Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh giữ vị thế trung tâm kinh tế và đầu tàu du lịch lớn nhất cả nước, đóng góp từ 9% đến 11% vào tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) và thu hút từ 55% đến 60% tổng lượt khách quốc tế đến Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2017. Mặc dù đạt tốc độ tăng trưởng doanh thu ấn tượng qua từng năm, ngành du lịch Thành phố đang đối mặt với bài toán nan giải về phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Sự bùng nổ của lượng khách và số lượng cơ sở lưu trú cao cấp làm bộc lộ rõ nét những điểm nghẽn về chất lượng lao động, năng lực ngoại ngữ chuyên sâu và kỹ năng nghề nghiệp đạt chuẩn khu vực.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là phân tích sự mất cân đối giữa tốc độ tăng trưởng dịch vụ du lịch với quy mô, chất lượng của lực lượng lao động trực tiếp và gián tiếp. Đề tài tập trung vào mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực du lịch, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực tại Thành phố Hồ Chí Minh trên cả ba nhóm: quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp kinh doanh du lịch. Từ đó, tác giả xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng nhân lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch trong ASEAN (MRA-TP).

Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian kinh tế du lịch Thành phố Hồ Chí Minh với chuỗi dữ liệu thực nghiệm kéo dài từ năm 2005 đến năm 2017, đồng thời định hình tầm nhìn chiến lược phát triển đến năm 2030. Kết quả nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn quan trọng, đóng vai trò luận cứ khoa học hỗ trợ chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách vĩ mô, định hướng cho 49 cơ sở đào tạo du lịch đổi mới chương trình giảng dạy và giúp hơn 1.000 doanh nghiệp lữ hành, lưu trú tối ưu hóa công tác quản trị nhân sự trong kỷ nguyên kinh tế số.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận kinh tế chính trị về nguồn lực con người kết hợp với lý thuyết vốn nhân lực hiện đại. Quan điểm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Ngân hàng Thế giới (WB) được vận dụng để tiếp cận nguồn nhân lực dưới góc độ tổng thể các tiềm năng về thể lực, trí lực và tâm lực của người lao động. Mô hình nghiên cứu phân tích sự phát triển nguồn nhân lực qua mối quan hệ tương tác đa chiều giữa ba trụ cột chính: quy mô số lượng, cơ cấu chuyên môn và chất lượng kỹ năng nghề nghiệp, đặt dưới sự tác động trực tiếp của các nhân tố môi trường kinh tế vĩ mô, tiến bộ công nghệ và mức độ hội nhập quốc tế.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong luận văn bao gồm:

  • Nguồn nhân lực du lịch: Toàn bộ lực lượng lao động tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch, lữ hành, lưu trú, vận chuyển và quản lý ngành.
  • Phát triển nguồn nhân lực du lịch: Quá trình gia tăng quy mô số lượng, hoàn thiện cơ cấu ngành nghề và nâng cao chất lượng toàn diện về kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp và năng lực thích ứng văn hóa đa quốc gia.
  • Tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch: Hệ thống chuẩn mực đánh giá năng lực thực hiện công việc, cụ thể là Tiêu chuẩn Kỹ năng nghề Du lịch Việt Nam (VTOS) với 13 nghiệp vụ chuyên sâu và Tiêu chuẩn Năng lực chung về Nghề Du lịch ASEAN với 32 chức danh nghề nghiệp.
  • Hội nhập quốc tế trong du lịch: Quá trình tham gia vào các hiệp định thương mại tự do, mở cửa thị trường dịch vụ và thực thi các cam kết tự do dịch chuyển lao động chuyên nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp phong phú được trích xuất từ Niên giám thống kê của Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, báo cáo chuyên ngành của Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, Tổng cục Du lịch và tài liệu dự án du lịch trách nhiệm do Liên minh Châu Âu tài trợ giai đoạn 2005 - 2017.

Về dữ liệu sơ cấp, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) với cỡ mẫu gồm 7 chuyên gia đầu ngành là lãnh đạo cấp cao tại các tập đoàn lữ hành lớn (như Công ty Cổ phần Dịch vụ Du lịch Bến Thành, TST Tourist, Vietravel), giám đốc điều hành các khách sạn 5 sao quốc tế (như Pullman Saigon Centre, InterContinental Saigon) và hiệu trưởng cơ sở đào tạo chuyên sâu (Trường Cao đẳng Nghề Du lịch Sài Gòn). Lý do lựa chọn phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia kết hợp phân tích thống kê mô tả chuỗi thời gian là nhằm đối chiếu chính xác giữa các chỉ báo định lượng vĩ mô với những vướng mắc thực tiễn tại đơn vị sử dụng lao động, bảo đảm tính xác thực và độ tin cậy cao cho các kết luận. Quá trình thu thập dữ liệu thứ cấp và phỏng vấn thực địa được tiến hành trong giai đoạn tháng 9 đến tháng 10 năm 2018, hoàn thiện toàn diện luận văn vào năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thực trạng nguồn nhân lực ngành du lịch Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2005 - 2017 cho thấy những kết quả tích cực cùng nhiều điểm nghẽn cấu trúc nghiêm trọng:

Thứ nhất, lực lượng hướng dẫn viên du lịch quốc tế có sự mất cân đối nghiêm trọng về cơ cấu ngoại ngữ. Số liệu thống kê đến tháng 7 năm 2018 ghi nhận Thành phố có 1.997 hướng dẫn viên tiếng Anh, chiếm tỷ trọng áp đảo trên 60% tổng số thẻ hướng dẫn viên quốc tế. Ngược lại, nguồn nhân lực phục vụ các thị trường trọng điểm có tốc độ tăng trưởng đột biến lại vô cùng khan hiếm: tiếng Trung chỉ đạt 307 người, tiếng Pháp có 233 người, tiếng Nhật đạt 144 người, trong khi tiếng Hàn chỉ có 31 người và tiếng Thái vỏn vẹn 36 người. Tình trạng này dẫn đến việc thiếu hụt hướng dẫn viên bản địa am hiểu văn hóa, tạo kẽ hở cho hoạt động lữ hành bất hợp pháp.

Thứ hai, tốc độ mở rộng cơ sở hạ tầng du lịch cao cấp vượt xa năng lực cung ứng lao động lành nghề. Trong giai đoạn 2010 - 2020, Thành phố triển khai đồng loạt 20 dự án khách sạn 4 đến 5 sao quy mô lớn như Mai House Saigon (219 phòng), Hilton Saigon (350 phòng), Vinpearl Safari Củ Chi (600 phòng). Tuy nhiên, mạng lưới cơ sở đào tạo du lịch trên địa bàn lại giảm từ 54 đơn vị năm 2014 xuống còn 49 đơn vị vào năm 2017. Số lượng học viên tốt nghiệp hệ trung cấp và dạy nghề chiếm tỷ lệ lớn nhưng phần lớn phải qua đào tạo lại tại doanh nghiệp mới đáp ứng được yêu cầu công việc.

Thứ ba, khoảng cách kỹ năng nghề và năng lực hội nhập còn lớn. Tỷ lệ nhân lực đạt trình độ đại học và trên đại học trong ngành du lịch có bước phát triển từ mức 292 người năm 2005 lên hàng chục nghìn người vào năm 2017. Dẫu vậy, mức độ thuần thục về kỹ năng nghề theo tiêu chuẩn VTOS và khả năng làm việc trong môi trường đa văn hóa của lao động trực tiếp vẫn ở mức trung bình, thiếu hụt lực lượng quản trị cấp trung và cấp cao người Việt Nam tại các chuỗi khách sạn đa quốc gia.

Thứ tư, hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch còn chịu áp lực lớn về biên chế. Đội ngũ công chức chuyên trách tại Sở Du lịch và các phòng ban quận huyện còn mỏng so với quy mô phát triển hơn 1.000 doanh nghiệp lữ hành và hàng nghìn cơ sở lưu trú, gây khó khăn trong việc thanh tra, kiểm soát chất lượng điểm đến và ngăn chặn các tour du lịch giá rẻ kém chất lượng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của các hạn chế trên xuất phát từ sự thiếu gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp trong khâu thiết kế chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy nặng tính lý thuyết hàn lâm và thiếu trang thiết bị thực hành chuẩn quốc tế. Bên cạnh đó, chính sách tiền lương và cơ chế đãi ngộ của nhiều doanh nghiệp chưa đủ hấp dẫn, dẫn đến hiện tượng dịch chuyển lao động lành nghề từ Thành phố Hồ Chí Minh sang các trung tâm du lịch mới nổi như Đà Nẵng, Nha Trang và Phú Quốc.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các báo cáo đánh giá của Dự án EU-ESRT năm 2013 và các nghiên cứu tại Khánh Hòa, Ninh Bình, khẳng định điểm nghẽn cốt lõi của du lịch Việt Nam không nằm ở tài nguyên mà ở chất lượng nguồn nhân lực. Để trực quan hóa các luận điểm này, dữ liệu nghiên cứu có thể được thể hiện thông qua biểu đồ cột chồng mô tả sự biến động cơ cấu trình độ học vấn của lao động ngành du lịch giai đoạn 2005 - 2017, kết hợp biểu đồ hình quạt biểu thị sự chênh lệch thị phần ngoại ngữ của hướng dẫn viên và bảng ma trận đối chiếu 13 đơn vị năng lực VTOS với chuẩn nghề ASEAN.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và nâng cao sức cạnh tranh quốc tế đến năm 2030, luận văn đề xuất 5 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, chuẩn hóa toàn diện kỹ năng nghề theo tiêu chuẩn khu vực. Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh cần chủ trì phối hợp với Hiệp hội Du lịch triển khai áp dụng bắt buộc Tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch VTOS và thỏa thuận MRA-TP cho 100% doanh nghiệp lưu trú từ 3 đến 5 sao và các đơn vị lữ hành quốc tế, hoàn thành trước năm 2025.

Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ chương trình đào tạo và phát triển ngoại ngữ hiếm. Các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn nâng tỷ lệ thời lượng thực hành thực tế lên tối thiểu 50% đến 60% tổng thời lượng đào tạo; đồng thời xây dựng đề án liên kết đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành cho các thị trường tăng trưởng mạnh như tiếng Hàn, tiếng Nhật, tiếng Đức và tiếng Thái, đặt mục tiêu đào tạo bổ sung ít nhất 500 hướng dẫn viên ngoại ngữ hiếm trong giai đoạn 2020 - 2030.

Thứ ba, thiết lập cơ chế hợp tác công - tư (PPP) trong đào tạo nhân lực. Khuyến khích các tập đoàn lữ hành và khách sạn lớn như Saigontourist, Vietravel, Bến Thành Tourist tham gia trực tiếp vào việc thẩm định giáo trình, cử chuyên gia tham gia giảng dạy và tiếp nhận học viên thực tập có hưởng lương. Phấn đấu nâng tỷ lệ nhân lực qua đào tạo chuyên môn đạt 85% vào năm 2025 và đạt 100% vào năm 2030.

Thứ tư, nâng cấp năng lực bộ máy quản lý nhà nước về du lịch. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cần tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên sâu về quản trị du lịch thông minh, chuyển đổi số, marketing điện tử và ngoại ngữ chuyên ngành cho 100% cán bộ, công chức làm công tác du lịch đến năm 2025.

Thứ năm, khuyến nghị đối với Chính phủ và các Bộ ngành. Đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sớm hoàn thiện khung pháp lý về chứng chỉ nghề du lịch quốc gia tương thích với ASEAN, đẩy mạnh cấp thị thực điện tử (e-visa) và vận hành hiệu quả Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch để tạo nguồn lực đầu tư cho công tác xúc tiến, đào tạo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị tham khảo ứng dụng sâu rộng cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và các nhà hoạch định chính sách tại Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương trọng điểm. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn và số liệu tin cậy để xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực ngành dịch vụ chiếm 9% đến 11% GRDP, đồng thời đề xuất cơ chế kiểm soát chất lượng dịch vụ du lịch thống nhất.

Thứ hai, các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng và trung cấp nghề đào tạo ngành du lịch. Toàn bộ 49 cơ sở đào tạo trên địa bàn có thể sử dụng tài liệu này để rà soát chương trình giảng dạy, tích hợp 13 bộ tiêu chuẩn nghề VTOS và 32 chức danh nghề ASEAN vào chuẩn đầu ra cho sinh viên.

Thứ ba, lãnh đạo và chuyên viên quản trị nhân sự tại các doanh nghiệp lữ hành, khách sạn và khu du lịch. Tài liệu cung cấp góc nhìn sâu sắc về nhu cầu tuyển dụng, các tiêu chí đánh giá năng lực nhân viên và phương pháp thiết kế lộ trình đào tạo nội bộ nhằm giữ chân nhân tài.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế chính trị, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Quản trị nhân lực. Luận văn là tài liệu học thuật mẫu mực về phương pháp kết hợp dữ liệu thống kê chuỗi thời gian 2005 - 2017 với kỹ thuật phỏng vấn sâu chuyên gia trong nghiên cứu kinh tế ứng dụng.

Câu hỏi thường gặp

Ngành du lịch đóng góp như thế nào vào sự phát triển kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh?
Trong giai đoạn 2010 - 2017, du lịch là một trong chín ngành dịch vụ mũi nhọn của Thành phố Hồ Chí Minh, đóng góp từ 9% đến 11% vào GRDP và thu hút 55% đến 60% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam. Ngành tạo ra hàng trăm nghìn việc làm trực tiếp và gián tiếp, thúc đẩy doanh thu thương mại, vận tải và dịch vụ lưu trú.

Đâu là điểm yếu lớn nhất của đội ngũ hướng dẫn viên du lịch quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh?
Điểm yếu lớn nhất là sự lệch pha nghiêm trọng về cơ cấu ngoại ngữ. Dữ liệu năm 2018 cho thấy có 1.997 hướng dẫn viên tiếng Anh nhưng chỉ có 31 hướng dẫn viên tiếng Hàn và 36 hướng dẫn viên tiếng Thái, khiến ngành du lịch rơi vào tình trạng thiếu hụt trầm trọng nhân sự phục vụ du khách từ các thị trường trọng điểm châu Á.

Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch trong ASEAN (MRA-TP) mang lại tác động gì?
Thỏa thuận MRA-TP cho phép 32 chức danh nghề du lịch được tự do di chuyển làm việc giữa các quốc gia ASEAN. Cơ chế này mở ra cơ hội việc làm quốc tế cho lao động Việt Nam, nhưng đồng thời tạo sức ép cạnh tranh gay gắt ngay trên thị trường nội địa nếu nhân lực thành phố không nhanh chóng chuẩn hóa kỹ năng và ngoại ngữ.

Bộ tiêu chuẩn VTOS đóng vai trò như thế nào trong phát triển nguồn nhân lực du lịch?
Bộ tiêu chuẩn VTOS quy định cụ thể 13 nghiệp vụ chuyên ngành với 5 bậc trình độ tay nghề rõ ràng, bao gồm 9 nghiệp vụ khách sạn và 4 nghiệp vụ lữ hành. Việc áp dụng VTOS giúp các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp đồng bộ hóa chuẩn năng lực thực hành, giảm thiểu chi phí và thời gian đào tạo lại cho sinh viên mới ra trường.

Luận văn đã sử dụng phương pháp khảo sát nào để thu thập dữ liệu chuyên gia?
Tác giả đã triển khai phỏng vấn sâu 7 chuyên gia đầu ngành từ tháng 9 đến tháng 10 năm 2018, bao gồm lãnh đạo các doanh nghiệp lữ hành lớn như Vietravel, Bến Thành Tourist, TST Tourist, giám đốc các khách sạn 5 sao như Pullman, InterContinental và lãnh đạo Trường Cao đẳng Nghề Du lịch Sài Gòn để nhận diện chính xác các rào cản thực tiễn.

Kết luận

  • Khẳng định nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của ngành du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, nơi đóng góp từ 9% đến 11% GRDP toàn thành phố.
  • Làm rõ thực trạng mất cân đối cơ cấu ngoại ngữ hướng dẫn viên với 1.997 người sử dụng tiếng Anh trong khi các thị trường mới như Hàn Quốc (31 người) và Thái Lan (36 người) thiếu hụt nhân sự nghiêm trọng.
  • Xác định yêu cầu cấp thiết của việc áp dụng đồng bộ 13 nghiệp vụ chuẩn VTOS và 32 chức danh nghề ASEAN MRA-TP vào 49 cơ sở đào tạo chuyên ngành.
  • Hoàn thiện hệ thống giải pháp liên kết ba nhà gồm Nhà nước, Nhà trường và Doanh nghiệp với mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 85% vào năm 2025 và 100% vào năm 2030.
  • Đề xuất hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước, đẩy mạnh chuyển đổi số và tạo lập môi trường kinh doanh du lịch văn minh, hiện đại.

Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Văn Thị Bạch Tuyết là công trình nghiên cứu công phu, cung cấp hệ thống giải pháp khoa học và khả thi để phát triển toàn diện nguồn nhân lực du lịch Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Để chuẩn bị cho giai đoạn phát triển bứt phá đến năm 2030, các cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo và cộng đồng doanh nghiệp cần bắt tay triển khai đồng bộ các giải pháp chuẩn hóa nhân lực ngay hôm nay. Hãy tham khảo toàn văn luận văn để tiếp cận chi tiết các phân tích chuyên sâu và ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn quản lý, đào tạo và kinh doanh du lịch.