẫn dé cập thẳng và khẳng, định '' Lương phải là động lực phấn đẫu cho người lao động” có như thể mới tăng được Năng suất lao động Tác giả cũng đề cập đến những chính sách tăng lương tối thiểu chung và lương tôi thiểu của nhà nước ta, sau 7 lần diễu chỉnh tăng lương tối thiểu khu vực hành chính sự nghiệp nhà nước vẫn tổn tại nghịch lý Tương tăng không theo kịp lốc độ trượi giá, lạm phái. Nếu theo quan điểm chỉ đạo cải cảch chế dộ, chính sách tiên lương để dội ngũ cán bộ, công chức yên tâm công, tác, cống hiển.
thì điều này vẫn còn ở phía trước. Tác giả đưa ra một số dẫn chứng, phát biểu có trọng lượng như phát biểu của Thứ trưởng Bộ Nội vụ Trần Anh Tuần thừa nhận: “Lương tăng nhưng mới chỉ trên danh nghĩa, clrra bù đắp được so với tốc độ lạm phát, tăng giá các mặt hàng tiêu đứng thiết yêu phục vụ nh cầu tái sản xuất sức lao động hàng ngày của đội ngũ công bộc của đâu” hay trích đẫn đưa ra nội dung trong tâm của Dé an Cai cach chính sách tiên lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người eö công giai đoạn 2012-2020 chuẩn bị trình hội nghị Trung wong lân thứ nấm, khóa XT “Tiên lương là thú nhập chủ yếu của người lao động, người lao dòng phải đỏ sống căn bản từ dóng lương; tiên lương phải gắn với nắng suất lao. động, hiệu quả công việc.