Chương 1: ĐỀ TÀI CƠ BẢN TRONG SÁNG TÁC CỦA CÁC NỮ TÁC GIẢ VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI THẾ KỈ XVIII - XIX Các nữ tác gia văn học trung đại Việt Nam nói chung và các nữ tác gia văn học Việt Nam thế kỉ XVIII - XIX nói riêng có nguồn gốc xuất thân chủ yếu thuộc giai tầng trí thức quan lại, cung phi của vua hay những bà hoàng hậu, những ngƣời thuộc tầng lớp cao quý. “Có thể kể đến nhƣ Đoàn Thị Điểm là con của Đoàn Doãn Nghi một ngƣời từng dạy học ở nhiều nơi, học trò của ông nhiều ngƣời đỗ đạt cao và ông đƣợc lƣu tên trong tấm bia dựng ở quê nhà. Nữ sĩ thƣờng đƣợc học với cha của mình. Còn bà huyện Thanh Quan Nguyễn Thị Hinh là vợ của quan huyện Thanh Quan không chỉ có tài làm thơ mà có cả tài “cai trị”.
Nguyễn Trinh Thuận hiệu là Mai Am là con gái thứ 25 của vua Minh Mạng với bà Thục tần Nguyễn Khắc Thị Bửu, con gái quan Tƣ không Nguyễn Khắc Thiệu. Nguyễn Tĩnh Hòa hiệu là Huệ Phố là con gái thứ 34 của vua Minh Mạng thứ 10 (1829) là em út trong ba bà công chúa hay thơ (Nguyệt Đình, Mai Am). Nguyễn Thị Nhƣợc Bích có cha là Nguyễn Nhƣợc Sơn từng làm quan đến chức Bố chánh tỉnh Thanh Hóa, lớn lên đƣợc biểu tiến vào cung làm vợ vua Tự Đức, nhờ có học thức nên Nhƣợc Bích đƣợc Tự Đức yêu trọng. Bà lần lƣợt đƣợc phong các chức: Tài nhân (1850), Mĩ nhân (1860) rồi Lễ tần (đứng hàng thứ hai sau bậc phi), đặc biệt đƣợc cử làm Bí thƣ (thƣ kí) riêng cho bà Từ Dụ là mẹ của Tự Đức và sau đó còn tham gia giảng dạy các con nuôi của vua”.
29-688] Với nguồn gốc xuất thân cao quý nhƣ vậy thì các nữ sĩ mới có điều kiện để sáng tác các tác phẩm của mình. Trong giai đoạn trung đại, hiếm có các sáng tác của các nữ tác giả bình dân, xuất thân thƣờng dân hay không có học thức bởi lẽ do điều kiện và các quy tắc hà khắc của xã hội xƣa, những ngƣời phụ nữ bình thƣờng hầu nhƣ không đƣợc đi học và giá trị của họ không 10 download by : skknchat@gmail.com đƣợc xem trọng ở việc học hành mà việc học tập xuất xử, sáng tác thơ văn dƣờng nhƣ đƣợc mặc định là sự nghiệp của giới nam. Do vậy mà trong nhân dân không thấy có sự hiện diện sáng tác của các tác giả nữ. Họ không có điều kiện học tập, không đƣợc chú trọng để học tập.
Đó là lý do dễ hiểu vì sao chúng ta có thể điểm diện hết các gƣơng mặt nữ tác giả trong một thời gian dài nhƣ vậy. Chính nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội của các nữ tác giả cũng ảnh hƣởng một phần đến việc lựa chọn và sáng tác các tác phẩm theo các đề tài, chủ đề trong các sáng tác của mình. Bao trùm lên toàn bộ sáng tác của các nữ tác giả phải kể đến đề tài lớn đầu tiên là đề tài về thiên nhiên. Đề tài thiên nhiên trong sáng tác của các nữ tác giả văn học Việt Nam trung đại thế kỉ XVIII – XIX Đại thi hào Nguyễn Du trong tuyệt tác Truyện Kiều đã từng viết về mùa xuân trong tiết thanh minh: Ngày xuân con én đƣa thoi Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mƣơi Cỏ non xanh rợn chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.84] Thiên nhiên là chủ đề miên viễn và không thể thiếu trong mỗi nền văn học.
Nó gắn bó khăng khít với con ngƣời, bao bọc chở che cho con ngƣời, là môi trƣờng sống hài hoà với con ngƣời. Thiên nhiên và con ngƣời tác động qua lại lẫn nhau, ảnh hƣởng lên nhau. Con ngƣời sống dựa và thiên nhiên, thiên nhiên nhờ có con ngƣời mà phát triển, đổi thay. Trong cuộc sống con ngƣời, thiên nhiên đóng một vai trò vô cùng quan trọng và chính vì thế nên thiên nhiên đã trở thành chủ đề bất tận của văn chƣơng.
Nhƣng nếu nhƣ trong sáng tác của các tác giả nam miêu tả thiên nhiên là cái cớ để bộc lộ cái chí của mình, thể hiện khát vọng kinh bang tế thế hoặc để thể hiện ý dụng ý nghệ 11 download by : skknchat@gmail.com thuật làm nền cho nhân vật xuất hiện thì thiên nhiên trong thơ các nữ tác giả lại rất khác. Thiên nhiên trong sáng tác của các tác giả nữ thấm đẫm cái tình của ngƣời phụ nữ. Thiên nhiên hay chính là tâm trạng của ngƣời phụ nữ đƣợc gửi vào thiên nhiên. Thi sĩ Hồ Xuân Hƣơng khi viết về đề tài này đầy phong phú và mới lạ.
Trong thơ Hồ Xuân Hƣơng là những cảnh vật tràn đầy sức sống, vô cùng tƣơi tắn và mãnh liệt nhƣ chính con ngƣời bà. Con ngƣời Xuân Hƣơng không phải là ngƣời ƣa những thứ mờ nhạt, đìu hiu dễ khiến cho ngƣời ta cảm nhận về sự buồn bã, cô đơn, tối tăm của cuộc đời. Thiên nhiên trong thơ Xuân Hƣơng không phải là thiên nhiên vô tri vô giác mà ở đó luôn căng tràn một thứ nhựa sống dào dạt, từng con chữ nhƣ xô vào nhau, chuyển động dữ dội: Phƣởng phất chồi thông cơn gió tốc Mịt mờ ngọn cỏ lúc sƣơng gieo (Núi Ba Đèo) Và nó bật thành tiếng: Gió vật sƣờn non kêu lắc rắc Sóng dồn mặt nƣớc vỗ long bong (Núi Kẽm Trống) Những cảnh vật thiên nhiên tƣởng nhƣ đứng yên hoặc không hoạt động gì lắm nhƣng dƣới con mắt Xuân Hƣơng cũng trở nên sinh động vô cùng: Cỏ gà lún phún leo quanh mép Cá giếc le te lội giữa dòng (Cái giếng) Nhất là trong hai câu thơ lạ lùng, độc đáo này Xiên ngang mặt đất rêu từng đám, Đâm toạc chân mây đá mấy hòn. (Canh khuya) 12 download by : skknchat@gmail.com Những vật yếu ớt, bé nhở tƣởng nhƣ không có sức sống cũng trở lên góc cạnh, sắc nhọn.
Đám rêu xiên ngang mặt đất mà trồi lên còn hòn đá thì chiếu thẳng lên trời để đâm toạc chân mây. Thật kì diệu và mãnh liệt vô cùng. Nói đến nghệ thuật tả cảnh của Hồ Xuân Hƣơng, ngƣời ta thƣờng đem so sánh với Bà Huyện Thanh Quan, một nữ thi sĩ ra đời sau Xuân Hƣơng không xa mấy. Bởi hai bà có những nét riêng biệt rất đặc trƣng.
Lấy một bài tiêu biểu của Bà Huyện Thanh Quan là bài thơ Qua Đèo Ngang, ta sẽ thấy trong đó một thế giới chiều buồn, không gợi dáng hình, không đong đầy màu sắc, nhàn nhạt, đơn côi. Có thấy tiếng con chim quốc, chim đa đa nhƣng nó thực sự mơ hồ, không rõ ràng, khó nắm bắt. Bởi đó là thứ âm thanh vang vọng trong lòng. Chính trong thế giới đó dƣờng nhƣ con ngƣời và cả không gian, thời gian đều ngƣng đọng lại.
Trái ngƣợc hẳn với đó, Hồ Xuân Hƣơng lại đón nhận thiên nhiên bằng tất cả các các giác quan rộng mở nhất. Xuân Hƣơng mang đến sức sống mãnh liệt, cá tính cá nhân của mình vào trong cảnh vật. Không những vậy, thi sĩ họ Hồ còn truyền cả cái đa tình đặc sắc của mình vào trong đó nữa. Thiên nhiên nhƣ bật dậy, vén bức màn vô tri lặng lẽ của mình để xúc cảm dâng trào, và nhất là để yêu! Những giọt nƣớc đi vào thơ Xuân Hƣơng không phải là những giọt nƣớc thông thƣờng mà đó là những giọt nƣớc “hữu tình” (Chùa Hương Tích, Hang Cắc Cớ).
Đá cũng biết yêu nhau: Khối tình cọ mãi với non sông Đá kia còn biết xuân già dặn… (Đá Ông Bà Chổng)1 Trăng cũng biết tình tứ, hẹn hò chờ đợi: Năm canh lơ lửng chờ ai đó Hay có tình riêng mấy nƣớc non (Hỏi trăng) 1 Các dẫn chứng thơ bài: Cái giếng, Núi Ba Đèo, Núi Kẽm Trống, Canh khuya, Đá Ông Bà Chổng, đƣợc dẫn theo tài liệu: [11, tr.355-510] 13 download by : skknchat@gmail.com Xuân Hƣơng yêu thiên nhiên tha thiết và luôn thể hiện thiên nhiên ở thời điểm căng tràn nhất của nó. Mà không cứ phải là thiên nhiên, tất cả những gì của cuộc sống phong phú đều hiện lên dƣới ngòi bút của Xuân Hƣơng với vẻ phơi phới, tràn trề, đa sắc, đa màu và ẩn chứa một linh hồn phóng khoáng, ngang tàng. Trong văn học trung đại Việt Nam, trƣớc Xuân Hƣơng chƣa có một ngƣời nào, mà là ngƣời phụ nữ lại mở rộng tấm lòng đón xuân nhƣ thế này: “Sáng mồng một, lỏng theo tạo hoá, mở toang ra cho thiếu nữ rƣớc xuân vào” (Câu đối tết). Quả thật, đứng trƣớc thiên nhiên, ngay trƣớc những vật tƣởng nhƣ tầm thƣờng nhất, nhỏ bé nhất, sẽ không để lại ấn tƣợng với ngƣời khác nhƣng Xuân Hƣơng thì bao giờ cũng có một sự ngạc nhiên thú vị, bao giờ cũng tìm thấy một vẻ độc đáo mới mẻ, một lí do để muốn gắn bó với cuộc sống khăng khít hơn: Đá kia còn biết xuân già giặn Chả trách ngƣời ta lúc trẻ trung.
(Đá Ông Bà Chổng) Hai câu thơ kết thúc bài Núi Ba Đèo: Hiền nhân quân tử ai là chẳng Mỏi gối chồn chân cũng muốn trèo Vừa có ý trêu chọc bọn “hiền nhân quân tử” dâm ô giả dối nhƣng cũng đồng thời nói lên tấm lòng trìu mến đối với cảnh vật đất nƣớc. Đó là thứ tình cảm lành mạnh, chân thành, đƣợc diễn đạt một cách thú vị khác hẳn với thứ tình cảm khuôn sáo, ƣớc lệ trong văn học thời quân chủ chuyên chế trƣớc đó. Trong văn học nƣớc nhà ít có nhà thơ nào mà cái cá tính mãnh liệt chi phối sâu sắc và mạnh mẽ hình thức nghệ thuật nhƣ vậy, nhất là các tác giả thời quân chủ chuyên chế thƣờng hay tìm cách che giấu cái chủ quan của mình trong những tình ý chung, trong những phƣơng thức biểu hiện công thức, ƣớc lệ khuôn sáo nhiều tính chất tƣợng trƣng. Và Xuân Hƣơng mãi là nữ thi sĩ 14 download by : skknchat@gmail.com đem tình yêu cuộc sống theo cách rất riêng của mình đến cho mọi ngƣời, mọi thời.
Trong thơ Bà huyện Thanh Quan lại khác hẳn, thiên nhiên mang nét đặc trƣng đƣợm buồn, hoài cổ. Con ngƣời và thiên nhiên hoà quện vào nhau trong một bức tranh u sầu. Con ngƣời khi đứng trƣớc thiên nhiên thƣờng gán cho thiên nhiên cái tâm sự của mình. Chính Bà Huyện Thanh Quan khi đi qua Đèo Ngang, đối diện với thiên nhiên khi chỉ có một mình cũng đã gửi nỗi lòng cô đơn vào thiên nhiên ấy: Bƣớc tới đèo Ngang bóng xế tà Cỏ cây chen đá lá chen hoa Lom khom dƣới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà.