mở đầu cho quá trình GD trong nhà trường phổ thông, tiếp nối quá trình GD tiểu học là quá trình GD phổ thông cơ sở, quá trình GD tiểu học phải xây dựng ở HS phổ thông những cơ sở quan trọng của nhân cách người công dân người lao dộng tương lai. Trong quá trình GD tiểu học cần lưu ý: - GD HS những chuẩn mực hành vi ngày càng có tính khái quát từ lớp dưới lên lớp trên. - Nâng cao dần cơ sơ lý luận của các chuẩn mực hành vi, giúp HS hiểu các ý nghĩa, tác dụng của việc thực hiện hành vi. - Tăng cường những hoạt động GD có nội dung ngày càng phong phú, hình thức hấp dẫn, phạm vi ngày càng mở rộng.
- Hình thành ở HS những kỹ năng sống cơ bản như lập kế hoạch, hợp tác, tổ chức,. - Hát huy ý thức và năng lực tự quản của các em. Như vậy cần đảm bảo cho quá trình GD tiểu học những điều: - Liên thông, tiếp tục quá trình ở mẫu giáo, kế thừa những kết quả tích cực, khắc phục những kết quả tiêu cực. 9 - Liên thông, chuẩn bị cho quá trình GD phổ thông.
Nội dung của hoạt động dạy học ở trường tiểu học Hoạt động giáo dục trong trường tiểu học được quy định tại Điều 29 Văn bản hợp nhất 03/VBHN-BGDĐT năm 2014 hợp nhất Thông tư về Điều lệ Trường Tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành như sau [9]: - Hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm rèn luyện đạo đức, phát triển năng lực, bồi dưỡng năng khiếu, giúp đỡ học sinh yếu phù hợp đặc điểm tâm lý, sinh lý lứa tuổi học sinh tiểu học. - Hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp chính là hoạt động dạy học được tiến hành thông qua việc dạy học các môn học bắt buộc và tự chọn trong Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực 1. Khái niệm năng lực Qua các tài liệu trong nước cũng như ngoài nước có thể quy năng lực vào các phạm trù sau đây: - Năng lực được quy vào phạm trù khả năng (ability, capacity, possibility) Đây là hướng tiếp cận năng lực thường thấy trong các tài liệu nghiên cứu của nước ngoài.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế Thế giới (OECD) quan niệm năng lực là “khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể” [dẫn theo 4, tr. Weinert cho rằng năng lực là “tổng hợp các khả năng và kỹ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của HS nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp” [103]. Coolahan: năng lực được xem như là "những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành giáo dục" [dẫn theo 4, tr. Tremblay, năng lực là “khả năng hành động thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống” [dẫn theo 4, tr.
- Năng lực được quy vào những thuộc tính cá nhân Đây là hướng tiếp cận năng lực thường thấy trong các tài liệu nghiên cứu trong nước. Phạm Minh Hạc xem năng lực là “một tổ hợp phức tạp những thuộc tính tâm lý của mỗi người, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra có kết quả” [21; tr. Nguyễn Quang Uẩn xem năng lực là “tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả" [37; tr. Theo Vũ Dũng, “Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định” [13, tr.
Khái niệm năng lực sử dụng trong luận văn của chúng tôi được hiểu là năng lực thực hiện, đó là việc sở hữu kiến thức, kỹ năng, thái độ và đặc điểm nhân cách mà một người cần có để đáp ứng các yêu cầu của một nhiệm vụ cụ thể; nói cách khác, phải biết làm (know-how), chứ không chỉ biết và hiểu (know-what). Cấu trúc của năng lực Theo các nhà Tâm lý học, nội dung và tính chất của hoạt động quy định thuộc tính tâm lý của cá nhân tham gia vào cấu trúc năng lực của cá nhân đó. Vì thế, thành phần của cấu trúc năng lực thay đổi tùy theo loại hình hoạt động. Tuy nhiên, cùng một loại năng lực, ở những người khác nhau có thể có cấu trúc không hoàn toàn giống nhau.
Ví dụ, cùng năng lực tổ chức nhưng năng lực này ở người thứ nhất được tạo ra bởi tính nhạy cảm trước những vấn đề của người khác. Còn ở người thứ hai lại được tạo ra bởi sự kết hợp hài hòa giữa lý và tình trong quan hệ với mọi người… Có những thuộc tính tâm lý phù hợp với nhiều hoạt động khác nhau nên chúng là thành phần của nhiều năng lực. Những thuộc tính như vậy được gọi là 11 những thuộc tính chung. Còn có những thuộc tính tâm lý chỉ phù hợp với một loại hoạt động nhất định.
Những thuộc tính như vậy được gọi là những thuộc tính chuyên biệt. Weinert, năng lực gồm ba yếu tố cấu thành là khả năng, kỹ năng và thái độ sẵn sàng tham gia hoạt động của cá nhân [dẫn theo 4]. Theo tác giả Phạm Minh Hạc, “trong những thuộc tính tâm lý của nhân cách cấu tạo nên một năng lực về một hoạt động nào đó bao giờ cũng có những thuộc tính có tầm quan trọng hàng đầu, còn những thuộc tính khác có vai trò bổ sung, hỗ trợ” [22; tr. Ví dụ, trong năng lực sư phạm giữ vị trí hàng đầu là tình yêu thương HS, sự hiến dâng những gì tốt đẹp nhất cho thế hệ trẻ.
Từ các ý kiến khác nhau về cấu trúc năng lực, có thể thấy, năng lực được cấu thành từ 3 yếu tố: tri thức, kỹ năng và các điều kiện tâm lý cho việc thực hiện hoạt động của cá nhân, trong đó kỹ năng được xem là yếu tố cốt lõi của năng lực. Phân loại năng lực Phân loại năng lực là một vấn đề rất phức tạp, phụ thuộc vào quan điểm, tiêu chí phân loại. Vì thế, có nhiều cách phân loại năng lực. Tuy nhiên, hiện nay cách phân loại năng lực đang được sử dụng phổ biến trong khoa học giáo dục là phân năng lực thành hai loại chính: năng lực chung (general competece) và năng lực chuyên biệt (subject-specific competecies).
Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội. Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều hoạt động. Một số tác giả còn gọi năng lực chung này là năng lực chính với các thuật ngữ khác nhau như năng lực nền tảng, năng lực chủ yếu, năng lực cốt lõi, năng lực cơ sở. Theo quan niệm của EU, mỗi năng lực chung cần: Góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng; Giúp cho các cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của một bối cảnh rộng lớn và phức tạp; Chúng có thể không quan trọng với các chuyên gia, nhưng rất quan trọng với tất cả mọi người [78].
Chẳng hạn, những thuộc tính về thể lực, về trí tuệ (quan sát, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng, 12 ngôn ngữ…) là những điều kiện cần thiết để giúp cho nhiều lĩnh vực hoạt động đạt kết quả. Có tác giả đã dựa trên 4 trụ cột giáo dục của UNESCO (Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để tự khẳng định) để xác định các năng lực chung: năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể. Các năng lực chung trong mối tương quan với 4 trụ cột giáo dục của UNESCO Còn năng lực chuyên biệt là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu cao và sâu hơn của một môn học/hoạt động nào đó. 13 Việc phân biệt năng lực chung và năng lực chuyên biệt là cần thiết nhưng giữa hai loại năng lực này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung, hỗ trợ cho nhau và do vậy ranh giới giữa chúng thường không thật rạch ròi.
Ví dụ, tư duy sáng tạo là năng lực chung, nhưng môn học nào cũng có yêu cầu sáng tạo như một năng lực chuyên biệt: sáng tạo toán học, sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo văn học, sáng tạo công nghệ… 1. Năng lực học sinh NLHS là khả năng làm chủ các hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ phù hợp với lứa tuổi và vận dụng chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề mà cuộc sống đặt ra cho chính các em. NLHS là một cấu trúc động, có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng. mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội, thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện đang thay đổi của xã hội.
Như vậy, NLHS bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ nhưng kiến thức, kỹ năng, thái độ đó phải qua sự vận dụng, qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo của chính các em thì mới trở thành NL. Nếu trong dạy học truyền thống, kiến thức, kỹ năng, thái độ là mục đích thì trong dạy học hiện đại kiến thức, kỹ năng, thái độ mới là phương tiện; còn NL mới là mục đích. Khung năng lực học sinh Tiểu học Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT sửa đổi Quy định đánh giá học sinh tiểu học kèm theo Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT trong đó có đánh giá sự hình thành và phát triển năng lực HS theo khung đánh giá sau [9]: Bảng 1.