Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại Tiểu học Khương Đình

Luận văn thạc sĩ giáo dục phân tích quản lý giáo dục quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường tiểu học khương đình, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

88
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động dạy học theo năng lực

Quản lý hoạt động dạy học theo năng lực tại trường tiểu học Khương Đình, Hà Nội, cần được hiểu rõ từ khái niệm đến thực tiễn. Quản lý dạy học không chỉ đơn thuần là việc tổ chức, mà còn là quá trình định hướng, hỗ trợ và phát triển năng lực học sinh. Theo đó, hoạt động dạy học được xem là một bộ phận của quá trình giáo dục toàn diện, nơi giáo viên và học sinh tương tác để truyền thụ và lĩnh hội tri thức. Việc áp dụng phương pháp dạy học theo tiếp cận năng lực giúp học sinh phát triển toàn diện, từ kiến thức đến kỹ năng thực hành. Điều này không chỉ đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục hiện hành mà còn phù hợp với xu thế đổi mới giáo dục toàn cầu.

1.1. Khái niệm hoạt động dạy học

Hoạt động dạy học tại trường tiểu học Khương Đình được định nghĩa là quá trình tương tác giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ tri thức và phát triển năng lực học sinh. Theo tác giả Hà Thế Ngữ, hoạt động này không chỉ là việc truyền đạt kiến thức mà còn là sự hình thành phẩm chất và năng lực sáng tạo của học sinh. Giáo viên tiểu học đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức và điều khiển hoạt động học, giúp học sinh tự giác và tích cực trong việc chiếm lĩnh tri thức. Điều này thể hiện rõ trong các phương pháp dạy học hiện đại, nơi học sinh không chỉ là người tiếp nhận mà còn là người tham gia tích cực vào quá trình học tập.

II. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tại trường tiểu học Khương Đình

Tại trường tiểu học Khương Đình, việc quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực đã có những bước tiến đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần giải quyết. Thực trạng cho thấy, giáo viên chưa hoàn toàn nắm vững các phương pháp dạy học mới, dẫn đến việc áp dụng chưa hiệu quả. Đánh giá năng lực học sinh cũng chưa được thực hiện một cách đồng bộ và khoa học. Các yếu tố như cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng dạy học. Việc khảo sát thực trạng cho thấy, cần có sự cải tiến trong quản lý giáo dục để nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

2.1. Khái quát về tình hình giáo dục tại trường

Trường tiểu học Khương Đình hiện đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc thực hiện chương trình giáo dục mới. Số lượng học sinh đông, trong khi đội ngũ giáo viên tiểu học còn thiếu về số lượng và chất lượng. Điều này ảnh hưởng đến khả năng tổ chức các hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực. Hơn nữa, việc đánh giá năng lực học sinh chưa được thực hiện một cách đồng bộ, dẫn đến việc chưa phát hiện và bồi dưỡng kịp thời những năng khiếu của học sinh. Cần có những biện pháp cụ thể để cải thiện tình hình này, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tại trường.

III. Biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực

Để nâng cao chất lượng quản lý hoạt động dạy học tại trường tiểu học Khương Đình, cần đề xuất một số biện pháp cụ thể. Trước hết, cần tổ chức các khóa bồi dưỡng cho giáo viên về phương pháp dạy học theo tiếp cận năng lực. Thứ hai, cần xây dựng hệ thống đánh giá năng lực học sinh một cách khoa học và đồng bộ, giúp giáo viên có cơ sở để điều chỉnh phương pháp dạy học. Cuối cùng, cần cải thiện cơ sở vật chất và thiết bị dạy học, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các hoạt động dạy học. Những biện pháp này không chỉ giúp nâng cao chất lượng dạy học mà còn góp phần phát triển toàn diện năng lực của học sinh.

3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp

Các biện pháp quản lý cần được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc như tính khả thi, tính đồng bộ và tính bền vững. Cần đảm bảo rằng các biện pháp này phù hợp với thực tiễn của trường tiểu học Khương Đình, đồng thời có thể áp dụng rộng rãi trong các trường khác. Việc tham khảo ý kiến của giáo viêncán bộ quản lý trong quá trình xây dựng các biện pháp cũng là rất cần thiết, nhằm đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường tiểu học khương đình quận thanh xuân thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho quá trình GD trong nhà trường phổ thông, tiếp nối quá trình GD tiểu học là quá trình GD phổ thông cơ sở, quá trình GD tiểu học phải xây dựng ở HS phổ thông những cơ sở quan trọng của nhân cách người công dân người lao dộng tương lai. Trong quá trình GD tiểu học cần lưu ý: - GD HS những chuẩn mực hành vi ngày càng có tính khái quát từ lớp dưới lên lớp trên. - Nâng cao dần cơ sơ lý luận của các chuẩn mực hành vi, giúp HS hiểu các ý nghĩa, tác dụng của việc thực hiện hành vi. - Tăng cường những hoạt động GD có nội dung ngày càng phong phú, hình thức hấp dẫn, phạm vi ngày càng mở rộng.

- Hình thành ở HS những kỹ năng sống cơ bản như lập kế hoạch, hợp tác, tổ chức,. - Hát huy ý thức và năng lực tự quản của các em. Như vậy cần đảm bảo cho quá trình GD tiểu học những điều: - Liên thông, tiếp tục quá trình ở mẫu giáo, kế thừa những kết quả tích cực, khắc phục những kết quả tiêu cực. 9 - Liên thông, chuẩn bị cho quá trình GD phổ thông.

Nội dung của hoạt động dạy học ở trường tiểu học Hoạt động giáo dục trong trường tiểu học được quy định tại Điều 29 Văn bản hợp nhất 03/VBHN-BGDĐT năm 2014 hợp nhất Thông tư về Điều lệ Trường Tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành như sau [9]: - Hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm rèn luyện đạo đức, phát triển năng lực, bồi dưỡng năng khiếu, giúp đỡ học sinh yếu phù hợp đặc điểm tâm lý, sinh lý lứa tuổi học sinh tiểu học. - Hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp chính là hoạt động dạy học được tiến hành thông qua việc dạy học các môn học bắt buộc và tự chọn trong Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực 1. Khái niệm năng lực Qua các tài liệu trong nước cũng như ngoài nước có thể quy năng lực vào các phạm trù sau đây: - Năng lực được quy vào phạm trù khả năng (ability, capacity, possibility) Đây là hướng tiếp cận năng lực thường thấy trong các tài liệu nghiên cứu của nước ngoài.

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế Thế giới (OECD) quan niệm năng lực là “khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể” [dẫn theo 4, tr. Weinert cho rằng năng lực là “tổng hợp các khả năng và kỹ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của HS nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp” [103]. Coolahan: năng lực được xem như là "những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành giáo dục" [dẫn theo 4, tr. Tremblay, năng lực là “khả năng hành động thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống” [dẫn theo 4, tr.

- Năng lực được quy vào những thuộc tính cá nhân Đây là hướng tiếp cận năng lực thường thấy trong các tài liệu nghiên cứu trong nước. Phạm Minh Hạc xem năng lực là “một tổ hợp phức tạp những thuộc tính tâm lý của mỗi người, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra có kết quả” [21; tr. Nguyễn Quang Uẩn xem năng lực là “tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả" [37; tr. Theo Vũ Dũng, “Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định” [13, tr.

Khái niệm năng lực sử dụng trong luận văn của chúng tôi được hiểu là năng lực thực hiện, đó là việc sở hữu kiến thức, kỹ năng, thái độ và đặc điểm nhân cách mà một người cần có để đáp ứng các yêu cầu của một nhiệm vụ cụ thể; nói cách khác, phải biết làm (know-how), chứ không chỉ biết và hiểu (know-what). Cấu trúc của năng lực Theo các nhà Tâm lý học, nội dung và tính chất của hoạt động quy định thuộc tính tâm lý của cá nhân tham gia vào cấu trúc năng lực của cá nhân đó. Vì thế, thành phần của cấu trúc năng lực thay đổi tùy theo loại hình hoạt động. Tuy nhiên, cùng một loại năng lực, ở những người khác nhau có thể có cấu trúc không hoàn toàn giống nhau.

Ví dụ, cùng năng lực tổ chức nhưng năng lực này ở người thứ nhất được tạo ra bởi tính nhạy cảm trước những vấn đề của người khác. Còn ở người thứ hai lại được tạo ra bởi sự kết hợp hài hòa giữa lý và tình trong quan hệ với mọi người… Có những thuộc tính tâm lý phù hợp với nhiều hoạt động khác nhau nên chúng là thành phần của nhiều năng lực. Những thuộc tính như vậy được gọi là 11 những thuộc tính chung. Còn có những thuộc tính tâm lý chỉ phù hợp với một loại hoạt động nhất định.

Những thuộc tính như vậy được gọi là những thuộc tính chuyên biệt. Weinert, năng lực gồm ba yếu tố cấu thành là khả năng, kỹ năng và thái độ sẵn sàng tham gia hoạt động của cá nhân [dẫn theo 4]. Theo tác giả Phạm Minh Hạc, “trong những thuộc tính tâm lý của nhân cách cấu tạo nên một năng lực về một hoạt động nào đó bao giờ cũng có những thuộc tính có tầm quan trọng hàng đầu, còn những thuộc tính khác có vai trò bổ sung, hỗ trợ” [22; tr. Ví dụ, trong năng lực sư phạm giữ vị trí hàng đầu là tình yêu thương HS, sự hiến dâng những gì tốt đẹp nhất cho thế hệ trẻ.

Từ các ý kiến khác nhau về cấu trúc năng lực, có thể thấy, năng lực được cấu thành từ 3 yếu tố: tri thức, kỹ năng và các điều kiện tâm lý cho việc thực hiện hoạt động của cá nhân, trong đó kỹ năng được xem là yếu tố cốt lõi của năng lực. Phân loại năng lực Phân loại năng lực là một vấn đề rất phức tạp, phụ thuộc vào quan điểm, tiêu chí phân loại. Vì thế, có nhiều cách phân loại năng lực. Tuy nhiên, hiện nay cách phân loại năng lực đang được sử dụng phổ biến trong khoa học giáo dục là phân năng lực thành hai loại chính: năng lực chung (general competece) và năng lực chuyên biệt (subject-specific competecies).

Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội. Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều hoạt động. Một số tác giả còn gọi năng lực chung này là năng lực chính với các thuật ngữ khác nhau như năng lực nền tảng, năng lực chủ yếu, năng lực cốt lõi, năng lực cơ sở. Theo quan niệm của EU, mỗi năng lực chung cần: Góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng; Giúp cho các cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của một bối cảnh rộng lớn và phức tạp; Chúng có thể không quan trọng với các chuyên gia, nhưng rất quan trọng với tất cả mọi người [78].

Chẳng hạn, những thuộc tính về thể lực, về trí tuệ (quan sát, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng, 12 ngôn ngữ…) là những điều kiện cần thiết để giúp cho nhiều lĩnh vực hoạt động đạt kết quả. Có tác giả đã dựa trên 4 trụ cột giáo dục của UNESCO (Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để tự khẳng định) để xác định các năng lực chung: năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể. Các năng lực chung trong mối tương quan với 4 trụ cột giáo dục của UNESCO Còn năng lực chuyên biệt là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu cao và sâu hơn của một môn học/hoạt động nào đó. 13 Việc phân biệt năng lực chung và năng lực chuyên biệt là cần thiết nhưng giữa hai loại năng lực này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung, hỗ trợ cho nhau và do vậy ranh giới giữa chúng thường không thật rạch ròi.

Ví dụ, tư duy sáng tạo là năng lực chung, nhưng môn học nào cũng có yêu cầu sáng tạo như một năng lực chuyên biệt: sáng tạo toán học, sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo văn học, sáng tạo công nghệ… 1. Năng lực học sinh NLHS là khả năng làm chủ các hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ phù hợp với lứa tuổi và vận dụng chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề mà cuộc sống đặt ra cho chính các em. NLHS là một cấu trúc động, có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng. mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội, thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện đang thay đổi của xã hội.

Như vậy, NLHS bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ nhưng kiến thức, kỹ năng, thái độ đó phải qua sự vận dụng, qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo của chính các em thì mới trở thành NL. Nếu trong dạy học truyền thống, kiến thức, kỹ năng, thái độ là mục đích thì trong dạy học hiện đại kiến thức, kỹ năng, thái độ mới là phương tiện; còn NL mới là mục đích. Khung năng lực học sinh Tiểu học Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT sửa đổi Quy định đánh giá học sinh tiểu học kèm theo Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT trong đó có đánh giá sự hình thành và phát triển năng lực HS theo khung đánh giá sau [9]: Bảng 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quản lý hoạt động dạy học theo năng lực tại trường tiểu học Khương Đình, Hà Nội" tập trung vào việc áp dụng phương pháp quản lý dạy học dựa trên năng lực, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tại trường tiểu học Khương Đình. Tài liệu này cung cấp cái nhìn chi tiết về cách thức triển khai, các thách thức và lợi ích của việc quản lý dạy học theo năng lực, giúp nhà trường phát triển toàn diện năng lực học sinh. Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý giáo dục và giáo viên muốn cải thiện hiệu quả giảng dạy.

Để mở rộng kiến thức về quản lý giáo dục, bạn có thể tham khảo thêm Quản lý giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tiểu học Đoàn Thị Điểm, hoặc Quản lý hoạt động dạy học môn Khoa học tự nhiên lớp 6 tại Thái Nguyên. Nếu quan tâm đến quản lý đào tạo, Quản lý đào tạo theo đặt hàng tại Đại học Công nghiệp Dệt May Hà Nội cũng là tài liệu đáng đọc.