CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DÀNH CHO KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP LỚN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ SẢN PHẨM DÀNH CHO KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP LỚN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về khách hàng doanh nghiệp lớn và sản phẩm dành cho khách hàng doanh nghiệp lớn 1.1 Khái niệm khách hàng doanh nghiệp lớn a. Khái niệm chung về doanh nghiệp lớn a1. Theo tiêu chuẩn Việt Nam Từ năm 1998 trở về trước, nước ta chưa có văn bản nào quy định phân loại doanh nghiệp theo quy mô, mà chủ yếu phân loại doanh nghiệp theo 2 nhóm: doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Sự ra đời của công văn số 681/1998/CP-KTN, ngày 20/06/1998 của Chính phủ về việc định hướng chiến lược và chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV đã đánh dấu bước khởi đầu trong quá trình thống nhất quan niệm về DNVVN và đẩy mạnh hỗ trợ DNNVV ở Việt Nam.
Công văn số 681 quy định, ”DNNVV là doanh nghiệp có quy mô vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng và số lượng lao động bình quân năm ít hơn 200 người”. Tuy nhiên, công văn này lại khẳng định, các tiêu thức này chủ yếu mang tính chất quy ước hành chính để phục vụ cho việc quản lý và vận dụng chính sách hỗ trợ phát triển. Bước sang năm 1999, với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp, môi trường kinh doanh được cải thiện đáng kể, bằng các chính sách hỗ 5 trợ, ưu đãi doanh nghiệp, thêm vào đó là sự ra đời của các luật thuế, các DNNVV đã có nhiều sự chuyển biến đột phá. Để phù hợp với xu thế mới, tháng 11/2001 Chính phủ ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP nhằm trợ giúp phát triển DNNVV.
Theo đó, nghị định số 90 đã đưa ra tiêu chuẩn chính thức, áp dụng thống nhất để phân loại DNNVV. Ở Việt Nam hiện nay, tiêu chuẩn phân loại DNNVV được thực hiện theo điều 3, nghị định số 90/2001/NĐ-CP. Theo nghị định này, các doanh nghiệp không phụ thuộc vào ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, đuợc xếp loại nhỏ và vừa nếu đáp ứng điều kiện: ”có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 nguời” Nghị định cũng quy định rằng: căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên. Như vậy, theo nghị định này, doanh nghiệp lớn được hiểu là các doanh nghiệp có vốn đăng ký từ 10 tỷ đồng trở lên và/hoặc tổng số lao động trung bình hàng năm từ 300 người trở lên.
Cùng với quá trình phát triển của đất nước, việc vận dụng nghị định này vào thực tế hiện nay đã không còn phù hợp, bộc lộ một số bất cập, nhất là trong vấn đề phân loại qui mô doanh nghiệp, dẫn đến gây khó khăn và lúng túng cho các doanh nghiệp và các cấp quản lý nhà nước trong vấn đề xác định tiêu chuẩn qui mô doanh nghiệp. Vì lẽ đó, tác giả xin đưa ra một số ý kiến xung quanh vấn đề xác định qui mô doanh nghiệp ở nước ta, đồng thời có tham khảo tiêu thức đánh giá của một số quốc gia trên thế giới. Tiêu chí phân loại doanh nghiệp lớn ở một số quốc gia trên thế giới Dựa theo quy mô có thể phân loại doanh nghiệp thành doanh nghiệp có quy mô lớn, vừa và nhỏ. Trong đó, việc xác định các tiêu chí và định mức để đánh giá quy mô của một doanh nghiệp có sự khác biệt ở các quốc gia trên thế giới.
Ngay trong cùng một quốc gia, những tiêu chí này cũng có thể được thay đổi theo thời gian vì sự phát triển của doanh nghiệp, đặc điểm nền kinh tế hay tốc độ phát triển kinh tế của quốc gia đó. Tuy nhiên, các tiêu chí phổ biến nhất được nhiều quốc gia sử dụng là: số lượng lao động bình quân mà doanh nghiệp sử dụng trong năm, tổng mức vốn đầu tư của doanh nghiệp, tổng doanh thu hàng năm của doanh nghiệp (Bảng 1). Bảng 1 cho thấy, hầu hết các quốc gia đều lấy tiêu chí số lao động bình quân làm cơ sở quan trọng để phân loại doanh nghiệp theo quy mô. Điều này là hợp lý hơn so với việc lựa chọn các tiêu chí khác như doanh thu, vốn.
là các chỉ tiêu có thể lượng hóa được bằng giá trị tiền tệ. Các tiêu chí như doanh thu, vốn tuy srất quan trọng nhưng thường xuyên chịu sự tác động bởi những biến đổi của thị trường, sự phát triển của nền kinh tế, tình trạng lạm phát. nên thiếu sự ổn định trong việc phân loại doanh nghiệp. Điều này giải thích tại sao tiêu chí số lao động bình quân được nhiều quốc gia lựa chọn, tiêu chí này thường có tính ổn định lâu dài về mặt thời gian, lại thể hiện được phần nào tính chất, đặc thù của ngành, lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp đang tham gia.
Số liệu ở bảng 1 cũng cho thấy, đa số các quốc gia chỉ sử dụng 1 trong 3 tiêu thức đánh giá trên, đặc biệt là nhóm các nước kinh tế đang chuyển đổi. Một số quốc gia khác sử dụng kết hợp 2 trong 3 tiêu thức nói trên. Một số ít quốc gia sử dụng kết hợp cả 3 tiêu thức số lao động, vốn và doanh thu. Quốc gia/ Số lao động Vốn đầu tư 7 Doanh thu Khu vực bình quân A.
NHÓM CÁC NƯỚC PHÁT TRIEN 1. Hoa kỳ > 500 Không quy định Không quy định Bảng 1. Nhật > 300 phân loại doanh nghiệp - Đối với ngành sản lớn > của một 100 Không quy định số quốc gia và khu xuất vực > 100 > 300 triệu JPY - Đối với ngành > 100 triệu JPY thương mại > 50 triệu JPY - Đối với ngành dịch vụ 3. EU > 250 Không quy định > €27 triệu 4.
Australia > 200 Không quy định Không quy định 5. Canada > 500 Không quy định > 20 triệu CDN$ 6. New Zealand > 50 Không quy định Không quy định 7. Korea > 300 Không quy định Không quy định 8.
Taiwan > 200 > NT$ 80 triệu > NT$ 100 triệu B. NHÓM CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIEN 1. Thailand Không quy định > Baht 200 triệu Không quy định 2. Malaysia > 150 Không quy định > 25 triệu 3.
Philippine > 200 > 60 triệu Peso Không quy định 4. Indonesia Không quy định > US$ 1 triệu > US$ 5 triệu 5.Brunei > 100 Không quy định Không quy định 8 C. NHÓM CÁC NƯỚC KINH TẾ ĐANG CHUYỂN ĐỔI 1.000 Không quy định Không quy định 2. China > 500 Không quy định Không quy định 3.
Poland > 200 Không quy định Không quy định 4. Hungary > 250 Không quy định Không quy định (Nguồn: Tài liệu Dự án CLPTMaritime Bank). Ngân hàng thế giới (World Bank) và nhiều tổ chức quốc tế khác cũng đều sử dụng tiêu chí số lao động để đánh giá. Theo World Bank, doanh nghiệp được chia thành 4 loại tương ứng với số lượng lao động như sau: doanh nghiệp siêu nhỏ (số lao động < 10 người), doanh nghiệp nhỏ (số lao động từ 10 người đến dưới 50 người), doanh nghiệp vừa (số lao động từ 50 người đến 300 người), doanh nghiệp lớn (số lao động > 300 người).
Khách hàng mục tiêu là doanh nghiệp lớn của các NHTM: Đối với các NHTM, việc xác định đâu là doanh nghiệp lớn đồng nghĩa với doanh nghiệp đó mang lại nhiều tiềm năng khai thác sản phẩm dịch vụ, đem lại nhiều doanh thu và lợi nhuận cho ngân hàng và ngân hàng tập trung nhiều nguồn lực khai thác các doanh nghiệp này. Ở các nước phát triển khác, cách đây nửa thế kỷ, các NHTM đã sử dụng doanh thu của các doanh nghiệp là một tiêu chí để xếp hạng và đánh giá mức độ tiềm năng. Doanh thu của công ty lớn thì nhu cầu vốn của công ty cũng lớn, mức độ luân chuyển dòng tiền lớn, quản lý tài chính phức tạp,. Do đó, nhu cầu về 9 sử dụng các sản phẩm dịch vụ như tín dụng, quản lý dòng tiền, tài trợ thương mại, dịch vụ thanh toán trên phạm vi rộng,.
là rất lớn. Ở Mỹ, các NHTM tìm kiếm Khách hàng mục tiêu của mình từ Fortune 500 hoặc Fortune 10001 để đưa ra các chiến lược phát triển phù hợp. Fortune 500 là bảng xếp hạng danh sách 500 công ty lớn nhất Hoa Kỳ theo tổng doanh thu mỗi công ty. Nó là một chuyên trang của CNN.
Kể từ năm 1954 khi bảng xếp hạng FORTUNE 500 lần đầu tiên ra mắt, FORTUNE đã trở thành một nguồn thông tin đáng tin cậy cho các nhà đầu tư về các công ty và các ngành công nghiệp trên toàn thế giới. Kho dữ liệu của Fortune có thể cung cấp mọi thông tin quan trọng nhất đối với bạn. Cho dù bạn đang quan tâm đến số liệu thống kê tài chính, CEO hoặc dữ liệu về thương hiệu độc quyền của công ty, các kho dữ liệu FORTUNE là sự lựa chọn số một cho các NHTM tìm kiếm thông tin và sự đánh giá sơ bộ về các doanh nghiệp. Hằng năm Fortune đều công bố 4 bảng xếp hạng lớn là: Bảng xếp hạng Fortune 500 - Top 500 tập đoàn lớn nhất Hoa Kỳ, Fortune 1000 - Top 1000 tập đoàn lớn nhất Hoa Kỳ, Fortune Global 500 - Top 500 tập đoàn lớn nhất thế giới và Top 100 công ty tốt nhất để làm việc.
Ở Việt Nam, từ năm 2008 - 2009, với sự tư vấn của các tổ chức tư vấn lớn trên thế giới, các NHTM Việt Nam cũng đã xem xét qui mô, tiềm năng khai thác sản phẩm dịch vụ doanh nghiệp dựa trên qui mô doanh thu. Hàng năm (bắt đầu từ 2007) danh sách Top 500 - 1000 doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam (xếp theo doanh thu) cũng được sử dụng như một cơ sở thông tin quan trọng để các NHTM đánh giá tiềm năng của các doanh nghiệp qui mô lớn.com/magazines/fortune 10 Đối với hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế, Top 500 - 1.000 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam được coi là doanh nghiệp lớn. Trên cơ sở thông tin này, các NHTM lại có các chỉ tiêu của riêng mình để xác định đâu là doanh nghiệp lớn.2 Khái niệm sản phẩm dành cho khách hàng doanh nghiệp lớn a. Khái niệm sản phẩm dành cho Khách hàng Doanh nghiệp lớn Cũng như sản phẩm dịch vụ nói chung của NHTM, đề cập đến khái niệm sản phẩm dịch vụ của NHTM dành cho khách hàng doanh nghiệp lớn, chúng ta có thể xem xét trên hai khía cạnh rộng và hẹp.