đặt vấn đề nó đã kế thừa và bảo vệ những tinh hoa và loại bỏ những cặn bã trong di sản dân tộc như thế nào; đồng thời đã cỏ đóng góp phát triển ra sao cho những tinh hoa đỏ. Chẳng hạn, khi giải mã tác phẩm “Tiếng hát sông Hương” của Tố Hữu phải nêu cho được nó đã kế thừa và bảo vệ truyền thống chân thực trong hình tượng ca kĩ của văn thơ cổ điển. Đó là một kiếp người được mô tả với nỗi khổ đau “toàn thân” và “suốt đời” (“Long Thành cầm giả ca” và phần vào “Truyện Kiều" của Tố Như). Truyền thống này có được nối tiếp qua phong trào Thơ mới như “Đoạn trưởng” (Thái Can), “Oan nghiệp” (Nguyễn Bính).
“Tiếng hát sông Hương” cũng kế thừa và bảo vệ truyền thống nhân đạo của những thi sĩ cổ điển khi họ viết về đề tài này. Đó là lòng đồng tình vô tư và gần như vị tha đối với kiếp người buôn phấn bản hương đó. Đồng thời tác phẩm còn sáng tạo ra những giá trị mới. Đó là tiếng hát về một niềm tin ở sức cải tạo mãnh liệt của giai cấp vô sản, về một viễn cảnh mà ở trong đó có cô gái giang hồ xứ Huế đã được sống một cuộc đời “Thơm như hương nhụy hoa lài/ Sạch như nước suối ban mai giữa rừng".
Đó cũng là điều mà trước kia Tố Như chưa có thể vạch ra cho nàng Kiều, hoặc cho cô gái đánh đàn ở đất Long Thành. Biểu tượng được coi là phần hồn, là tinh hoa của tác phẩm. Chính vì vậy khi giải mã biểu tượng, phải xem xét biểu tượng trong mối tương quan với văn hóa, văn học dân gian, mới có thể tháo gỡ, giải mã biểu tượng trong tác phẩm một cách thấu đáo. Tại sao Nguyễn Duy gửi gắm con người, dân tộc, đất nước Việt Nam qua biểu tượng cây tre trong bài thơ làm nên tên tuổi “Tre Việt Nam”.
Điều đó xuất phát từ yếu tố truyền thống, xây dựng biểu tượng trong mối tương quan với truyền thống. Cây tre đã gắn bỏ với bao thăng trầm của lịch sử nước nhà. Tại sao đứa trẻ Phù Đổng lớn nhanh như thổi, vươn mình đứng dậy chống giặc Ân, cưỡi ngựa gắt lại chọn dùng lũy tre ngà mọc bao đời của người Việt làm vũ khí đánh đuổi những người xâm lấn nước mình, để đến nay mỗi khi nhắc đến người ta không thể quên được hình ảnh người anh hùng dân tộc luôn gắn liền với lũy tre ngà, biểu tượng của sức mạnh thần kỳ bảo vệ cộng đồng? Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, các lũy tre xanh đã trở thành “thành trì xanh” vững vàng, kiên cố, chống ngoại xâm, chống thiên tai, và chống lại cả sự đồng hóa mang sức nặng mấy ngàn năm từ phương Bắc xa xôi. Tre là vũ khí và thật sự trở thành vũ khí sắc bén, miệt mài nhất trong từng trang sử vẻ vang của dân tộc.
Không thể quên được trận Bạch Đằng của Ngô Quyền đánh tan tác quân Nam Hán nằm nào, một trong những vết son vẻ vang nhất của lịch sử hào hùng Việt Nam. 11 Phương Lựu, Lý luận văn học, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005, tr. 15 Trong sử Việt có kể rằng Nguyễn Thiện Thuật, một chí sĩ cách mạng, người đã chống lại đạn mạc của Pháp bằng lũy tre dày đặc,… Kế thừa và phát huy thủ pháp nghệ thuật thuộc hệ mỹ cảm truyền thống, bài thơ Tre Việt Nam của Nguyễn Duy đã vượt thoát khỏi quan niệm văn chương trung đại và xác lập một tư tưởng nghệ thuật hiện đại. Chọn hình tượng cây tre Việt Nam làm đối tượng phản ảnh, qua đó khái quát nên những phẩm chất tốt đẹp, quý báu của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam được chắt lọc, kết tinh trong suốt chiều dài lịch sử là một phát hiện độc đáo, một đặc trưng nghệ thuật của thi tưởng Nguyễn Duy.
Không thể phủ nhận tầm quan trọng của yếu tố văn hóa truyền thống, đó là ngữ cảnh đã tạo nên những biểu tượng nghệ thuật. Yếu tố truyền thống không chỉ thể hiện trong giá trị hay ý nghĩa cụ thể của một biểu tượng, mà còn là sợi dây liên kết sâu sắc giữa cộng đồng trong một giai đoạn lịch sử cụ thể đó. Trong quá trình tiếp nhận biểu tượng nghệ thuật, không thể phớt lờ qua yếu tố dung môi này. Chính yếu tố này làm nổi bật giá trị độc đáo của biểu tượng nghệ thuật - nó không chỉ là thước đo thời gian và lịch sử, mà còn là nền tảng của sự đa chiều trong quan điểm và cảm nhận của con người tại một thời điểm cụ thể.
Biểu tượng nghệ thuật, từ đó, trở thành nền móng xây dựng tính đa chiều và là cơ sở cho sự hiểu biết đối với nó. Tuy nhiên, song song với những ý nghĩa truyền thống, biểu tượng nghệ thuật luôn có xu hướng tiến lên, cách tân hoặc bổ sung ý nghĩa cho những biểu tượng truyền thống, hoặc thậm chí tạo ra những biểu tượng hoàn toàn mới. Điều này là sự phản ánh của sự đổi mới và sáng tạo không ngừng, làm phong phú và làm mới lại ý nghĩa của nghệ thuật trong bối cảnh thời đại. Chẳng hạn, trong ca dao, con thuyền thưởng là biểu tượng cho người con trai, gắn với sự chuyển động, tìm tòi, khi vào thơ Xuân Quỳnh, nó lại gắn với người con gái: “Nếu từ giã thuyền rồi Biển chỉ còn sóng giỏ/ Nếu phải cách xa em/ Anh chỉ còn bão tổ".
Trong biểu tượng nghệ thuật thưởng xuyên đan xen giữa yếu tố truyền thống và yếu tố cách tân. Chính điều đó khiến cho biểu tượng nghệ thuật một mặt dễ thức dậy những nỗi niềm từ ngàn đời trong tâm thức của độc giả, mặt khác lại tạo nên cảm hứng về những điều mới lạ. Biểu tượng nghệ thuật có khả năng tái sinh, có thể chuyển vào trong nó những nghĩa mới, mang dấu ấn cá nhân và dấu ấn của thời đại. Biểu tượng nghệ thuật luôn luôn đổi mới, mặc dù luôn có xu hưởng lưu giữ dấu ấn của truyền thống, dấu ấn của cái chung, của lịch sử văn hoá.
nhưng biểu tượng nghệ thuật không bao giờ xa rời việc thể hiện dấu ấn cá nhân của nhà văn. 16 “Nói mối quan hệ với di sản dân tộc là tất yểu, tất nhiên phải được hiểu theo nghĩa rộng từ các mặt ngôn ngữ, thể loại đến tâm hồn dân tộc. Bởi vì không có tác phẩm chân chính nào hoàn toàn thoát ly được những mặt đỏ. Bởi vì trước khi trở thành nhà văn, anh đã là một công dân của một đất nước nhất định.
Từ bé đã nghe mẹ ru những khúc dân ca, nghe bà kể những chuyện cổ tích, đến trường đã nghe giảng khả nhiều về những tác phẩm của dân tộc”12 Như vậy, khi tiếp nhận biểu tượng nghệ thuật, ta không được “tách rời bè đệm hiện sinh của nó”, không được tách rời “vầng hào quang nơi nó nảy sinh". Vầng hào quang mà biểu tượng nghệ thuật nảy sinh có thể hiểu ở nhiều cấp độ. Trước hết phải đặt biểu tượng trong bối cảnh thời đại, trong nền văn hóa mà nó này sinh. Bởi vi, “quá trình tạo nghĩa của mỗi biểu tượng thường có lịch sử lâu đời hàng vạn năm, gắn liền với quá trình hình thành quan niệm về thế giới của con người cổ xưa”13.
Nhà văn thường sử dụng những nét nghĩa này như một phương tiện để cộng hưởng với người đọc. Nếu không nắm được yếu tố truyền thống trong mỗi mã nghệ thuật thì rất khó khăn trong việc tiếp cận tác phẩm nghệ thuật nói chung, biểu tượng nghệ thuật nói riêng. Đặt trong bối cảnh nảy, chúng ta sẽ tìm được ý thức chung của xã hội trong mỗi biểu tượng. Tuy nhiên, biểu tượng nghệ thuật cũng thường chứa đựng những ý tứ kín đảo, thâm trầm, thậm chí bí hiểm của nhà văn, cho nên, khi tìm hiểu biểu tượng chúng ta phải đặt nó trong một cái nền khác nữa: chính thể tác phẩm, toàn bộ thể giới nghệ thuật của nhà văn.
Thời đại thì có thể thay đổi, nhiều khi trở thành quá khứ khó nhận biết, khó tái hiện một cách toàn vẹn, nhưng văn bản tác phẩm, cấu trúc khách quan của tác phẩm và toàn bộ thế giới nghệ thuật của nhà văn thì không đổi, vì vậy, nó trở thành cơ sở quan trọng để giải mã biểu tượng. Nhìn chung, chúng ta vận dụng toàn bộ tâm hồn, tình cảm, cả tư duy hình tượng lẫn tư duy lôgic để tìm hiểu biểu tượng, xét nó trong nhiều mối quan hệ, chính trong các mối quan hệ, biểu tượng hiện lên như một tín hiệu nhiều ý nghĩa. Lí thuyết nghiên cứu về sự duy trì và biến đổi của biểu tượng trong văn hóa và văn học Nghiên cứu về sự duy trì và biến đổi của biểu tượng trong văn hóa là một lĩnh vực nghiên cứu đa ngành, đòi hỏi sự chuyên sâu về văn hóa, nghệ thuật, xã hội, tâm lí học, ngôn ngữ học, và công nghệ. Các nhà nghiên cứu có thể theo đuổi nhiều hướng khác nhau trong lĩnh vực này, mang lại cái nhìn đa chiều về vai trò và ảnh hưởng của biểu tượng trong xã hội.
Nghiên cứu lịch sử biểu tượng giúp chúng ta hiểu rõ nguồn gốc và sự phát triển của chúng, đồng thời phân tích sự biến đổi của chúng qua thời gian và dưới ảnh hưởng của các yếu tố môi trường, văn hóa và nghệ thuật. Trong lĩnh vực nghệ thuật và biểu tượng, sự tập trung có 12 Phương Lựu, Lý luận văn học, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005, tr. 13 Lê Bá Hán, Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb Giáo dục, HCM, tr.25 17 thể được đặt vào cách các yếu tố nghệ thuật như màu sắc, hình dạng và kỹ thuật tác động đến việc tạo ra và duy trì biểu tượng. Tâm lí học và ngôn ngữ học mở ra cánh cửa để hiểu rõ cách con người tương tác và hiểu biểu tượng từ góc độ tâm lí học và ngôn ngữ.
Xã hội học đưa ra cái nhìn về vai trò của biểu tượng trong xã hội và cộng đồng, cũng như cách chúng thể hiện giá trị, quy tắc, và niềm tin của xã hội. Nghiên cứu về phương tiện truyền thông và biểu tượng có thể đặt ra câu hỏi về cách các phương tiện này hình thành và duy trì biểu tượng. Mối quan hệ giữa các biểu tượng từ các nền văn hóa khác nhau, cũng như sự tương tác của chúng trong môi trường đa văn hóa, là một khía cạnh quan trọng khác. Cuối cùng, nghiên cứu về công nghệ và biểu tượng đặt ra vấn đề về cách công nghệ hiện đại định hình và thay đổi biểu tượng, đặc biệt là trong bối cảnh Internet và các phương tiện truyền thông số.