Luận văn: Quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình

Luận văn nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội tại huyện Kim Bôi, Hòa Bình, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2020

127
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI

1.1. Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội

1.1.1. Các khái niệm cơ bản

1.1.2. Vai trò, ý nghĩa của trợ giúp xã hội

1.1.3. Đối tượng, mục tiêu, nguyên tắc trợ giúp xã hội

1.1.4. Đặc điểm của trợ giúp xã hội

1.1.5. Nội dung nghiên cứu quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội trên địa bàn huyện Kim Bôi

1.1.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội

1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG QLNN VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI

1.2.1. Kinh nghiêm của một số nước trên thế giới về thực hiện hoạt động trợ giúp xã hội

1.2.2. Thực tiễn hoạt động trợ giúp xã hội ở Việt Nam

1.2.3. Bài học kinh nghiệm một số nước vào Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN HUYỆN KIM BÔI

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

2.1.3. Thực trạng phát triển kinh tế huyện Kim Bôi

2.1.4. Đánh giá chung về thuận lợi, khó khăn huyện Kim Bôi

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Phương pháp thu thập tài liệu

2.2.2. Phương pháp xử lý và phân tích thông tin

2.2.3. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIM BÔI

3.1.1. Bộ máy quản lý nhà nước trợ giúp xã hội của huyện Kim Bôi

3.1.2. Triển khai các văn bản pháp quy về trợ giúp xã hội

3.1.3. Xác định đối tượng, nội dung, hình thức trợ giúp xã hội

3.1.4. Lập dự toán kinh phí trợ giúp xã hội trên địa bàn huyện Kim Bôi

3.1.5. Tổ chức thực hiện trợ giúp xã hội

3.1.6. Thanh tra, xử lý các vi phạm

3.2. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ, HẠN CHẾ CÁC HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIM BÔI

3.2.1. Đánh giá điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức các hoạt động quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội

3.2.2. Đánh giá của các nhóm đối tượng về tình hình thực thi chính sách TGXH trên địa bàn huyện Kim Bôi

3.2.3. Kết quả và hạn chế trong quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội trên địa bàn huyện Kim Bôi

3.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIM BÔI

3.3.1. Nhóm yếu tố chính sách và năng lực hoạch định

3.3.2. Nguồn kinh phí và sử dụng kinh phí tổ chức hoạt động trợ giúp xã hội

3.3.3. Năng lực của cán bộ và sự phối hợp

3.3.4. Công tác giám sát, kiểm tra việc thực hiện chính sách

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIM BÔI

4.1. Định hướng tăng cường quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội trên địa bàn huyện Kim Bôi

4.2. Giải pháp tăng cường quản lý nhà về công tác trợ giúp xã hội trên địa bàn huyện Kim Bôi

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kiến nghị với Chính phủ

2. Kiến nghị với Sở Lao động - TB&XH, UBND tỉnh Hòa Bình

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội Kim Bôi

Quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội là một trụ cột quan trọng trong hệ thống chính sách xã hội, nhằm đảm bảo an sinh xã hội huyện Kim Bôi và hỗ trợ các nhóm dân cư yếu thế. Đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng các công cụ pháp lý và nguồn lực công để can thiệp, điều chỉnh các quan hệ xã hội. Mục tiêu chính là giúp các đối tượng bảo trợ xã hội vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng. Theo luận văn của Nguyễn Thị Hồng Lĩnh (2020), quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội được hiểu là “sự tác động có tổ chức, có căn cứ pháp lý của các cơ quan nhà nước đối với các đối tượng cần trợ giúp xã hội nhằm giúp họ vượt qua khó khăn trước mắt, đảm bảo cuộc sống để hòa nhập với cộng đồng xã hội”. Tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, công tác này càng có ý nghĩa đặc biệt do đây là một trong những huyện nghèo của cả nước. Chính sách trợ giúp xã hội được triển khai thông qua hai hợp phần chính: trợ giúp thường xuyên và trợ giúp đột xuất. Trợ giúp thường xuyên bao gồm các khoản trợ cấp hàng tháng, hỗ trợ y tế, chăm sóc tại cộng đồng hoặc tại các cơ sở bảo trợ. Vai trò của nhà nước trong trợ giúp xã hội không chỉ dừng lại ở việc cung cấp tài chính mà còn bao gồm việc xây dựng thể chế, tổ chức bộ máy thực thi, giám sát và đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước. Quá trình này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, từ trung ương đến địa phương, đặc biệt là vai trò của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Kim Bôi trong việc tham mưu và trực tiếp triển khai chính sách. Hoạt động này góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững tỉnh Hòa Bình, thể hiện tính ưu việt của chế độ và sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với những nhóm người dễ bị tổn thương.

1.1. Phân tích cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về TGXH

Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội dựa trên các khái niệm nền tảng như quản lý, quản lý nhà nước và trợ giúp xã hội (TGXH). TGXH là một hợp phần của an sinh xã hội, thể hiện sự hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng đối với các cá nhân, hộ gia đình gặp rủi ro hoặc có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Mục tiêu của quản lý nhà nước trong lĩnh vực này là đảm bảo chính sách được thực thi một cách công bằng, minh bạch, đúng đối tượng và kịp thời. Các nguyên tắc cơ bản bao gồm: tuân thủ hệ thống chính trị, đảm bảo tính khoa học, hiệu lực, hiệu quả, công bằng và chia sẻ trách nhiệm. Theo Phan Huy Cường (2015), “Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người”.

1.2. Vai trò và ý nghĩa của chính sách trợ giúp xã hội

Chính sách trợ giúp xã hội có vai trò then chốt trong việc thực hiện chức năng an sinh xã hội của Nhà nước. Nó không chỉ giúp các đối tượng yếu thế đảm bảo mức sống tối thiểu mà còn có chức năng tái phân phối của cải xã hội, giảm bớt chênh lệch giàu nghèo. Thông qua các chương trình TGXH, Nhà nước can thiệp để ổn định xã hội, phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho người dân. Trần Đình Hoan (1996) nhấn mạnh, TGXH giúp “điều tiết, hạn chế nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn xã hội, bất ổn của xã hội”. Tại huyện Kim Bôi, chính sách này trực tiếp góp phần vào sự ổn định chính trị, an ninh trật tự và tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế bền vững.

II. Thách thức trong quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, công tác quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội huyện Kim Bôi vẫn đối mặt với không ít thách thức và hạn chế. Một trong những vấn đề lớn nhất là hệ thống văn bản pháp luật chưa thực sự đồng bộ, đôi khi còn chồng chéo, gây khó khăn trong quá trình triển khai. Báo cáo của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Kim Bôi (tháng 4/2020) chỉ ra rằng các văn bản hướng dẫn từ trung ương đôi khi chậm ban hành, thiếu tính hệ thống. Bên cạnh đó, nguồn lực thực hiện chính sách xã hội còn hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tế của một huyện nghèo có số lượng đối tượng bảo trợ xã hội lớn. Năng lực của đội ngũ cán bộ cấp xã, thị trấn chưa đồng đều, một số nơi còn thiếu kinh nghiệm trong việc rà soát, thống kê đối tượng, dẫn đến tình trạng bỏ sót hoặc xác định sai đối tượng. Công tác phối hợp giữa các ban ngành liên quan đôi khi chưa chặt chẽ, ảnh hưởng đến hiệu quả chung của công tác xã hội tại Kim Bôi. Thực trạng trợ giúp xã hội cho thấy sự biến động của đối tượng rất phức tạp, trong khi công tác kiểm tra, giám sát chưa được thực hiện thường xuyên và quyết liệt. Những hạn chế này không chỉ làm giảm hiệu quả của chính sách mà còn có thể gây ra sự bất bình đẳng, ảnh hưởng đến niềm tin của người dân vào hệ thống an sinh xã hội.

2.1. Phân tích thực trạng trợ giúp xã hội còn nhiều bất cập

Luận văn chỉ rõ thực trạng trợ giúp xã hội tại huyện Kim Bôi còn tồn tại nhiều bất cập. Cụ thể, việc xác định đối tượng bảo trợ xã hội đôi khi chưa chính xác do “công tác rà soát thống kê tại các xã, thị trấn chưa thường xuyên, chặt chẽ”. Điều này dẫn đến tình trạng sót đối tượng hoặc cho hưởng chồng chéo chính sách. Một số chính sách được cho là chưa thực sự hợp lý, công bằng, đặc biệt là việc áp dụng hệ số trợ cấp cho người khuyết tật. Quy trình, thủ tục hành chính đôi khi còn phức tạp, gây khó khăn cho người dân, đặc biệt là những người già yếu, khuyết tật trong việc tiếp cận chính sách.

2.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới nguồn lực và năng lực cán bộ

Nguồn kinh phí và năng lực cán bộ là hai yếu tố then chốt ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý. Nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) dành cho TGXH còn hạn hẹp, phụ thuộc nhiều vào ngân sách cấp trên. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc mở rộng đối tượng và nâng cao mức trợ cấp. Về con người, luận văn ghi nhận “đội ngũ cán bộ xã, thị trấn thực hiện chính sách chưa đồng đều trình độ, dân trí thấp”, đây là một rào cản lớn. Sự thiếu hụt về chuyên môn nghiệp vụ trong công tác xã hội tại Kim Bôi làm giảm chất lượng thẩm định hồ sơ, tư vấn và hỗ trợ đối tượng. Sự phối hợp giữa các cơ quan ban ngành cũng là một yếu tố cần cải thiện để đảm bảo tính thống nhất.

III. Phương pháp hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội Kim Bôi

Để hoàn thiện chính sách an sinh xã hội, việc cải cách và điều chỉnh các quy định hiện hành là yêu cầu cấp thiết. Luận văn đề xuất một số giải pháp mang tính chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội huyện Kim Bôi. Trước hết, cần tiếp tục rà soát, hệ thống hóa các văn bản pháp luật để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất và dễ áp dụng. Cần xây dựng một quy trình xét duyệt hồ sơ rõ ràng, minh bạch, giảm bớt các thủ tục hành chính không cần thiết để người dân dễ dàng tiếp cận. Việc xác định đối tượng bảo trợ xã hội phải được thực hiện một cách khoa học và công tâm. Điều này đòi hỏi phải có tiêu chí cụ thể cho từng nhóm, từ người cao tuổi, người khuyết tật đến trẻ mồ côi và các chính sách cho người có công. Mức trợ cấp cần được điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với sự biến động của giá cả và mức sống tối thiểu tại địa phương, hướng tới mục tiêu hỗ trợ người nghèo một cách thực chất. Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa các hình thức trợ giúp, không chỉ dừng lại ở trợ cấp tài chính mà còn phát triển các dịch vụ công tác xã hội tại Kim Bôi như tư vấn tâm lý, hỗ trợ giáo dục, dạy nghề và giới thiệu việc làm, giúp đối tượng tự vươn lên và hòa nhập bền vững. Việc xã hội hóa, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng và doanh nghiệp cũng là một hướng đi quan trọng để tăng cường nguồn lực thực hiện chính sách xã hội.

3.1. Rà soát và xác định chính xác đối tượng bảo trợ xã hội

Giải pháp quan trọng hàng đầu là phải rà soát và phân loại chính xác các đối tượng bảo trợ xã hội. Cần tổ chức các đợt tổng điều tra, rà soát định kỳ hàng năm trên toàn huyện, áp dụng công nghệ thông tin để xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý đối tượng. Việc này giúp nắm bắt kịp thời các biến động như đối tượng đủ điều kiện hưởng mới, đối tượng qua đời hoặc không còn đủ điều kiện. Cần có sự tham gia giám sát của cộng đồng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể để đảm bảo tính công khai, minh bạch, tránh tình trạng sai sót, gian lận trong việc lập danh sách hưởng trợ cấp.

3.2. Điều chỉnh mức trợ cấp và đa dạng hóa hình thức hỗ trợ

Mức trợ cấp xã hội hiện hành cần được xem xét điều chỉnh định kỳ để phù hợp với thực tế. Luận văn kiến nghị mức chuẩn trợ cấp cần tiệm cận với chuẩn nghèo đa chiều. Ngoài trợ cấp tiền mặt, cần hoàn thiện chính sách an sinh xã hội bằng cách phát triển các dịch vụ hỗ trợ khác. Ví dụ, cung cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, hỗ trợ chi phí học tập cho trẻ em thuộc diện bảo trợ, tổ chức các lớp dạy nghề cho người khuyết tật còn khả năng lao động. Việc này giúp đối tượng không chỉ duy trì cuộc sống mà còn có cơ hội phát triển bản thân.

IV. Cách tối ưu bộ máy quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội

Hiệu quả của quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội phụ thuộc rất lớn vào năng lực của bộ máy tổ chức và con người thực thi. Do đó, việc tối ưu hóa bộ máy là một giải pháp mang tính nền tảng. Cần kiện toàn cơ cấu tổ chức từ cấp huyện đến xã, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị, cá nhân. Trọng tâm là nâng cao vai trò và năng lực của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Kim Bôi. Cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về công tác xã hội cho đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp xã. Nội dung đào tạo cần tập trung vào kỹ năng rà soát, thẩm định hồ sơ, tư vấn chính sách và kỹ năng làm việc với các nhóm đối tượng yếu thế. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa các phòng ban như LĐ-TB&XH, Tài chính - Kế hoạch, Y tế, Giáo dục và các tổ chức chính trị - xã hội. Quản lý hành chính nhà nước hiệu quả đòi hỏi sự thông suốt trong luân chuyển thông tin và phối hợp hành động. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, xây dựng phần mềm quản lý đối tượng tập trung sẽ giúp giảm thiểu sai sót, tiết kiệm thời gian và nâng cao tính minh bạch. Cuối cùng, công tác thanh tra, kiểm tra cần được đẩy mạnh, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm để đảm bảo kỷ cương và nâng cao trách nhiệm của cán bộ công chức.

4.1. Nâng cao năng lực cán bộ Phòng LĐ TB XH và cấp cơ sở

Cần có kế hoạch đào tạo lại và bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội tại Kim Bôi. Các khóa tập huấn cần tập trung vào việc cập nhật các văn bản pháp luật mới, hướng dẫn quy trình nghiệp vụ chuẩn hóa, và trang bị các kỹ năng mềm cần thiết. Đặc biệt đối với cán bộ cấp xã, cần có chế độ đãi ngộ hợp lý để khuyến khích họ gắn bó với công việc, đồng thời quy định rõ trách nhiệm cá nhân trong việc quản lý đối tượng trên địa bàn mình phụ trách. Việc này giúp Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Kim Bôi có một mạng lưới cơ sở vững mạnh.

4.2. Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành và giám sát cộng đồng

Để thực hiện tốt quản lý hành chính nhà nước, cần thiết lập một quy chế phối hợp chính thức giữa các cơ quan liên quan. Ví dụ, sự phối hợp giữa ngành LĐ-TB&XH và Y tế trong việc xác định mức độ khuyết tật, hay giữa LĐ-TB&XH và Giáo dục trong việc hỗ trợ người nghèo là học sinh. Song song đó, phải phát huy vai trò giám sát của người dân và các tổ chức xã hội. Mọi thông tin về chính sách, danh sách đối tượng, mức hưởng cần được công khai tại trụ sở UBND xã, nhà văn hóa thôn để người dân có thể theo dõi và phản ánh kịp thời các sai phạm.

V. Đánh giá hiệu quả thực tiễn chính sách TGXH tại Kim Bôi

Việc đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội tại huyện Kim Bôi cho thấy những kết quả đáng ghi nhận bên cạnh các tồn tại. Giai đoạn 2017-2019, số lượng đối tượng được hưởng trợ giúp xã hội đã tăng lên, cơ bản bao phủ được các nhóm yếu thế. Theo số liệu từ luận văn, tổng kinh phí chi trả hàng năm lên tới hàng chục tỷ đồng, thể hiện sự nỗ lực lớn của chính quyền địa phương trong việc đảm bảo phúc lợi xã hội. Chính sách trợ giúp xã hội đã góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho hàng nghìn người dân, giúp họ vượt qua khó khăn trước mắt, đặc biệt là người cao tuổi cô đơn, người khuyết tật và trẻ mồ côi. Các chính sách này đã trực tiếp góp phần vào chương trình giảm nghèo bền vững tỉnh Hòa Bình. Tuy nhiên, khi phân tích sâu hơn, hiệu quả chính sách vẫn chưa đạt như kỳ vọng. Mức trợ cấp dù đã được nâng lên nhưng vẫn còn thấp so với nhu cầu sống tối thiểu. Đánh giá từ các nhóm đối tượng cho thấy họ mong muốn được hỗ trợ nhiều hơn về y tế, giáo dục và cơ hội việc làm. Thực trạng trợ giúp xã hội cho thấy chính sách vẫn nặng về hỗ trợ tài chính trực tiếp, chưa phát huy được các hình thức hỗ trợ phát triển, giúp đối tượng tự lực vươn lên. Do đó, việc đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước cần dựa trên cả hai tiêu chí: mức độ bao phủ và tác động thực tế đến việc cải thiện chất lượng cuộc sống một cách bền vững.

5.1. Thống kê kết quả chi trả trợ cấp xã hội giai đoạn 2017 2019

Số liệu thống kê trong luận văn cho thấy bức tranh tổng thể về công tác xã hội tại Kim Bôi. Bảng 3.4 ghi nhận, tổng số người hưởng trợ giúp xã hội và số tiền chi trả đều có xu hướng tăng qua các năm từ 2017 đến 2019. Cụ thể, số lượng người cao tuổi, người khuyết tật, người đơn thân nghèo được tiếp cận chính sách ngày càng mở rộng. Tổng kinh phí thực hiện cho người cao tuổi giai đoạn 2017-2019 là một con số đáng kể (Bảng 3.6). Những con số này minh chứng cho nỗ lực của hệ thống quản lý nhà nước trong việc đảm bảo an sinh xã hội.

5.2. Phân tích tác động của chính sách đến đời sống đối tượng

Tác động của chính sách trợ giúp xã hội đến đời sống người dân là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả. Các bảng tổng hợp ý kiến của người cao tuổi, người khuyết tật (Bảng 3.7, 3.12) cho thấy chính sách đã giúp họ “giảm bớt khó khăn, ổn định cuộc sống”. Tuy nhiên, nhiều người vẫn bày tỏ nguyện vọng được hỗ trợ về nhà ở, việc làm và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt hơn. Điều này cho thấy chính sách cần được hoàn thiện để không chỉ là một mạng lưới an toàn mà còn là đòn bẩy giúp người dân cải thiện cuộc sống một cách toàn diện.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

06/10/2025
Luận văn quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội tại huyện kim bôi hòa bình 09 9 2020 2

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI 1. Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội 1. Các khái niệm cơ bản a.

Trợ giúp xã hội Trợ giúp xã hội (TGXH) được hiểu theo các quan điểm tiếp cận, tính chất, chức năng, hình thức và mô hình khác nhau. Phần lớn các tài liệu nghiên cứu chưa lý giải một cách toàn diện về khái niệm TGXH, nhưng cũng đã giải thích thuật ngữ, từ ngữ gần với TGXH (bảo trợ xã hội, công tác xã hội, phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, cứu tế xã hội, cứu trợ xã hội, BTXH, dịch vụ xã hội) (Nguyễn Văn Định, 2008). “Bảo trợ xã hội là hệ thống các chính sách, chế độ, hoạt động của chính quyền các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm giúp các đối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống có điều kiện tồn tại và có cơ hội hoà nhập với cuộc sống chung của cộng đồng, góp phần bảo đảm ổn định và công bằng xã hội” (Nguyễn Thị Vân, 2007). “An sinh xã hội là một hệ thống các cơ chế, chính sách, các giải pháp của Nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế - xã hội làm cho họ suy giảm, hoặc mất nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn khả năng lao động, hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác rơi vào cảnh nghèo khổ, bần cùng hoá và cung cấp dịch vụ chăm sức khoẻ cho cộng đồng, thông qua các hệ thống chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, TGXH và trợ giúp đặc biệt” Nguyễn Hải Hữu (2007).

“Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của xã hội bằng nguồn tài chính của Nhà nước và của cộng đồng đối với các thành viên gặp khó khăn, bất hạnh và gặp rủi ro trong cuộc sống như thiên tai, hỏa hoạn, bị khuyết tật, già yếu. dẫn đến mức sống quá thấp, lâm vào cảnh neo đơn túng quẫn nhằm giúp họ bảo đảm được điều kiện sống tối thiểu, vượt qua cơn nghèo khốn và vươn lên cuộc sống bình thường”. “Cứu tế xã hội là sự giúp đỡ của cộng đồng và xã hội bằng tiền hoặc 5 hiện vật, có tính tức thời, khẩn cấp và ở mức độ tối cần thiết cho người được trợ cấp khi họ bị rơi vào hoàn cảnh bần cùng, không còn khả năng tự lo liệu cuộc sống thường ngày cho bản thân họ và gia đình”. Cũng với cách tiếp cận này tác giả cũng cho rằng “TGXH là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng xã hội bằng tiền hoặc bằng các phương tiện thích hợp để người được trợ giúp có thể phát huy được khả năng tự lo liệu cho cuộc sống bản thân và gia đình, sớm hòa nhập lại với cộng đồng’’ Nguyễn Văn Định (2008).

Bảo trợ xã hội là hệ thống các chính sách, chế độ, hoạt động của chính quyền các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm giúp các đối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống có điều kiện tồn tại và có cơ hội hoà nhập với cuộc sống chung của cộng đồng, góp phần bảo đảm ổn định và công bằng xã hội” Nguyễn Ngọc Vân (2007). Tổng hợp các giải thích trên cho thấy, hầu hết các khái niệm chưa mô tả đầy đủ về TGXH, mà cần giải thích toàn diện hơn nữa về TGXH. TGXH không chỉ là hoạt động của cộng đồng và xã hội mà phải là trách nhiệm của Nhà nước, không những thế còn là hoạt động có tính chất về công tác xã hội, không dành riêng cho một, hoặc một số đối tượng xã hội, đồng thời TGXH không phải là giải pháp toàn diện về an sinh xã hội, mà chỉ là một hợp phần của an sinh xã hội, theo Nguyễn Ngọc Vân (2007). Như vậy, có thể hiểu TGXH thường xuyên là các biện pháp, giải pháp bảo đảm về tại chính của Nhà nước và xã hội đối với các đối tượng BTXH (người bị thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống) nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài trong cuộc sống.

Việc bảo đảm này thông qua các hoạt động cung cấp tài chính, vật phẩm, các điều kiện vật chất khác cho đối tượng theo Nguyễn Ngọc Vân (2007). Quản lý Theo một cách tiếp cận hệ thống, mọi tổ chức (cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp…) đều có thể được xem như một hệ thống gồm hai phân hệ: chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Mỗi hệ thống bao giờ cũng hoạt động trong môi trường nhất định (khách thể quản lý) Phan Huy Cường (2015). 6 Từ đó có thể đưa ra khái niệm: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động” Phan Huy Cường (2015).

Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu Phan Huy Cường (2015). Quản lý nhà nước Trong hệ thống các chủ thể quản lý xã hội, Nhà nước là chủ thể duy nhất quản lý xã hội toàn dân, toàn diện bằng pháp luật. Cụ thể như sau Phan Huy Cường (2015): + Nhà nước quản lý toàn dân là nhà nước quản lý toàn bộ những người sống và làm việc trên lãnh thổ quốc gia, bao gồm công dân và những người không phải là công dân.

+ Nhà nước quản lý toàn diện là nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ. Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực đời sống xã hội có nghĩa là các cơ quan quản lý điều chỉnh mọi khía cạnh hoạt động của xã hội trên cơ sở pháp luật quy định. + Nhà nước quản lý bằng pháp luật là nhà nước lấy pháp luật làm công cụ xử lý các hành vi vi phạm pháp luật theo luật định một cách nghiêm minh. Vậy Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước Phan Huy Cường (2015).

7 Quản lý nhà nước được đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng; quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước. Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật theo Phan Huy Cường (2015). Quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội Từ khái niệm về quản lý nhà nước và trợ giúp xã hội trên có thể kết luận Quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội là sự tác động có tổ chức, có căn cứ pháp lý của các cơ quan nhà nước đối với các đối tượng cần trợ giúp xã hội nhằm giúp họ vượt qua khó khăn trước mắt, đảm bảo cuộc sống để hòa nhập với cộng đồng xã hội theo Phan Huy Cường (2015). Mục tiêu quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội Từ những định nghĩa và phân tích trên có thể hiểu quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội là nhằm thể hiện tính bao phủ trên địa bàn, tất cả các đối tượng yếu thế trên địa bàn huyện đủ điều kiện đều được trợ giúp xã hội (Chính phủ, 2015).

Mặt khác chính sách trợ giúp xã hội thực hiện đúng theo quy định, công bằng, công khai, dân chủ và chính xác đúng người, đúng đối tượng (Chính phủ, 2015). Chính sách trợ giúp xã hội thực hiện đúng theo định hướng, đúng ý nghĩa của nhà nước, theo văn bản quy định (Chính phủ, 2015). * Mục tiêu quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội trên địa bàn huyện Nhằm thực hiện đồng bộ chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn huyện, với mục tiêu tất cả các đối tượng bảo trợ xã hội đủ điều kiện đều được hưởng trợ giúp theo quy định, không bỏ sót đối tượng, không cho đối tượng hưởng sai chính sách và đặc biệt là đối tượng phải đủ điều kiện mới được hưởng trợ giúp thường xuyên (Chính phủ, 2015). 8 Phòng Lao động - TB&XH là cơ quan tham thường trực giúp việc cho Chủ tịch UBND huyện là cấp có thẩm quyền được giao thực hiện công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn huyện (Chính phủ, 2015).

UBND các xã, thị trấn là cấp trực tiếp thực hiện chính sách trợ giúp xã hội cho các đối tượng (Chính phủ, 2015). Vai trò, ý nghĩa của trợ giúp xã hội Mục tiêu hướng tới của mỗi quốc gia trên thế giới đều là đạt được sự tiến bộ xã hội. Nghĩa là vừa phải bảo đảm tăng trưởng kinh tế, vừa bảo đảm phát triển xã hội (Nguyễn Hữu Dũng, 2008). Thước đo của phát triển xã hội là việc giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế.

Trong đó, có chăm sóc dân cư khó khăn, giải quyết vấn đề bất bình đẳng trong xã hội. TGXH là một trong những công cụ quản lý của Nhà nước và có vai trò chính sau: Thứ nhất, TGXH thực hiện chức năng bảo đảm an sinh xã hội (ASXH) của Nhà nước: Thông qua luật pháp, chính sách, các chương trình TGXH, Nhà nước can thiệp và tác động giữ ổn định xã hội, ổn định chính trị, phân hoá giàu nghèo và giảm phân tầng xã hội, tạo sự đồng thuận xã hội giữa các nhóm xã hội trong quá trình phát triển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ