CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÈ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC TỤ NHIÊN CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC cơ SỞ Tổng quan nghiên cứu vấn đề Các nghiên cứu ở nước ngoài. Đầu những năm 50 của thế kỷ XX, các nhà khoa học ở Liên Xô (cũ) đã tiến hành một số dự án nghiên cứu học thuật về chủ đề quản lý giáo dục từ nhiều khía cạnh khác nhau. Popop (nhà giáo dục và quản lý giáo dục ở Liên Xô cũ) xuất bản cuốn sách “Quản lý trường học” [1] , hướng dẫn tương đối đầy đũ về quản lý giáo dục, đặc biệt trong hoạt động thực tiễn cũa cán bộ quân lý nhà trường. Điều này bao gồm việc hướng dẫn các hoạt động giáo dục.
Trong thời kỳ phát triển của nền giáo dục Liên Xô, nhiều nhà nghiên cứu giáo dục đã biên soạn nhiều sách, tài liệu khoa học và thực tiễn liên quan đến quản lý quá trình giáo dục. Hiện nay nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu, sử dụng rộng rãi đĩa hình và sử dụng Internet trong giáo dục, tổ chức nghiên cứu mầu và sản xuất phim giáo khoa dùng trong nhà trường. Ngay cả ở các nước phương Tây, nhiều học giả cũng đang nghiên cứu về quản lý giáo dục nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng. Getzels và Tames M.
Trong những năm cuối của thế kỷ XX, nhiều cuốn sách và bài báo đã được xuất bản về chủ đề quản lý giáo dục. Nghiên cứu đại diện bao gồm hành vi và tổ chức trong giáo dục [42], Phương pháp lãnh đạo và quản lý trường học hiệu quả [49], Quản lý giáo dục - Lý thuyết, nghiên cứu, thực hành [50] Đề cập đến một góc nhìn mới về quản lý giáo dục nói chung và quản lý hoạt động giáo 7 dục nói riêng. Tuy nhiên, còn ít nghiên cứu vê quản lý hoạt động giáo dục bàn luận, xem xét sâu sắc về quản lý hoạt động giáo dục ở giáo dục phố thông. Các nghiên cứu trong nước Việt Nam đã áp dụng và thúc đấy các lý thuyết giáo dục từ khắp nơi trên thế giới, đồng thời thực hiện nhiều nghiên cứu về thiết bị giáo dục và quản lý việc sử dụng thiết bị.
Liên quan đến vấn đề này, có thể kể đến một nhà khoa học Việt Nam tiêu biểu đã phát triển và phổ biến lý thuyết về nguyên tắc giáo dục trực quan. Đó là nhà tâm lý học Phạm Minh Hạc và Hồ Ngọc Đại. Các nhà giáo dục An Xuân Giáp, Vũ Trọng Ry, Trần Khánh Đức, Ngô Quang Sơn. Các tác giả này trình bày những vấn đề thường gặp liên quan đến thiết bị giáo dục như: B.
Vai trò của đội ngũ giáo dục và yêu cầu đối với giáo viên trong hoạt động lóp học. Vi phạm trong việc lựa chọn và sử dụng thiết bị giáo dục. Một số dự án là: Công trình Quản lý nhà trường của hai tác giả Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thành Vinh [3] Chúng tôi sẽ giới thiệu các nội dung liên quan đến quản lý trường học như quản lý và hoạt động giáo dục, chứng nhận chất lượng giáo dục và học tập, hồ trợ hoạt động giáo dục, quản lý nhân sự và tài chính. Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc chủ biên cuốn Quản lý giáo dục một số vấn đề lý luận và thực tiễn [20] Nó bao gồm các lý luận về quản lý giáo dục, các mô hình quản lý, các cách tiếp cận lý thuyết quản lý, lập kế hoạch và thực hiện trong quản lý, tố chức cơ chế quản lý, lãnh đạo và hướng dẫn.
Nhiều câu hỏi liên quan đến vấn đề lãnh đạo, thi cử, kiểm tra, quản lý giáo dục. Nghiên cứu về quản lý TBGD, các tác giả trình bày các quan niệm về TBGD, cơ sở phân loại và vai trò của TBGD trong nhà trường. Ví dụ: Trong tác phẩm: Phương tiện giáo dục [9], tác giả Tô Xuân Giáp đã đưa ra cơ sở để phân loại, phân loại các phương tiện giáo dục, cách lựa chọn, thiết kế, chế tạo, sử dụng các phương tiện, phương tiện dạy học và các điều kiện đảm bảo sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học. Theo tác giã: “Phương tiện dạy học được sử dụng đúng, có tác 8 dụng làm tăng hiệu quả sư phạm của nội dung và phương pháp dạy học lên rất nhiều”[9,tr.43], Trong cuốn: “Quản lý giáo dục” [12] Ở Chương 10 do Bùi Minh Hiển biên tập, các tác giả đã đề cập đến những câu hỏi mang tính lý luận về vai trò của nhân lực giáo dục trong sự phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân, phân loại các nhóm nhân lực giáo dục mà nhà quản lý cần đáp ứng, đồng thời đưa ra một số nguyên tắc, giải pháp giáo dục sự quản lý Thiết bị trường trung học.
Năm 2005, trong đề tài cấp Bộ về: “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông tại các trung tâm GDTX và trung tâm học tập cộng đồng” [29]; tác giả Ngô Quang Sơn đã khắng định vai trò của TBGD trong hoạt động giảng dạy, giáo dục và học tập: “TBGD vừa là một thành tố, vừa là một phương tiện, một phương hướng, vừa hàm chứa nội dung của quả trình dạy học. TBGD là một trong những điều kiện giúp GV và học viên thực hiện tốt phương châm dạy học phát huy tính tích cực của học viên, quá trình tư duy của học viên.”, Đồng thời, nhóm tác giả đề xuất hệ thống giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả trang bị, sử dụng và bảo trì thiết bị giáo dục. Ngoài một số tài liệu trên còn kể đến các luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục đã bảo vệ tại các cơ sở đào tạo trong cả nước như: Đôi mói câng tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS tại tinh Hà Nam [30] của Đặng Thị Thanh Thảo thực hiện tại Học viện Quản lý GD năm 2011; các Luận văn bảo vệ tại Đại học GD, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2014 như Quán lý thiết bị dạy học ở các trường THCS tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh [15] của Lãnh Thị Mai Hồng và Quản lý TBGD ở các trường THCS huyện Sóc Sơn, thành phổ Hà Nội [31] của Nguyễn Văn Thành. Trong các luận văn này, ngoài những vấn đề lý luận chung, các tác giả đều có những khảo sát thực tế về công tác quăn lý TBGD tại các trường THCS trong phạm vị cấp quận (huyện).
Tuy nhiên, khi 9 nghiên cứu những luận văn này đêu không đặt trong bôi cảnh cách mạng công nghiệp 4. Các khái niệm cơ bàn Quăn lý Quản lý chính là một hiện tượng xã hội, và là yếu tố cấu thành sự tồn tại và phát triển cùa xã hội loài người.Khi xã hội phát triển thì yêu cầu trình độ tổ chức, quản lý đòi hòi cũng ngày càng cao. Trong quá trình làm việc tập thể, việc lập kế hoạch, phân công nhiệm vụ và quản lý chung, hợp tác và quăn lý công việc lại càng không thể thiếu. Do đó, quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan, nảy sinh từ sự cần thiết và xuất phát từ nhu cầu cùa từng hệ thống xã hội, quốc gia và thời đại.
Có thể coi quản lý là một hoạt động đặc biệt, thiết yếu trong đời sống xã hội, gắn liền với quá trình phát triển. Có nhiều cách nghĩ khác nhau về quản lý. Theo Từ điên Tiếng Việt, “quản lý” được hiểu là: Tổ chức, điều khiển hoạt động của một so đơn vị, một cơ quan. - Trông coi, giữ gìn và theo dõi việc gì" [35, tr.
1363J Tác giả Nguyễn Văn Lê quan niệm. "Quản lỷ là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tổ của hệ thống bằng những phương pháp thích họp, nhằm đạt các mục tiêu đề ra cho hệ và từng thành tố của Ãệ" [19, tr.44] Quán lý là việc tổ chức có hệ thống chủ thể quán lý với chủ thể quản lý trong mối quan hệ về chính trị, văn hóa, xã hội và kinh tế thông qua hệ thống pháp luật, chính sách, nguyên tắc, phương pháp và phương tiện cụ thể để tạo ra môi trường, điều kiện, có tác động trực tiếp. Đe phát triển dự án. Quản lý luôn tồn tại như một thành phần hệ thống: - Chủ thề của quản lý (Người quản lý, tổ chức quản lý).
- Khách thể của quản lý (đối tượng quản lý). 10 - Mục tiêu chung: là cơ sở của các chủ đề quản lý để hình thành hoạt động quản lý. - Cơ chế quản lý: cách thức tiến hành các hoạt động quản lý và sự tương tác giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Bản chất của hoạt động quản lý bao gồm cả nhu cầu khách quan và nhu cầu chủ quan do nhà quản lý thực hiện.
Mặt khác, nó còn mang tính thứ bậc, kỳ thuật, khoa học và nghệ thuật, pháp lý và xã hội rộng rãi. Chúng đối lập nhau trong một chỉnh thể thống nhất, tức là tính biện chúng, tính chất của hoạt động quản lý. Các chức năng quản lý có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại trong việc thực hiện các hoạt động quản lý. Trong quá trình quản lý, các yếu tố thông tin luôn hiện diện ở mồi giai đoạn là điều kiện, phương tiện đề các đơn vị quản lý thực hiện chức năng cùa mình và đưa ra các quyết định quản lý.
Quản lý hoạt động dạy học - Tránh tình trạng giáo viên giảng dạy tùy tiện, cắt xén hoặc áp đặt chương trình giảng dạy. Nội dung chương trình giáo dục trung học là sự tiếp nối và phát triến nội dung cùa chương trình giáo dục tiểu học, bảo đảm cho học sinh hiểu được các kiến thức cơ bản về toán khi kết thúc chương trình giáo dục trung học. Ngoài ra còn có các khóa học tự chọn và các hoạt động giáo dục ngoài giờ học. - BGH nhà trường cần thường xuyên kiểm tra việc phân phát chương trình, vở học tập, sổ điểm, số môn học cũng như hồ sơ giáo viên, giáo án., đối chiếu hồ sơ các loại và phát hiện sai sót.
Nói tóm lại: Đội ngũ quản lý chủ trì xây dựng nề nếp giảng dạy, quy trình có hệ thống, đồng bộ nhằm chuyển yêu cầu kiểm soát khách quan của quá trình giảng dạy thành sự tự tin, dân chủ và trách nhiệm. Điều này bao gồm việc xây dựng một cộng đồng trường học gắn kết để hỗ trợ sự tiến bộ của nhau. Chúng tôi vẫn có thế thiết kế và đảm bảo đầy đủ các chức năng của giáo dục.