Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Biểu diễn toán học 1.1 Phân loại biểu diễn toán học Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam, biểu diễn là: “ghi bằng hình vẽ hoặc kí hiệu” [18, tr.147] Có nhiều định nghĩa khác nhau về biểu diễn (representation) trong giáo dục toán. Hầu hết các nhà nghiên cứu giáo dục toán phân biệt giữa biểu diễn trong (internal representation) và ngoài (external), trong đó biểu diễn ngoài là những biểu hiện của các ý tưởng hoặc khái niệm như biểu đồ, bảng biểu, đồ thị, sơ đồ, ngôn ngữ… và biểu diễn trong là các mô hình nhận thức mà một người có được trong trí óc họ. Tác giả Asli (1998, [32]) đã đề xuất vai trò của các biểu diễn toán trong dạy học như sau: Các biểu diễn là một phần không tách rời của toán học; Các biểu diễn là những cụ thể hóa khác nhau của một khái niệm nào đó; Các biểu diễn được sử dụng để giảm bớt độ khó của vấn đề; Các biểu diễn nhằm làm cho toán học hấp dẫn và thú vị hơn. Bruner, nhà tâm lý học nhận thức người Mỹ đã mô tả các giai đoạn phát triển của biểu diễn theo trình tự từ biểu diễn thực tế đến biểu diễn ký hiệu như sau (Tadao Nakahara, 2007, [48]): Hình 1.
Các giai đoạn phát triển có tính trình tự của biểu diễn 1 Bruner cũng chỉ ra rằng có thể chia biểu diễn thành ba phạm trù từ thấp đến cao như sau [48]: + Thực tế: gồm các biểu diễn thực tế và các biểu diễn thao tác được. + Biểu tượng: các BDTQ sử dụng các hình ảnh, đồ thị, sơ đồ, biểu bảng. + Ký hiệu: gồm có biểu diễn ngôn ngữ và biểu diễn ký hiệu. Trong ba phạm trù biểu diễn ở trên, BDTQ đóng vai trò trung gian nối kết biểu diễn thực tế với biểu diễn ký hiệu.
Một minh họa về biểu diễn toán Loại biểu Ví dụ trong chủ đề đạo Đặc trưng diễn Hàm Biểu diễn f (x) x 2 f '(2) 4 Rất chuẩn xác, ngắn gọn và rõ ràng. ký hiệu Bị chi phối bởi các quy ước của ngôn 2 Đạo hàm của hàm số x Biểu diễn ngữ, thiếu sự cô đọng và ngắn gọn tại điểm x bằng 2 là 4. ngôn ngữ nhưng mô tả được và tạo cảm giác quen thuộc, dễ nhớ. Vì tương tự với đối tượng được biểu Biểu diễn diễn nên loại biểu diễn này vừa trực minh họa, quan vừa trực giác.
Nếu được thiết kế trực quan trên máy tính thì sẽ thể hiện được quá trình trung gian. Mô hình tạo từ các vật liệu có thể uốn Biểu diễn cong được. Thể hiện khá cụ thể, thực thực thao hiện được các thao tác lên đối tượng, độ tác được chính xác chấp nhận được. Mô hình mô tả chiếc xe đang chuyển Biểu diễn động.
Thể hiện sống động, rất cụ thể và thực tế tự nhiên. 2 Để học sinh có thể nhận thức được một khái niệm, cần kết hợp những biểu diễn khác nhau nhằm thể hiện được các khía cạnh của khái niệm đó. Trong luận văn này, chúng tôi chú trọng đến BDTQ, đặc biệt là các BDTQ với sự hỗ trợ của các phần mềm hình học động trên máy tính nhằm giúp HS phát triển năng lực suy luận.2 Biểu diễn trực quan Có nhiều quan điểm khác nhau về trực quan hóa. Với nội dung của luận văn này, tác giả luận văn sử dụng định nghĩa được tổng hợp bởi Arcavi (2003, [31], tr.
217) như sau: Trực quan hóa là quá trình và sản phẩm của sự sáng tạo, giải thích, sử dụng và phản ánh dựa trên các hình vẽ (hay hình ảnh, sơ đồ.) trong đầu chúng ta, trên giấy hay trên các công cụ khoa học công nghệ. Trực quan hóa nhằm mục đích mô tả và giao tiếp thông tin, tư duy và phát triển các ý tưởng chưa biết trước đó để đi đến việc hiểu.1: Tìm tổng vô hạn của cấp số nhân . 4 4 2 43 1 1 1 1 HS có thể dùng biểu diễn đại số để tính Sn 2 3 . n , 4 4 4 4 rồi tính giới hạn: 1 1 ( )n 1 4 1 lim Sn lim n n 4 1 3 1 4 Một cách chứng minh khác (hình 1.2) của bài toán trên được trích từ bài báo mang tên “chứng minh không từ ngữ” của Mabry (xem Trần Vui, 2009, [29]) với việc sử dụng BDTQ như sau: Giả sử diện tích tam giác đều lớn bằng 1.
Từ tam giác đều lớn, ta đục tam giác đều ở giữa, tiếp tục đục tam giác đều ở trên. Dãy tam giác đều bị đục có tổng diện tích là: 1 1 1 .2 BDTQ tổng vô hạn 4 4 2 43 3 Ta thấy có ba dãy tam giác đều vô hạn giống nhau và ba dãy này lấp đầy tam giác 1 1 1 1 đều lớn nên: 2 3 . 4 4 4 3 BDTQ là một công cụ hiệu quả cho việc học toán bởi: + BDTQ mang lại ý nghĩa cho các khái niệm toán học và các mối quan hệ toán học. + BDTQ cung cấp các tiếp cận đơn giản, ngắn gọn và đầy nội lực cho các kết quả toán học, góp phần tạo ra sự kết nối giữa các lĩnh vực khác nhau của toán học như số học, đại số và hình học.
+ BDTQ giúp gợi ý hướng giải quyết vấn đề. + BDTQ cung cấp thêm cho HS những công cụ và phương tiện, kĩ thuật khác nhau khi nhìn nhận một tình huống toán học.3 Biểu diễn trực quan động Khái niệm BDTQ động có thể hiểu là BDTQ trong đó cho phép sử dụng các thao tác tác động lên các đối tượng trong biểu diễn. BDTQ động thường được xây dựng thông qua các phần mềm hình học động trên máy tính. [24] Phần mềm hình học động là các chương trình phần mềm máy tính được tạo ra để dựng các hình của bộ môn hình học.
The Geometer Sketchpad (GSP), Cabri, Geogebra là ba trong số các phần mềm hình học động được sử dụng khá phổ biến trong giáo dục toán ở phổ thông hiện nay. Khía cạnh mang tính đột phá của những phần mềm này so với môi trường giấy bút truyền thống là tính “động”, nghĩa là các đối tượng trên BDTQ động có thể di chuyển nhưng vẫn bảo đảm giữ nguyên tính chất và các mối quan hệ hình học được thiết lập ban đầu. Những thao tác lên BDTQ động trên máy tính khác cũng sẽ khác với những thao tác lên các BDTQ trong môi trường giấy bút do chúng có thêm những hỗ trợ từ phần mềm hình học động mang lại. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, các phần mềm hình học động đã thay đổi cách suy nghĩ về các đối tượng hình học truyền thống vì trong khi di chuyển hay kéo rê các đối tượng hình học, đo đạc và kiểm tra các tính chất, người học có thể nhận ra các tính chất bất biến hình học [25].
Từ đó, giả thuyết ban đầu về các đối tượng hình học và 4 mối quan hệ giữa chúng được hình thành, sau đó, phần mềm hình học động cũng hỗ trợ quá trình kiểm tra tính đúng đắn của các giả thuyết đó [11]. Cho hai đường tròn (O) và (O’) cắt nhau tại A và B. Lấy điểm E trên (O) khác A, B. Đường thẳng EA và EB cắt (O’) lần lượt tại C và D.
Tiến hành đo độ dài các đoạn thẳng EC, ED và CD.3 Thao tác động cho điểm trên đường tròn Khi bạn kéo điểm E quanh đường tròn (O), các độ dài EC và ED thay đổi nhưng độ dài CD là không đổi. Trong mô hình này có thể thấy đường tròn khi thay đổi vị trí của nó, thay đổi kích thước của đường tròn, dựng thêm các đối tượng khác… Rõ ràng, việc chủ động phát hiện ra độ dài CD là không đổi có ý nghĩa hơn so với việc bạn được yêu cầu chứng minh nó. Việc giá trị CD không đổi gây cho bạn ngạc nhiên, thú vị và gợi động cơ chứng minh phát hiện này. Những trải nghiệm nhờ các thao tác động trong ví dụ này hoàn toàn khác với những trải nghiệm khi thực hiện trong điều kiện chỉ có giấy và bút.
Bạn sẽ không thấy được một cách trực quan những chuyển động, những biến đổi của các đối tượng. Chúng ta chỉ có thể dự đoán rồi làm việc với những biểu diễn ký hiệu để khẳng định chúng. Chúng ta cũng có thể dự đoán được những ứng xử như trên của mô hình nhưng điều đó cũng chỉ dừng lại ở mức độ dự đoán. Số hình ảnh thu được từ mắt mình chỉ là một, trong khi thao tác trên mô hình, bạn sẽ thu nhận được vô số những biến thể của hình đó.
5 Phần mềm hình học động có thể hỗ trợ hiệu quả cho việc học toán bằng các thao tác động, trong đó người học khám phá, thực nghiệm và hình thành kiến thức toán học thông qua các tương tác. Theo Finzer và Jackiw (1998, [49]), các môi trường thao tác động được đặc trưng bởi ba tính chất: - Thao tác trực tiếp. Vẽ đồ thị hàm số f(x) rồi dựng một cát tuyến đi qua hai điểm E0 và E trên đồ thị. Bạn nắm lấy điểm E rồi kéo rê nó đến với điểm E0.
Bạn sẽ nói “Tôi kéo rê điểm E” chứ không nói “Tôi kéo rê chấm tròn nhỏ này và nó sẽ làm thay đổi vị trí của điểm E”. - Chuyển động cập nhật liên tục. Các thay đổi được cập nhật liên tục trong suốt quá trình kéo rê. Các đối tượng toán học có trên màn hình vẫn liên kết trong một tổng thể tại mọi thời điểm.
Chẳng hạn, nếu tính giá trị khoảng cách từ E tới E0 thì giá trị hiển thị trên màn hình này sẽ thay đổi tương ứng với vị trí của điểm E khi kéo rê. - Môi trường thuận lợi cho các thao tác. Thực nghiệm của bạn chỉ liên quan đến những đối tượng mà bạn thao tác. Bạn khám phá khi làm việc với chúng.
Giao diện của chương trình hầu như không gây ra tác động nào và bạn có thể tập trung làm thế nào để đạt được những mục đích toán học chứ không phải làm thế nào để điều khiển công nghệ. Đối với việc học toán, các thao tác động có thể giải quyết được những vấn đề chẳng hạn như lý giải về sự liên tục. Thông qua chương trình học, học sinh học toán đối mặt với hai hiện tượng: liên tục và rời rạc. Tuy nhiên những công cụ mà giáo viên đưa ra để lý giải về các hiện tượng này chưa tạo ra cầu nối giữa chúng.