Chương 1: Giới thiệu đề tài. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Trong chương này, tác giả sẽ làm rõ lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, các vấn đề cần nghiên cứu đồng thời giới thiệu tổng quan về phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khi thực hiện đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận khoa học và các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về ảnh hưởng tập trung ngân hàng lên tỷ thất nghiệp. Trong chương này, tác giả sẽ tổng hợp cơ sở lý luận khoa học, những nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về tập trung ngân hàng tác động chi phí của các trung gian tài chính, khả tín dụng, sự hình thành và tăng trưởng của doanh nghiệp, thất bại ngân hàng và khủng hoảng hệ thống ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến tỷ lệ thất nghiệp.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Nội dung chính của chương này tác giả sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu, giải thích các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình, mô tả các đặc điểm của mô hình thực nghiệm, các giả định đặt ra để kiểm định và nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trong chương này, tác giả trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tập trung ngân hàng ảnh hưởng đến tỷ lệ thất nghiệp, mức độ ảnh hưởng ra sao, tác động như thế nào; đồng thời thảo luận các kết quả thực nghiệm nhận được. Chương 5: Kết luận.
Ở chương này, tác giả tổng kết lại các vấn đề nghiên cứu, kết luận lại kết quả thực nghiệm từ mô hình nghiên cứu, nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng mở rộng đề tài. Đồng thời nêu một số gợi ý cho các nhà hoạch định chính sách để có quyết định phù hợp giảm tỷ lệ thất nghiệp, ổn định kinh tế xã hội, tăng niềm tin của dân chúng vào các nhà lãnh đạo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA TẬP TRUNG NGÂN HÀNG LÊN THẤT NGHIỆP 2.1 Cở sở lý thuyết về ngân hàng 2.1 Tổng quan về ngân hang thương mại Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính đóng vai trò chu chuyển vốn giữa các thành phần kinh tế trong xã hội. Ngân hàng thương mại giao dịch trực tiếp với các tổ chức kinh tế và cá nhân để thực hiện nghiệp vụ nhận tiền gửi và sử dụng số vốn này thực hiện các nghiệp vụ cho vay, đầu tư và cung cấp đa dạng các phương tiện thanh toán, dịch vụ ngân hàng.
Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt. Chất liệu kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, là công cụ để nhà nước sử dụng trong quản lý kinh tế vĩ mô nên được kiểm soát rất chặt chẽ. Ngân hàng là lĩnh vực nhạy cảm, liên quan trực tiếp mọi ngành nghề và mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội, do đó, cần phải có sự thận trọng trong điều hành để tránh những thiệt hại cho nền kinh tế. Chức năng của NHTM - Trung gian tín dụng: Là trung gian chu chuyển vốn từ thành phần kinh tế thừa vốn đến các thành phần kinh tế thiếu vốn, NHTM sẽ huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng, từ đó đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh và vốn đầu tư cho các ngành kinh tế và nhu cầu vốn tiêu dùng của xã hội.
- Trung gian thanh toán: NHTM đứng ra làm trung gian thanh toán, thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho các giao dịch thương mại thông qua việc phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử,… - Cung ứng dịch vụ ngân hàng: NHTM cung cấp các dịch vụ ngân hàng để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng như dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, dịch vụ ủy thác và đại lý, bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh chứng khoán,… TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại Dựa trên các chức năng của ngân hàng, các hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM gồm có hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn và hoạt động cung cấp dịch vụ ngân hàng. Hoạt động huy động vốn Huy động vốn là hoạt động tiền đề để tạo ra nguồn vốn hoạt động kinh doanh của ngân hàng. NHTM huy động vốn dưới các hình thức: - Nhận tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi giao dịch: trong đó tiền gửi tiết kiệm của dân cư chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn huy động của ngân hàng. NHTM cũng huy động các khoản tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức.
Ngoài ra các khoản tiền gửi thanh toán với chi phí huy động thấp nhưng biến động mạnh, phức tạp và nhiều rủi ro cũng là nguồn vốn huy động thường xuyên của NHTM. - Phát hành chứng khoán: NHTM có thể huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thông qua nghiệp vụ phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá để da dạng hóa hình thức huy động vốn và đáp ứng các nhu cầu nắm giữa tài sản đa dạng của khách hàng. - Vay vốn từ các NHTM khác: Khi thiếu hụt thanh khoản tạm thời, NHTM có thể vay vốn tại các NHTM khác trên thị trường liên ngân hàng hoặc vay ngắn hạn tại ngân hàng trung ương để bổ sung cho thiếu hụt tạm thời về vốn. Hoạt động sử dụng vốn Hoạt động sử dụng vốn của NHTM giúp ngân hàng có nguồn thu để bù đắp chi phí, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng gồm có hoạt động cấp tín dụng và hoạt động đầu tư. Hoạt động cấp tín dụng Hoạt động cấp tín dụng là hoạt động cơ bản, truyền thống của NHTM, mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng. NHTM cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức: - Cho vay trực tiếp: bao gồm cho vay ngắn, trung và dài hạn, cho vay có bảo đảm, cho vay tín chấp, cho vay sản xuất kinh doanh và cho vay tiêu dùng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 - Chiết khấu giấy tờ có giá: ngân hàng sẽ chiết khấu cho người vay một số tiền nhỏ hơn mệnh giá của giấy tờ có giá chưa đến hạn, thay vào đó, người vay sẽ tạm thời chuyển nhượng quyền sở hữu chứng từ có giá cho ngân hàng. - Bao thanh toán: ngân hàng đứng ra mua nợ trên cơ sở hóa đơn, chứng từ của người bán hàng và người mua phải thanh toán toàn bộ số tiền cho ngân hàng khi đến hạn.
- Cho thuê tài chính: ngân hàng mua máy móc, thiết bị và cho thuê máy móc, thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê. - Bảo lãnh: là hình thức tín dụng bằng chữ ký, nhờ chứng thư bảo lãnh của ngân hàng mà người được bảo lãnh có thể ký kết và thực hiện cách hợp đồng kinh tế một cách thuận lợi. Hoạt động đầu tư NHTM thực hiện các hoạt động đầu tư để đa dạng hóa nguồn thu nhập và giảm thiểu rủi ro, thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp: - Đầu tư gián tiếp: NHTM sẽ tham gia mua bán các chứng khoán do chính phủ và các công ty phát hành trên thị trường chứng khoán. - Đầu tư trực tiếp: NHTM trực tiếp góp vốn vào các doanh nghiệp, công ty.
Hoạt động cung cấp dịch vụ Các dịch vụ ngân hàng cung cấp ngày càng đa dạng và đem lại nguồn thu nhập không nhỏ cho các NHTM hiện nay. Các dịch vụ ngân hàng bao gồm các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, dịch vụ ủy thác, đại lý, kinh doanh ngoại hối, kinh doanh chứng khoán,… Ngoài ra, trong thời đại phát triển của công nghệ thông tin, các dịch vụ mới như dịch vụ thẻ, InternetBanking, SMS Banking,…cũng giúp khách hàng dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng hơn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Tổng quan về tập trung ngân hàng Theo nghiên cứu của Sathye (2002), của Athanasoglou và các cộng sự (2005): Tập trung đề cập đến mức độ kiểm soát hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp lớn. Tăng mức độ tập trung có thể là do sự bành trướng đáng kể của các công ty chi phối hoặc giảm kích thước đáng kể của công ty không chi phối.
Ngược lại, giảm mức độ tập trung có thể là do giảm đáng kể kích thước của các công ty chi phối hoặc mở rộng kích thước đáng kể của công ty không chi phối. Có rất nhiều phương pháp để đo tập trung ngân hàng. Theo Rose (1999: 687): "mức độ tập trung trong một thị trường được đo bằng tỷ lệ tài sản hoặc các khoản tiền gửi được kiểm soát bởi các ngân hàng lớn nhất phục vụ thị trường". Còn theo Demirguc-Kunt và Levine (2000): biện pháp đo tập trung ngân hàng thông qua phần vốn vay ngân hàng kiểm soát bởi ba ngân hàng lớn nhất trong hệ thống ngân hàng.
Mức độ mà cơ cấu thị trường ngân hàng liên quan các vấn đề về cạnh tranh và hiệu suất là một chủ đề nóng luôn được tranh luận sôi nổi. Các kết quả của nhiều nghiên cứu đã dẫn đến sự tồn tại của nhiều lý thuyết tập trung ngân hàng. Chủ yếu các lý thuyết này có thể được phân loại thành hai loại: các lý thuyết ủng hộ tập trung (pro-concentration) và thuyết không ủng hộ tập trung (pro-deconcentration).1 Thuyết Pro-Concentration: Những người ủng hộ tập trung ngân hàng cho rằng nền kinh tế của quy mô sáp nhập và mua lại ngân hàng (tức mức độ tập trung tăng) đi liền với những cải tiến hiệu quả (Demirguc-Kunt và Levine, 2000: 1). Để củng cố quan điểm này, Boyd và Runkle (1993) đã khảo sát 122 ngân hàng Mỹ và tìm thấy một mối quan hệ nghịch giữa kích thước và sự biến động của lãi tài sản.
Tuy nhiên, những kết quả này được dựa trên các tình huống hợp nhất là tự nguyện. Một số lập luận lý thuyết và so sánh các quốc gia cho rằng ngân hàng ít tập trung hơn khi có nhiều ngân hàng nhỏ dễ bị khủng hoảng tài chính hơn là một lĩnh vực ngân hàng tập trung với một vài ngân hàng lớn (Allen và Gale, 2000; và Beck, Demirgüç-Kunt và Levine, 2004 ). Một nghiên cứu được thực hiện bởi Cục Nghiên TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 cứu Kinh tế Quốc gia Hoa Kỳ năm 2003 thấy rằng có một sự tương quan ngược chiều đáng kể giữa kích thước ngân hàng và thất bại ngân hàng, khi kích thước của các ngân hàng tăng lên, số lượng thất bại ngân hàng giảm, tập trung cao dẫn đến sự ổn định hơn trong ngành ngân hàng.