Chương 1 BIỂU TƢỢNG VÀ Ý NGHĨA MỸ HỌC - NGHỆ THUẬT CỦA BIỂU TƢỢNG 1. Khái niệm biểu tƣợng 1. Biểu tượng và sáng tạo nghệ thuật Biểu tượng là một thuật ngữ đã và đang tiếp tục được nghiên cứu trên toàn thế giới, trong nhiều ngành khoa học khác nhau. Bắt nguồn từ Hy Lạp, thuật ngữ biểu tượng (Symbolon) có nghĩa là kí hiệu (Sign), dấu hiệu, lời nói, tín hiệu, triệu trứng, hợp đồng … Trong tiếng Hán: Biểu có nghĩa là “bày ra”, “trình bày”, “dấu hiệu”, để người ta dễ nhận biết một điều gì đó.
Tượng có nghĩa là “hình tượng”. Biểu tượng là một hình tượng nào đó được phô bày ra trở thành một dấu hiệu, kí hiệu tượng trưng, nhằm diễn đạt một ý nghĩa mang tính trừu tượng. Theo từ điển Tiếng Việt (GS. Hoàng Phê chủ biên): “Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng, là hình ảnh của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác dụng của sự vật vào giác quan đã chấm dứt” [ 58; 19].
Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới cho rằng: “Mọi nền văn hóa đều có thể xem như một tập hợp các hệ thống biểu tượng trong đó xếp hàng đầu là ngôn ngữ, quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo…” [33; 23]. Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng theo nghĩa rộng biểu tượng thể hiện “đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng văn học nghệ thuật” và theo nghĩa hẹp, biểu tượng là “một phương thức chuyển mã của lời nói” đặt bên cạnh ẩn dụ, hoán dụ hoặc là một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt “có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lí sâu xa về con người và cuộc đời” [70; 23]. Trong đời sống, biểu tượng được dùng với ý nghĩa không nhất quán. Nó có thể được hiểu là một hình ảnh tượng trưng mang tính ổn định (chim bồ câu- biểu tượng cho hòa bình); cũng có thể được hiểu là một lôgô, một kí hiệu đã chuyển thành hình họa được thiết kế mang ý nghĩa cố định (Trâu vàng- là biểu tượng của Seagames 22 9 được tổ chức tại Việt Nam); được dùng chỉ dấu hiệu đặc trưng, một cảnh quan thiên nhiên hoặc một công trình kiến trúc nổi bật của một khu vực, quốc gia (tượng Nữ thần tự do của Mỹ, tháp Eiffel của Pháp, Tháp Rùa, chùa Một cột của Hà Nội- Việt Nam); thậm chí biểu tượng được coi là mật mã của sự bí ẩn… Những nhận thức khác nhau này về biểu tượng khiến cho khái niệm này càng trở nên phức tạp.
Vì vậy, trước khi đi vào nghiên cứu biểu tượng trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, chúng tôi tìm hiểu nội hàm của nó trong một số ngành khoa học. Dưới góc độ triết học, biểu tượng được hiểu là “hình ảnh cảm tính cụ thể về những hình tượng của thế giới bên ngoài. Biểu tượng cùng với cảm giác, tri giác tạo nên nhận thức cảm tính”. Như vậy, hiểu theo nghĩa triết học, tất cả các sự vật trong thế giới khách quan khi được con người tiếp nhận đều sẽ trở thành biểu tượng.
Dưới góc độ tâm lí, biểu tượng là một phạm trù tâm lí gắn liền với trí tưởng tượng, là hình thức cao nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính trực quan. Biểu tượng vừa là kết quả của hoạt động nhận thức, vừa là phương tiện để biểu đạt của hoạt động sáng tạo nghệ thuật, là một “mật mã” khó cắt nghĩa. Nhà phân tâm học C. Jung cho rằng: “Biểu tượng không phải là một phúng dụ, cũng chẳng phải một dấu hiệu đơn giản, mà đúng hơn là một hình ảnh thích hợp để chỉ ra đúng hơn cả cái bản chất, ta mơ hồ nghi hoặc của tâm linh”.
Trong văn hóa, biểu tượng là một đối tượng được nghiên cứu cơ bản bởi nó là đầu mối để xác định đặc trưng của nền văn hóa cũng như mối quan hệ của các nền văn hóa khác nhau. Biểu tượng trong văn hóa được xem là một yếu tố động, luôn biến đổi theo sự biến đổi của đời sống xã hội. Nguyễn Văn Hậu cho rằng: “Biểu tượng là một hình thái ngôn ngữ - ký hiệu tượng trưng của văn hóa. Nó được sáng tạo nhờ vào năng lực “tượng trưng hóa” của con người, theo phương thức dùng hình ảnh này để bày tỏ ý nghĩa kia nhằm để nhận thức và khám phá ra một giá trị trừu tượng nào đó.
Biểu tượng được xem là “tế bào” của văn hóa và là hạt nhân “di truyền xã hội” đầu tiên của nhân loại. Nó quy định mọi hành vi ứng xử và giao tiếp của con người đồng thời liên kết họ lại thành một cộng đồng riêng biệt”. Ông khẳng định những quan niệm hay định nghĩa nêu trên đều gắn biểu tượng với sự thực hiện “khiếu năng tinh thần” đặc biệt chỉ có ở loài người - năng lực 10 tượng trưng hóa. Biểu tượng được hiểu là một hiện tượng vật thể, nhờ thể hiện trong đó một nội dung cụ thể - cảm tính mà hiện tượng này thể hiện, trình ra những ý nghĩa, những giá trị trừu xuất nào đó.
Và do đó, ông đã đưa ra quan điểm riêng của mình về biểu tượng như trên. Quan niệm của ông tuy nhiên chỉ dừng lại ở góc độ gắn với văn hóa, đây là một quan điểm đúng đắn nhưng chưa đầy đủ nếu như ta tiến hành nghiên cứu và áp dụng vào việc nghiên cứu văn học. Ở phương diện ngôn ngữ, “Biểu tượng là một ký hiệu tùy thuộc vào đối tượng mà nó biểu hiện do một luật lệ thông thường là một sự liên tưởng chung”. Biểu tượng vì vậy là một sự vật có hình ảnh mang tính chất thông điệp được dùng để gợi ra một cái ở bên ngoài theo một quan hệ ước lệ.
Biểu tượng là sự thống nhất giữa cái biểu đạt (hình thức tồn tại) và cái được biểu đạt (giá trị nội dung). Cái biểu đạt khi tác động lên tư tưởng, cảm xúc, nhận thức của con người sẽ gợi lên một số nội dung ý nghĩa nào đó (gợi cái được biểu đạt). Trong văn học, biểu tượng là phương tiện tạo hình và biểu đạt có tính đa nghĩa. Mỗi nhà văn khi sáng tạo đồng thời lại là một nhà tư tưởng.
Nhà văn thực hiện việc mã hóa ngôn từ nhằm tạo ra một thế giới hình tượng in đậm cảm quan cá nhân, nói rộng hơn là phong cách của chủ thể sáng tạo. Những hình tượng nghệ thuật có sức sống sẽ vượt lên trên ý nghĩa biểu đạt và làm thành các biểu tượng nghệ thuật độc đáo, đa nghĩa. Trong tác phẩm, biểu tượng chính là hình tượng được hiểu ở bình diện kí hiệu và là kí hiệu chứa đựng tính đa nghĩa của hình tượng. Trở thành biểu tượng, hình ảnh sẽ có chiều sâu, tầng ý nghĩa mới và có tính khái quát.
Việc nghiên cứu, sáng tạo ra những biểu tượng nghệ thuật sẽ mang tới cái nhìn sâu sắc, khắc phục sự đơn giản về hình ảnh được sao chép từ cuộc đời thật. Biểu tượng trong văn học mang tính đa nghĩa nên cần phải phát huy nhận thức cùng với sự liên tưởng. Từ quá trình nghiên cứu tìm hiểu,kế thừa quan điểm và kết quả nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi sơ bộ đưa ra quan niệm về biểu tượng như sau: Biểu tượng là một sự vật có hình ảnh mang tính chất thông điệp được dùng để gợi ra một cái ở bên ngoài, theo một quan hệ ước lệ. Quan hệ liên tưởng, tưởng tượng và tính ước lệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong biểu tượng là cơ sở để tạo 11 nên tính đa nghĩa cho biểu tượng.
Biểu tượng mang tính khái quát về đối tượng, là hình ảnh tượng trưng được phô bày ra khiến người ta cảm nhận một giá trị bên trong hay thế giới ý nghĩa của nó. Chính vì thế, biểu tượng phản ánh được đặc trưng của các sự vật, hiện tượng. Giải mã biểu tượng trong tác phẩm văn học không thể dựa trên một nhận thức nhất định. Cần mở rộng nó theo chiều rộng đồng đại và khám phá nó ở chiều dài lịch sử, gắn kết với cái nhìn văn hóa, không thể bỏ qua đặc trưng phong cách tác giả, đồng thời cần lưu ý ngữ cảnh nảy sinh, bao chứa nó.
Trong hành trình sáng tạo nghệ thuật, nghệ sĩ là những người khao khát khám phá và thể hiện những ấn tượng độc đáo, tư duy sâu sắc, cảm xúc mãnh liệt, tưởng tượng phong phú về cuộc sống và con người. Con đường để người nghệ sĩ thực hiện tư duy nghệ thuật của chính mình là thông qua hình tượng nghệ thuật được xây dựng bằng ngôn ngữ nghệ thuật. Trước một hiện tượng đời sống, một khám phá về bản chất và quy luật của cuộc đời, không chỉ những cung bậc cảm xúc rung động trong trái tim mà tâm hồn, trí tuệ của người nghệ sĩ sẽ nảy sinh những tưởng tượng, liên tưởng để tư tưởng, cảm xúc được cụ thể hóa, hữu hình hóa. Nhờ đó, hiện thực đời sống hiện ra trong diện mạo của một hình tượng, một thế giới sống động, nhiều tầng nghĩa… Và những hình tượng nghệ thuật ra đời có sức sống mạnh mẽ vượt lên trên ý nghĩa biểu đạt, trở thành các biểu tượng nghệ thuật đa nghĩa.
Có thể nói, biểu tượng giúp nhà sáng tạo nghệ thuật cô đọng cảm xúc, tư tưởng, tìm cho tư duy nghệ thuật của mình một hình tượng sống động, hữu hình, mở ra con đường hữu hiệu nhất để chuyển tải, gửi gắm những khám phá, lí giải sâu sắc về cuộc sống con người. Biểu tượng bước vào những văn bản cụ thể từ ngôn ngữ cho nên biểu tượng mang tính đa nghĩa rõ rệt. Biểu tượng phản ánh được những vấn đề thuộc bản chất của thế giới, quy luật của cuộc đời mở ra những chiều sâu hơn bản thân hiện tượng và hiện thực được phản ánh. Chính vì vậy mà không thể giải mã biểu tượng bằng nỗ lực của lí trí đơn thuần, nó đòi hỏi sự xâm nhập, liên tưởng.
Với nhu cầu khái quát, nhận thức, biểu hiện cuộc sống, văn học nghệ thuật tự 12 bản thân nó đã mang tính biểu tượng và đòi hỏi người cầm bút lẫn người thưởng thức phải tư duy bằng biểu tượng. Vì thế, tự bản chất của nghệ thuật ngôn từ đã có quan hệ gần gũi, gắn bó với biểu tượng. Biểu tượng nghệ thuật mang những đặc trưng cơ bản của nghệ thuật ngôn từ như tính gợi cảm, hàm súc…, mặt khác biểu tượng lại chứa đựng những khả năng hòa nhập với hồi ức, hình ảnh cấu thành trong tiềm thức mỗi người.