Luận Văn: Quản Lý Kinh Doanh Dịch Vụ Văn Hóa Tại Thành Phố Hòa Bình

Luận văn quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa tại Hòa Bình: Nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng, giải pháp phát triển dịch vụ văn hóa hiệu quả, bền vững.

Chuyên ngành

Quản Lý Văn Hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2014

99
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ KINH DOANH DỊCH VỤ VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

1.1. Lý luận chung về quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa

1.1. Khái niệm quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa

1.2. Phân loại dịch vụ văn hóa

1.3. Nội dung và phương thức quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa

1.4. Tổng quan về thành phố Hòa Bình

1.5. Điều kiện địa lý tự nhiên và phát triển kinh tế - xã hội

1.6. Về lịch sử, văn hóa - xã hội

1.7. Đặc trưng của công tác quản lý văn hóa ở thành phố Hòa Bình

1.8. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KINH DOANH DỊCH VỤ Ở THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

2.1. Bộ máy tổ chức và cơ chế quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa

2.2. Bộ máy tổ chức của Phòng văn hóa thông tin thành phố Hòa Bình

2.3. Cơ chế quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa ở thành phố Hòa Bình

2.4. Công tác quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa ở thành phố Hòa Bình

2.5. Hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa ở thành phố Hòa Bình

2.6. Hoạt động quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa ở thành phố Hòa Bình

2.7. Đánh giá chung

2.8. Nguyên nhân

2.9. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ KINH DOANH DỊCH VỤ VĂN HÓA Ở THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

3.1. Định hướng chung

3.2. Định hướng cụ thể

3.3. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa ở thành phố Hòa Bình

3.4. Giải pháp về tuyên truyền, giáo dục nhận thức

3.5. Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực cho công tác quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa

3.6. Giải pháp về chính sách phát triển kinh doanh dịch vụ văn hóa

3.7. Giải pháp về hoàn thiện hệ thống văn bản pháp qui trong quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa

3.8. Giải pháp thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong kinh doanh dịch vụ văn hóa

3.9. Tăng cường trang thiết bị, áp dụng công nghệ khoa học trong lĩnh vực quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa

3.10. Kiến nghị với Nhà nước, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

3.11. Kiến nghị với các cấp lãnh đạo của thành phố Hòa Bình

3.12. Một số đề nghị với cấp ủy, chính quyền cơ sở ở thành phố Hòa Bình

3.13. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng Quan Luận Văn Quản Lý Kinh Doanh Dịch Vụ Văn Hóa

Luận văn này tập trung nghiên cứu về quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa (KDDVVH) tại thành phố Hòa Bình, một địa phương giàu truyền thống văn hóa nhưng cũng đang đối mặt với những thách thức trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập. KDDVVH đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của người dân, đồng thời tạo ra nguồn thu nhập và việc làm. Tuy nhiên, sự phát triển ồ ạt của các loại hình dịch vụ văn hóa, nếu không được quản lý chặt chẽ, có thể dẫn đến những hệ lụy tiêu cực, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục và an ninh trật tự xã hội. Luận văn đi sâu vào phân tích thực trạng KDDVVH tại Hòa Bình, đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong công tác quản lý, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các dịch vụ văn hóa, góp phần xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh và phát triển bền vững. Việc nghiên cứu KDDVVH ở Hòa Bình không chỉ mang tính lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn cấp bách, giúp các nhà quản lý văn hóa có cơ sở khoa học để đưa ra các quyết định chính sách phù hợp, đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương trong bối cảnh hiện nay. Luận văn kế thừa các thành tựu nghiên cứu trước đây, đồng thời tập trung vào các khía cạnh đặc thù của KDDVVH tại Hòa Bình, một tỉnh miền núi với nhiều dân tộc anh em sinh sống, nơi văn hóa truyền thống đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Nghiên cứu này hướng đến việc làm rõ những mặt tích cực và những tồn tại của các dịch vụ văn hóa, cũng như công tác quản lý các hoạt động KDDVVH như: lưu hành, kinh doanh băng, đĩa ca nhạc, sân khấu, biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; hoạt động trò chơi điện tử và các hình thức vui chơi khác. Luận văn đề xuất các giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa ở TP Hòa Bình.

1.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Nghiên cứu về quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa tại Hòa Bình có ý nghĩa lý luận quan trọng trong việc làm sáng tỏ các khái niệm, phạm trù liên quan đến KDDVVH trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Nó góp phần bổ sung và phát triển lý thuyết về quản lý văn hóa, đặc biệt là trong điều kiện các địa phương đang nỗ lực bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Đồng thời, nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp thông tin, phân tích và đánh giá thực trạng KDDVVH tại Hòa Bình, giúp các nhà quản lý văn hóa và các cơ quan chức năng có cơ sở để xây dựng các chính sách, quy định phù hợp, nhằm thúc đẩy sự phát triển lành mạnh và bền vững của các dịch vụ văn hóa.

1.2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Mục tiêu chính của luận văn là tìm hiểu thực trạng quản lý KDDVVH tại TP Hòa Bình, đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong quản lý, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của dịch vụ văn hóa ở TP Hòa Bình. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hoạt động và quản lý hoạt động KDDVVH như: lưu hành, kinh doanh băng, đĩa ca nhạc, sân khấu; biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; viết đặt biển hiệu, hoạt động trò chơi điện tử và các hình thức vui chơi khác, trên địa bàn TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình từ năm 2009 đến nay. Thời điểm năm 2009 là năm NĐ-CP/103/2009 được ban hành về “quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng” và có hiệu lực thi hành.

II. Phân Tích Vấn Đề Quản Lý Kinh Doanh Dịch Vụ Văn Hóa

Thực trạng KDDVVH tại thành phố Hòa Bình cho thấy sự phát triển đa dạng của các loại hình dịch vụ, từ các dịch vụ truyền thống như karaoke, băng đĩa đến các dịch vụ hiện đại như trò chơi điện tử, biểu diễn nghệ thuật. Tuy nhiên, công tác quản lý còn bộc lộ nhiều hạn chế, dẫn đến tình trạng vi phạm các quy định pháp luật, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội và thuần phong mỹ tục. Một trong những vấn đề nổi cộm là tình trạng kinh doanh karaoke trá hình, mại dâm, sử dụng chất kích thích trong các phòng hát. Bên cạnh đó, tình trạng vi phạm bản quyền, kinh doanh băng đĩa lậu vẫn diễn ra phổ biến, gây thiệt hại cho các nhà sản xuất và ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng. Việc quản lý các dịch vụ trò chơi điện tử cũng gặp nhiều khó khăn do nội dung không lành mạnh, bạo lực, đồi trụy, ảnh hưởng đến tâm lý và hành vi của giới trẻ. Ngoài ra, hoạt động biểu diễn nghệ thuật còn nhiều hạn chế về chất lượng, nội dung, trang phục, hóa trang, gây phản cảm trong dư luận. Những vấn đề này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với KDDVVH, đồng thời nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các chủ thể kinh doanh và người dân. Để quản lý được các hoạt động kinh doanh của các loại hình dịch vụ trên, để vừa đáp ứng được yêu cầu thưởng thức văn hóa của người dân song vẫn gìn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc, loại trừ những yếu tố độc hại ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống tinh thần của người dân là điều cần được quan tâm.

2.1. Thực trạng vi phạm quy định trong kinh doanh karaoke

Karaoke là một loại hình hoạt động văn hoá sử dụng phương thức kỹ thuật điện tử hiện đại, đang trở thành dịch vụ văn hóa hấp dẫn công chúng, nhất là giới trẻ. Nếu sử dụng các loại hình ca nhạc này một cách nghiêm túc, đúng nghĩa thì hoạt động này góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hoá tinh thần cho mọi tầng lớp quần chúng, nhân dân. Tuy nhiên thực tế hoạt động karaoke đã bị sử dụng méo mó, nhiều cửa hàng kinh doanh karaoke trá hình, thượng đế đến với dịch vụ hát thì ít mà chủ yếu là đến vì các tiếp viên trẻ đẹp là chính. Đáng lo ngại và báo động hơn là giới trẻ hiện nay sử dụng phòng hát karaoke trở thành tụ điểm các chất kích thích như thuốc lắc, ma túy tổng hợp.

2.2. Tình trạng kinh doanh băng đĩa lậu và vi phạm bản quyền

Cùng với sự chiếm lĩnh thị trường của băng đĩa nội trong mấy năm qua, một thực trạng đang được báo giới, dư luận quần chúng, và các cơ quan thẩm quyền quan tâm và hết sức bất bình là hiện tượng các doanh nghiệp đang phải đối đầu với tệ nạn ăn cắp bản quyền in sang, sao chép băng đĩa lậu, làm đĩa giả, băng đĩa không tem nhãn tới mức báo động. Tại các cửa hàng tư nhân, băng đĩa lậu chiếm tới 60% - 70% thậm chí có cửa hàng kinh doanh 90% băng đĩa lậu.

2.3. Khó khăn trong quản lý dịch vụ trò chơi điện tử

Tại các cửa hàng kinh doanh trò chơi điện tử hiện nay ngoài việc truy cập các thông tin bổ ích thì sử dụng trang Web (website) có nội dung kích động bạo lực, đồi trụy là khá phổ biến. Thậm chí, một số kẻ đã sử dụng loại hình dịch vụ này để tuyên truyền, phát tán và thu nhận thông tin tài liệu có nội dung chính trị phản động, chống đối chế độ xã hội chủ nghĩa. Hiện nay việc quản lý mạng thông tin do ngành TTTT quản lý, còn nội dung dịch vụ trò chơi điện tử do ngành văn hóa quản lý. Quy định như trên đã tạo ra nhiều khó khăn, bất cập cho công tác phối hợp quản lý nhà nước với loại hình dịch vụ này đối với các ngành liên quan.

III. Hướng Dẫn Giải Pháp Nâng Cao Quản Lý Dịch Vụ Văn Hóa

Để nâng cao hiệu quả quản lý KDDVVH tại thành phố Hòa Bình, cần triển khai đồng bộ các giải pháp trên nhiều lĩnh vực. Trước hết, cần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy, quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan chức năng và các chủ thể kinh doanh. Đồng thời, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về pháp luật và các giá trị văn hóa truyền thống. Cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa, nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức. Cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật. Bên cạnh đó, cần khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào công tác quản lý văn hóa, tạo điều kiện cho người dân giám sát, phản biện và đóng góp ý kiến. Ngoài ra, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý, xây dựng cơ sở dữ liệu về các dịch vụ văn hóa, tạo điều kiện cho việc quản lý, giám sát và báo cáo. Cuối cùng, cần tăng cường hợp tác giữa các cơ quan chức năng, các tổ chức xã hội và các doanh nghiệp trong việc xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh và phát triển bền vững.

3.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy và quy định

Để quản lý các dịch vụ văn hóa, Chính phủ và Bộ VHTT các cấp, các ngành địa phương đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, từng bước hoàn chính hệ thống văn bán pháp quy, thể chế hóa các đường lỗi của Đảng và Nhà nước đối với KDDVVH, tạo môi trường pháp lý cho hoạt động sản xuất KDDVVH. Cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp quy, quy định để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất và phù hợp với thực tiễn.

3.2. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng

Để tác động vào con người không chỉ là phương pháp hành chính, kinh tế mà cần phải giáo dục, thuyết phục, tác động tới tinh thần tình cảm, tâm lý xã hội. Phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở vận dụng quy luật tâm lý. Đặc trưng của phương pháp này là tính thuyết phục, làm cho con người nhận thức được phải trái, đúng sai, thiện ác, từ đó nâng cao tính tích cực công dân của họ.

3.3. Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý văn hóa

Nâng cao chất lượng cán bộ, lập quy hoạch, kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ trong từng giai đoạn. Chủ trọng đến công tác đào tạo cán bộ ở các đơn vị cơ sở, đặc biệt là cán bộ chuyên trách VHTT xã, phường, thị trấn, đã tổ chức được nhiều lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cơ sở, cử cán bộ theo học các lớp đại học, trung học tại chức và chính quy ở các trường TW, đến nay cơ bản đã đảm bảo được lương đối về mức chuẩn hóa cán bộ ở đơn vị cơ sở.

IV. Ứng Dụng Hiệu Quả Quản Lý Kinh Doanh Dịch Vụ Văn Hóa

Việc triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý KDDVVH sẽ mang lại những hiệu quả thiết thực. Thứ nhất, sẽ góp phần xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của người dân, đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Thứ hai, sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp KDDVVH phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Thứ ba, sẽ góp phần ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, đảm bảo an ninh trật tự xã hội và thuần phong mỹ tục. Thứ tư, sẽ nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về văn hóa, tạo niềm tin trong nhân dân. Để đạt được những hiệu quả này, cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và sự tham gia tích cực của cộng đồng.

4.1. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh và đa dạng

Thực hiện chính sách văn hóa phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng, truyền thống đại đoàn kết dân tộc, tinh thần độc lập, tự chủ tự cường trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; nâng cao chất lượng toàn diện xây dựng và phát triển văn hóa với đặc trưng tiêu biểu là dân tộc, khoa học, hiện đại, dân chủ và nhân văn sâu sắc.

4.2. Phát triển bền vững các doanh nghiệp dịch vụ văn hóa

Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp không ngừng đổi mới, cải thiện, áp dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất, giữ mức giá cả hợp lý, đưa ra sản phẩm có quy mô, mẫu mã, hình thức mới, đẹp, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Bên cạnh đó phải có biện pháp nhằm thu hút sự chú ý của khách hàng, duy trì chỗ đứng trên thị trường.

4.3. Đảm bảo an ninh trật tự và thuần phong mỹ tục

Nhà nước chuyển dần từ điều tiết các cơ quan văn hóa (do nhà nước lập ra) sang điều tiết toàn bộ hoạt động trong nền văn hóa gắn với cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế. Nhà nước chuyển từ chỗ phân bổ vốn đầu tư, phê duyệt các dự án, xác định các chỉ tiêu là chủ yếu, sang xây dựng các quy hoạch, các chiến lược phát triển văn hóa, chính sách văn hóa quan trọng.

V. Kết Luận Triển Vọng Quản Lý Kinh Doanh Dịch Vụ Văn Hóa

Quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa ở thành phố Hòa Bình là một nhiệm vụ quan trọng và đầy thách thức. Để đạt được những thành công trong lĩnh vực này, cần có sự nỗ lực không ngừng của các cơ quan chức năng, sự tham gia tích cực của cộng đồng và sự đồng hành của các doanh nghiệp. Với những giải pháp và định hướng đã được đề xuất, tin rằng công tác quản lý KDDVVH tại Hòa Bình sẽ ngày càng được nâng cao, góp phần xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh, đa dạng và phát triển bền vững, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

5.1. Vai trò của quản lý nhà nước trong KDDVVH

Quản lý KDDVVH ở cấp TP và TP miền núi có vai trò quan trọng trong việc thực hiện đường lối, chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Đảng và Nhà nước. Công tác quản lý KDDVVH cơ sở thực chất là quá trình tác động, điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước thông qua pháp luật trên tất cả các hoạt động KDDVVH trong đời sống xã hội, đòi hỏi những nội dung, phương pháp, chính sách đồng bộ, ứng dụng linh hoạt vào từng điều kiện cụ thể thực tế của các hoạt động dịch vụ văn hóa đang diễn ra trên địa bàn.

5.2. Hướng tới sự phát triển bền vững của KDDVVH

Để đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần xã hội, tạo nên sự phát triển đồng bộ và toàn diện của ba lĩnh vực trên là điều kiện quyết định đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước.

11/09/2025
Luận văn quản lý kinh doanh dịch vụ văn hóa ở thành phố hòa bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tỷ luận chung về quân lý kính doanh dich vụ vấn hảa va téng quan về “hành phố Hòa Bình Chương 2: Thực trạng quần lJÿ kinh doanh địch vụ văn hóa ở thành phố Hàa Bình. Chương 3: Định hưởng và giải pháp nâng cao hiện quả quản lỆ lành doanh dich vu vin héa ở thành phổ Hòa Bình.Ý TUẬN CHUNG VẺ QUÁNT.Ý KINH DOANH DỊCH VỤ VĂN HÓA VA TONG QUAN VE THANH PHO HOA BINH 1. Lý luận chung về quản lý kinh đoanh dịch vụ văn hóa 1. Khải niệm quân lý kink doanh địch vụ năn hỏa 1.

Khái niệm kinh doanh dịch vụ văn hóa hi nói vẻ địch vụ văn hoá cỏ thê hiểu theo hai cấp độ: theo nghĩa rồng, và theo nghĩa hẹp. Có thé noi toàn bộ giả trị vật chất và tỉnh thân đều được coi là những sản phẩm của văn hoá. Do vay trong bat ki hoat déng địch vụ nào cũng chúa đựng yêu tổ văn hoá. Nó là tâm hỗn, tỉnh cổm và trí tuệ của con người được kết tĩnh trong từng sản phẩm, chẳng hạn địch vụ thương nghiệp không đơn thuận là hoạt động đáp ứng nhu câu của xã hội về mat vat cht ma con od kha năng kích thích năng lực thẫm mỹ của người mua lẫn người bán thông qua các sán phẩm với hình thức đẹp, chất lượng tốt, có giá trị thâm mỹ cao.

Mặt khắc nó còn thê hiện khả rằng ứng xử có văn hoá giữa con người với cơn người cũng như can người với tự nhiên, xã hội Theo nghữa hẹp, dịch vụ văn hoá là những hoạt động kinh doanh trong lình vực văn hoá mà ngành văn hóa thông tìn quân lý về nội dung và các ngành khác có vai trò quản lý về phương diện kinh tễ - xã hội, hành chỉnh. Tiiện nay, vấn đẻ địch vụ văn hoá được nhiều nha khoa học nghiên củu, tiếp cận ở những góc độ khác nhau, do đó có nhiều quan niệm khác nhau nhưng có điểm tương đồng lả: coi dịch vụ văn hoá như một hoạt đồng đặc thù, là mệt hình thức truyền tải các giá trị văn hoá tới khách thể - công chúng, ¬ + van hoa, cu the: 13 Coi địch vụ văn hoả là một tổ hợp các hình thức tổ chức lao động, nhằm đáp ứng nhu cầu văn hoá của người đân, thông qua các cơ sở dịch vụ. văn hoá hoặc các hình thức tổ chức, phương thúc hoạt đồng, của các thiết chế văn hoá khác. Dịch vụ văn hoá như một hình thức cung cấp, không phải là hang hoá vật chất mà là cưng cấp dịch vụ cỏ hình thức kỹ thuật riêng trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật Qua các quan niệm đỏ có thể hiểu: địck vụ văn háa là một hoạt động đặc thù, thông quu các cơ sỡ dịch vụ, các thiết chế văn hóa dé dwa văn hóa đến với công chúng một cách nhanh nhất, biêu quả nhất nhằm đáp ứng năư cầu văn hóa của người đâu.

- Theo một phương điện nào đỏ, hoạt động địch vụ văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu vẫn hỏa cho số đồng, có tổ chức và được trả công. Hoạt động dịch vụ văn hóa là những quả trằnh thực hành của cả nhân và các thiết chế xã hội trong việc sản xuất, bảo quản, phân phối, giao lưu và tiểu dùng những giá trị văn hóa tinh thần. Nhằm phổ biến, truyền bá những tư tưởng, ý nghĩa và những sản phảm vần hóa của con người và cũng chính là để nêng cao chất lượng sống của cơn người trong xã hội. KDDVVH ià các hoạt động nhằm tạo ra lợi nhuận cho cá nhân, tẫ chức từ sân phẩm văn hóa, dich vu van hỏa của củ nhân hoặc tổ chức đó, 1.

Khái niệm quán lý kinh doanh dịch vụ văn hóa - Có nhiều cách tiếp cận nghiên cứu vẻ hoạt động quản lý, chúng ta cỏ thể hiểu như sau: Quản lý là sự tác động có tô chức, có hướng đích của chủ thể quân lý đến đối tượng và khách thé quản lÚ nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguân lực, các thời cơ của lễ chức dễ đại mục tiêu đặt ra trang điều kiện môi trường luôn biến động, 14 Trên cơ sở đó có thể xác định Quân lý KDDVVH như sau: Quân jý KDDVVH là sự tác động cả tô chức và điều chỉnh bằng quyền tực nhà nưức đối với các hoạt động KDDVVH nhằm thôa mãn như cầu văn hảa của nhân dẫn. Phân loại dịch vụ văn hóa Tiiện nay Nhà nước quy định vẻ địch vụ văn hóa như sau: Theo diéu 2 Hạt động văn hóa và KDDVVH công cộng, ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 1Ì năm 2009 gủa Chính phủ quy đụ “lưu hành, kinh doanh bằng, đĩa ca nhạc, sân khẩu, biển điễn nghệ thuật, trinh: diễn thời trang; triển lãm văn ho, nghệ thuật; tổ chúc lễ hội; viết, đặt biển. hiệu; hoạt động vũ trường, karaoke, trỏ chơi điện tử, các hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá và các hình thức vui chơi giải trí khác”, Cần cứ vào các bộ huật của Quốc hội ban hành và căn cứ vào những yêu. cân của thực tiễn, Chính phủ tiếp tục ban hành cảc Quyết định, Nghị định hướng dẫn thả hành luật và thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước của Chỉnh phủ đổi voi da trường KDDVVH.

Đỏ là một số Nghi định, Quyết định. quan lrọng như. “Nghi định 9?/CP ngày 6/11/1993 của Chính phủ quy định chi tiết thì hành luật xuất bản”, “Nghi định số 87/CP ngày 12/12/1995 của Chính phủ về tăng cường công tác quản lý các hoạt động văn hóa và địch vụ văn hóa, đây mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiềm trọng”, “Quy chế lưu hanh kinh. doanh băng, đĩa hình, đĩa ca nhạc, bản và cho thuê xuất bản phẩm quảng cáo, viết đặt biển hiện” (ban hành theo Nghỉ quyết 87/CP ngày 12/12/1995 của Chỉnh phủ), Nghỉ định 88/CP ngày 14/12/1993 về xử phạt vi phạm hành chính trong các hoạt động văn hóa.

Nghị định 103/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2009 của Chính phú quy định về việc ban hành quy chế loạt động văn hởa và KDDVVH công cộng. cùng nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác. A Các van ban pháp luật này IA co 36 tién đề để Bộ VHTTDL va các cơ quan quản lý thị trường KDIDVVII thực hiện các công tác quản lý nhà mước đối với hoạt động sản xuất EDDVVH trên thị trường cả nước. Trên cơ sở các quy đính của Chỉnh phú, Bộ VHTTDI.

tiếp te ra các Thông tu hướng dẫn quy định hoạt động sản xuất KDDVVH va uực tiếp chỉ đạo các cơ quan trực thuộc thực hiện vai trò quản lý Nhà nước của mình trong đó có nhiều thông tư quan trọng như: Thông tư số 04/2009/TT-Bộ VIITTDL ngày 16 tháng 12 năm 2009 của Bộ VHTTDL quy định chỉ tiết thi hành một sổ quy định lại Quy chế hoại động văn hòa và KDDVVH vồng công bạn hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ. Các văn bản pháp luật này là cơ sở pháp lý để các cơ quan quán lý Nhà nước về thi trường KDDVVIT thực hiện chức nắng quân lý của mình Theo quy chế trên của Chính phủ, chúng ta có thể làm rõ đặc trưng các hình thức dịch vụ văn hoả như sau: - Lưu hành, kinh doanh bang, dia ca nhạc, sân khẩu Đăng, đĩa ca nhạc, sân khấu bao gằm: băng cát - xét, băng video, đĩa CD, VCD, DVD, CD-ROM, đĩa vi tính, IƠ chips, LUSB và các loại phương tiện, thiết bị, vật liệu khác co nội dung ca nhạc, sân khẩu, thời trang, hoa hậu, hoa khôi, người đẹp, thể thao, sau đây gọi chung là băng, đĩa ca nhạc, sân khâu. Bang, đĩa ca nhạc, sân khẩu được sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu. phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền duyệt và cấp giấy phép mới được lưu hành rộng rãi.

Bằng, đĩa ca nhạc, sân khẩu được phép lưu hành rộng rãi phải đán nhân kiểm soát theo quy định. Tổ chức, cả nhậm kinh doanh băng, đấa cá nhạc, khẩu chỉ được nhân. bản và phổ biến bằng, đĩa đã được phép lưu hảnh, bán, cho thuê băng, đĩa đã đán nhãn kiểm soát theo quy định. 16 - Biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang Tổ chức, cá nhân tổ chức biểu điến nghệ thuật, trình điễn thời trang trước công chúng phải có giấy phép công điển gủa cơ quan nhà nước có thậm quyền.

Với đặc điểm tế chức thành các chương trình, vở diễn theo chủ để, quy mô, phạm vi khác nhau: có những chương trình, vở điển hoành tráng, cổng, phu và có những chương trình, vở điễn gọn nhẹ trong các nhà hàng, khách sạn hoặc các quản cafs âm nhạc, bóng đá âm nhạc. Thi các cơ sở kinh đoanh sử đụng loại hình địch vụ nảy người quân lý hạch toán thu chỉ vả tìm mọi cách làm sao để thu lợi nhuận cho chủ cơ sở kinh doanh. Vi lợi nhuận người ta tìm mọi cách để thỏa mãn nhu cầu của khách hang (thậm chí là những như câu thái quá), chính vì vậy chúng ta cần quan tâm đến chất lượng vỡ diễn, chất lượng chương trình. - Tioạt động trò chơi điện tử và các hình thức vui chơi khác Bao gồm: Gaane, địch vụ thông thr email, chát, facebook, xem phù trực tuyển,.

Với sự phát triển ruạnh mẽ của khoa học công nghệ, cùng với sự phát triển của xã hội và nhú cầu cuộc sống ngảy cảng cao, dịch vụ thông tin da chứng tỏ được sự vô cùng tiện ích và là thứ không thể thiểu trong cuộc sống hiện đại. Chỉ cân ngồi một chỗ chứng ta có thể liên lạc với toàn thể giới, theo dõi những tiến biển muởi nhất của hành tĩnh, cập nhật thông lần hay tìm kiếm kiến thức một cảch nhanh chỏng và chính xác. Giao lưu trực tuyển bằng, hình ảnh, tiếng noi và chữ viết. Sự tiện lợi và hữu ích của địch vụ thông tin là không thể phủ nhận.

Nhung bên cạnh đó, mặt trái của địch vụ thông tỉa đã gây hậu quả khôn lường, đó là tình trạng gây thật giả lẫn lồn về thông tin, thể giới ảo trên mang đã khiểu một bộ phân thanh thiểu niên quên đi thế giới thực tại, đấm chùm vào 17 thế giới ảo gây ra các tác động tiêu cực về tỉnh thân và thể chất. Ngoài ra cỏ những người lợi đụng địch vụ thêng tin để đưa đến người xem những phim, ảnh có nội dung đổi truy, trái với thuần phong mỹ tục của đân tộc ta. - Viết, đại biển hiệu Để tổn tại và phát triển trong nền kimh tế thị trường đời hỏi các doanh nghiệp không ngừng đổi mới, cải thiện, áp đụng các thành tựu khoa học vào sản xuất, giữ mức giá cá hợp lý, dua sin phim cỏ quy mô, mẫu mã, hình thức mới, đẹp, phủ hợp với thị hiểu người tiêu dùng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ