CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI 1. Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội 1. Các khái niệm cơ bản a.
Trợ giúp xã hội Trợ giúp xã hội (TGXH) được hiểu theo các quan điểm tiếp cận, tính chất, chức năng, hình thức và mô hình khác nhau. Phần lớn các tài liệu nghiên cứu chưa lý giải một cách toàn diện về khái niệm TGXH, nhưng cũng đã giải thích thuật ngữ, từ ngữ gần với TGXH (bảo trợ xã hội, công tác xã hội, phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, cứu tế xã hội, cứu trợ xã hội, BTXH, dịch vụ xã hội) (Nguyễn Văn Định, 2008). “Bảo trợ xã hội là hệ thống các chính sách, chế độ, hoạt động của chính quyền các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm giúp các đối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống có điều kiện tồn tại và có cơ hội hoà nhập với cuộc sống chung của cộng đồng, góp phần bảo đảm ổn định và công bằng xã hội” (Nguyễn Thị Vân, 2007). “An sinh xã hội là một hệ thống các cơ chế, chính sách, các giải pháp của Nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế - xã hội làm cho họ suy giảm, hoặc mất nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn khả năng lao động, hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác rơi vào cảnh nghèo khổ, bần cùng hoá và cung cấp dịch vụ chăm sức khoẻ cho cộng đồng, thông qua các hệ thống chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, TGXH và trợ giúp đặc biệt” Nguyễn Hải Hữu (2007).
“Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của xã hội bằng nguồn tài chính của Nhà nước và của cộng đồng đối với các thành viên gặp khó khăn, bất hạnh và gặp rủi ro trong cuộc sống như thiên tai, hỏa hoạn, bị khuyết tật, già yếu. dẫn đến mức sống quá thấp, lâm vào cảnh neo đơn túng quẫn nhằm giúp họ bảo đảm được điều kiện sống tối thiểu, vượt qua cơn nghèo khốn và vươn lên cuộc sống bình thường”. “Cứu tế xã hội là sự giúp đỡ của cộng đồng và xã hội bằng tiền hoặc 5 hiện vật, có tính tức thời, khẩn cấp và ở mức độ tối cần thiết cho người được trợ cấp khi họ bị rơi vào hoàn cảnh bần cùng, không còn khả năng tự lo liệu cuộc sống thường ngày cho bản thân họ và gia đình”. Cũng với cách tiếp cận này tác giả cũng cho rằng “TGXH là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng xã hội bằng tiền hoặc bằng các phương tiện thích hợp để người được trợ giúp có thể phát huy được khả năng tự lo liệu cho cuộc sống bản thân và gia đình, sớm hòa nhập lại với cộng đồng’’ Nguyễn Văn Định (2008).
Bảo trợ xã hội là hệ thống các chính sách, chế độ, hoạt động của chính quyền các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm giúp các đối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống có điều kiện tồn tại và có cơ hội hoà nhập với cuộc sống chung của cộng đồng, góp phần bảo đảm ổn định và công bằng xã hội” Nguyễn Ngọc Vân (2007). Tổng hợp các giải thích trên cho thấy, hầu hết các khái niệm chưa mô tả đầy đủ về TGXH, mà cần giải thích toàn diện hơn nữa về TGXH. TGXH không chỉ là hoạt động của cộng đồng và xã hội mà phải là trách nhiệm của Nhà nước, không những thế còn là hoạt động có tính chất về công tác xã hội, không dành riêng cho một, hoặc một số đối tượng xã hội, đồng thời TGXH không phải là giải pháp toàn diện về an sinh xã hội, mà chỉ là một hợp phần của an sinh xã hội, theo Nguyễn Ngọc Vân (2007). Như vậy, có thể hiểu TGXH thường xuyên là các biện pháp, giải pháp bảo đảm về tại chính của Nhà nước và xã hội đối với các đối tượng BTXH (người bị thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống) nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài trong cuộc sống.
Việc bảo đảm này thông qua các hoạt động cung cấp tài chính, vật phẩm, các điều kiện vật chất khác cho đối tượng theo Nguyễn Ngọc Vân (2007). Quản lý Theo một cách tiếp cận hệ thống, mọi tổ chức (cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp…) đều có thể được xem như một hệ thống gồm hai phân hệ: chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Mỗi hệ thống bao giờ cũng hoạt động trong môi trường nhất định (khách thể quản lý) Phan Huy Cường (2015). 6 Từ đó có thể đưa ra khái niệm: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động” Phan Huy Cường (2015).
Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu Phan Huy Cường (2015). Quản lý nhà nước Trong hệ thống các chủ thể quản lý xã hội, Nhà nước là chủ thể duy nhất quản lý xã hội toàn dân, toàn diện bằng pháp luật. Cụ thể như sau Phan Huy Cường (2015): + Nhà nước quản lý toàn dân là nhà nước quản lý toàn bộ những người sống và làm việc trên lãnh thổ quốc gia, bao gồm công dân và những người không phải là công dân.
+ Nhà nước quản lý toàn diện là nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ. Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực đời sống xã hội có nghĩa là các cơ quan quản lý điều chỉnh mọi khía cạnh hoạt động của xã hội trên cơ sở pháp luật quy định. + Nhà nước quản lý bằng pháp luật là nhà nước lấy pháp luật làm công cụ xử lý các hành vi vi phạm pháp luật theo luật định một cách nghiêm minh. Vậy Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước Phan Huy Cường (2015).
7 Quản lý nhà nước được đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng; quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước. Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật theo Phan Huy Cường (2015). Quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội Từ khái niệm về quản lý nhà nước và trợ giúp xã hội trên có thể kết luận Quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội là sự tác động có tổ chức, có căn cứ pháp lý của các cơ quan nhà nước đối với các đối tượng cần trợ giúp xã hội nhằm giúp họ vượt qua khó khăn trước mắt, đảm bảo cuộc sống để hòa nhập với cộng đồng xã hội theo Phan Huy Cường (2015). Mục tiêu quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội Từ những định nghĩa và phân tích trên có thể hiểu quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội là nhằm thể hiện tính bao phủ trên địa bàn, tất cả các đối tượng yếu thế trên địa bàn huyện đủ điều kiện đều được trợ giúp xã hội (Chính phủ, 2015).
Mặt khác chính sách trợ giúp xã hội thực hiện đúng theo quy định, công bằng, công khai, dân chủ và chính xác đúng người, đúng đối tượng (Chính phủ, 2015). Chính sách trợ giúp xã hội thực hiện đúng theo định hướng, đúng ý nghĩa của nhà nước, theo văn bản quy định (Chính phủ, 2015). * Mục tiêu quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội trên địa bàn huyện Nhằm thực hiện đồng bộ chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn huyện, với mục tiêu tất cả các đối tượng bảo trợ xã hội đủ điều kiện đều được hưởng trợ giúp theo quy định, không bỏ sót đối tượng, không cho đối tượng hưởng sai chính sách và đặc biệt là đối tượng phải đủ điều kiện mới được hưởng trợ giúp thường xuyên (Chính phủ, 2015). 8 Phòng Lao động - TB&XH là cơ quan tham thường trực giúp việc cho Chủ tịch UBND huyện là cấp có thẩm quyền được giao thực hiện công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn huyện (Chính phủ, 2015).
UBND các xã, thị trấn là cấp trực tiếp thực hiện chính sách trợ giúp xã hội cho các đối tượng (Chính phủ, 2015). Vai trò, ý nghĩa của trợ giúp xã hội Mục tiêu hướng tới của mỗi quốc gia trên thế giới đều là đạt được sự tiến bộ xã hội. Nghĩa là vừa phải bảo đảm tăng trưởng kinh tế, vừa bảo đảm phát triển xã hội (Nguyễn Hữu Dũng, 2008). Thước đo của phát triển xã hội là việc giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế.
Trong đó, có chăm sóc dân cư khó khăn, giải quyết vấn đề bất bình đẳng trong xã hội. TGXH là một trong những công cụ quản lý của Nhà nước và có vai trò chính sau: Thứ nhất, TGXH thực hiện chức năng bảo đảm an sinh xã hội (ASXH) của Nhà nước: Thông qua luật pháp, chính sách, các chương trình TGXH, Nhà nước can thiệp và tác động giữ ổn định xã hội, ổn định chính trị, phân hoá giàu nghèo và giảm phân tầng xã hội, tạo sự đồng thuận xã hội giữa các nhóm xã hội trong quá trình phát triển.