Tổng quan nghiên cứu

Địa bàn huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ có tổng diện tích tự nhiên đạt 19.503 ha với quy mô dân số ghi nhận 114.343 người, trong đó lực lượng trong độ tuổi lao động là 58.232 người. Cơ cấu kinh tế địa phương mang tính đặc thù khi lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo 75,69%, lao động công nghiệp chiếm 16,26% và khu vực dịch vụ chiếm 8,05%. Trong tiến trình thu hút đầu tư, số lượng cơ sở sản xuất tăng nhanh nhưng tình trạng chậm đóng, trốn đóng hoặc đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) đối phó theo mức lương tối thiểu vùng diễn ra phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn thu quỹ và quyền lợi an sinh của người lao động.

Mục tiêu cốt lõi của đề tài là làm rõ các vấn đề lý luận về pháp luật thu BHXH, phân tích thực trạng tổ chức thực hiện tại cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện Thanh Ba giai đoạn 2018-2020, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2021-2026. Nghiên cứu xác lập ý nghĩa thực tiễn quan trọng khi ghi nhận số người tham gia BHXH tại huyện tăng từ 8.401 người năm 2018 lên 9.463 người năm 2020 (tăng trưởng 12,64%), đồng thời tổng số thu BHXH tăng từ 106,48 tỷ đồng lên 137,61 tỷ đồng (tăng 29,23%). Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra thách thức lớn khi tổng chi các chế độ an sinh tại địa phương năm 2020 lên tới 305,030 tỷ đồng, tạo ra khoảng cách thâm hụt cục bộ hơn 167,42 tỷ đồng so với số thu thực tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng ba khung lý thuyết trọng tâm: Thuyết an sinh xã hội hiện đại, Thuyết phân phối lại thu nhập và Lý thuyết cơ chế đối tác ba bên gồm Nhà nước, Người sử dụng lao động và Người lao động. Khái niệm bảo hiểm xã hội được chuẩn hóa theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13, xác định đây là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết. Về mặt vận hành tài chính, BHXH thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập theo cả chiều ngang (giữa các giai đoạn làm việc và nghỉ ngơi của cá nhân) lẫn chiều dọc (giữa người có thu nhập cao và thu nhập thấp, người khỏe mạnh và người ốm đau).

Hệ thống thể chế được xây dựng dựa trên các chuẩn mực quốc tế từ Công ước số 102 năm 1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) với 9 chế độ an sinh tiêu chuẩn. Tại Việt Nam, nền tảng pháp lý phát triển liên tục từ Sắc lệnh số 54 năm 1945, Điều 32 Hiến pháp năm 1959, Điều 56 Hiến pháp năm 2013 cho đến cơ chế trích nộp bắt buộc hiện hành (người sử dụng lao động đóng 15% quỹ tiền lương vào BHXH và 2% vào BHYT; người lao động đóng tương ứng 5% và 1%). Hai nguyên tắc nền tảng chi phối toàn bộ hoạt động là bồi hoàn theo mức đóng và nguyên tắc "lấy số đông bù số ít" nhằm phân tán rủi ro trong cộng đồng lao động.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp hỗn hợp (mixed methods) kết hợp định tính và định lượng nhằm bảo đảm tính khách quan toàn diện. Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất trực tiếp từ các báo cáo tình hình thu theo mẫu B02a, báo cáo quyết toán tài chính thường niên giai đoạn 2018-2020 của BHXH huyện Thanh Ba và hệ thống văn bản chỉ đạo của BHXH tỉnh Phú Thọ. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 100% dữ liệu thống kê tổng điều tra từ 27 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn cùng toàn bộ các doanh nghiệp, cơ quan hành chính sự nghiệp đăng ký tham gia bảo hiểm trên địa bàn huyện. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn sâu nhóm cán bộ chuyên trách và người lao động trực tiếp thụ hưởng chính sách.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tổ thống kê và so sánh chuỗi thời gian thông qua công cụ Microsoft Excel là để xác định chính xác tỷ trọng cơ cấu, đo lường các biến động tăng giảm tuyệt đối và tương đối qua từng năm. Khung thời gian thu thập dữ liệu hồi cứu tập trung từ năm 2018 đến năm 2020 nhằm cung cấp luận cứ khoa học để hoạch định các giải pháp thực thi hiệu quả cho lộ trình 2021-2026.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô lực lượng tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn có sự phát triển liên tục: năm 2018 đạt 8.401 người, năm 2019 đạt 8.796 người (tăng 4,71%) và năm 2020 đạt 9.463 người (tăng 8,33% so với năm 2019), tổng mức tăng sau 3 năm đạt 12,64%.

Thứ hai, kết quả thu ngân sách BHXH vượt kế hoạch giao qua từng năm: năm 2018 thu 106,48 tỷ đồng, năm 2019 thu 121,79 tỷ đồng (tăng 14,36%) và năm 2020 thu 137,61 tỷ đồng (tăng 12,99%), nâng mức tăng trưởng tổng thu cả giai đoạn lên 29,23%.

Thứ ba, mất cân đối nghiêm trọng giữa nguồn thu và nguồn chi trả cục bộ: tổng chi an sinh tăng từ 273,371 tỷ đồng năm 2018 lên 305,030 tỷ đồng năm 2020. Trong đó, chi từ Quỹ BHXH năm 2020 chiếm 184,563 tỷ đồng (tăng 19,18% so với 154,863 tỷ đồng năm 2018); phần chi từ nguồn Ngân sách Nhà nước duy trì mức 120,467 tỷ đồng. Tổng chi năm 2020 cao gấp 2,21 lần so với tổng số thu thực tế trên địa bàn huyện.

Thứ tư, mô hình tổ chức bộ máy gồm 15 cán bộ biên chế (13 cán bộ trình độ đại học, 2 cán bộ trình độ trung cấp; 1 cao cấp và 7 trung cấp lý luận chính trị) được tổ chức thành 3 tổ nghiệp vụ và 6 bộ phận chức năng theo Quyết định số 1414/QĐ-BHXH, đáp ứng khối lượng quản lý tại 26 xã và 1 thị trấn.

Thảo luận kết quả

Thực trạng tổng chi an sinh xã hội (305,030 tỷ đồng) vượt xa tổng số thu (137,61 tỷ đồng) tại huyện Thanh Ba phản ánh rõ nét đặc thù chuyển dịch nhân khẩu học và phân bổ lao động địa phương. Nguyên nhân chính là do huyện có tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm 75,69%, dẫn đến quy mô tham gia bảo hiểm bắt buộc mới đạt 9.463 người. Đồng thời, một lượng lớn cán bộ hưu trí, người lao động từ các khu công nghiệp ngoại tỉnh và lực lượng vũ trang chuyển vùng về sinh sống tại quê nhà Thanh Ba khi hết tuổi lao động, làm gia tăng đột biến chi phí chi trả lương hưu và trợ cấp dài hạn.

So sánh với các nghiên cứu tương đồng tại thị xã Sông Công (tỉnh Thái Nguyên) hoặc địa bàn thành phố Hà Nội, công tác thu tại huyện Thanh Ba chịu áp lực lớn hơn do số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh vừa và nhỏ chiếm đa số, thường xuyên trích nộp bảo hiểm cầm chừng hoặc nợ đọng kéo dài để quay vòng vốn kinh doanh. Các phát hiện này có thể được trình bày trực quan thông qua Bảng so sánh cân đối thu - chi giai đoạn 2018-2020 và Biểu đồ hình cột chồng (Stacked Bar Chart) thể hiện cơ cấu nguồn chi từ Quỹ BHXH và Ngân sách Nhà nước.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác quản lý và tổ chức thực hiện pháp luật BHXH tại huyện Thanh Ba giai đoạn 2021-2026, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Một là, hiện đại hóa quy trình thu và liên thông dữ liệu quản lý: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, kết nối dữ liệu điện tử giữa cơ quan Bảo hiểm xã hội với cơ quan Thuế huyện Thanh Ba nhằm kiểm soát 100% biến động nhân sự và bảng lương đóng bảo hiểm của các doanh nghiệp trước quý IV năm 2024, do Bộ phận Thu phối hợp Chi cục Thuế địa phương thực hiện.

Hai là, tăng cường thanh tra chuyên ngành và xử lý nợ đọng: Thành lập đoàn thanh tra liên ngành tiến hành kiểm tra đột xuất các đơn vị chậm đóng từ 3 tháng trở lên, đặt mục tiêu kéo giảm tỷ lệ nợ đọng BHXH xuống dưới mức 2,0% trên tổng số phải thu vào năm 2025, do Tổ thu, cấp sổ, thẻ và kiểm tra chủ trì phối hợp với Liên đoàn Lao động huyện.

Ba là, mở rộng mạng lưới đại lý và tuyên truyền BHXH tự nguyện: Kiện toàn hệ thống đại lý thu tại toàn bộ 27 xã, thị trấn, tập trung vận động nhóm lao động nông nghiệp và làng nghề chế biến chè, xi măng nhằm nâng tỷ lệ bao phủ BHXH đạt trên 25% lực lượng lao động toàn huyện vào năm 2026, do UBND huyện Thanh Ba chỉ đạo cùng cơ quan BHXH.

Bốn là, chuẩn hóa năng lực đội ngũ thực thi công vụ: Tổ chức các chương trình đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu cho 15 cán bộ cơ quan, bảo đảm 100% nhân sự hoàn thành chứng chỉ chuyển đổi số và nâng cao tỷ lệ trình độ lý luận chính trị vào cuối năm 2025, do Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ giám sát triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Lãnh đạo và cán bộ chuyên trách ngành BHXH cấp huyện: Cung cấp cẩm nang thực tiễn về mô hình phân bổ 3 tổ nghiệp vụ, quy trình đối soát hồ sơ thu nộp mẫu B02a và phương pháp quản lý nợ đọng tại địa bàn có trên 75% lao động nông thôn.

  2. Cơ quan hoạch định chính sách an sinh xã hội: Tham khảo dữ liệu thực nghiệm về bài toán thâm hụt thu - chi cục bộ (chênh lệch hơn 167 tỷ đồng) để điều chỉnh cơ chế điều tiết ngân sách và hoàn thiện quy định mở rộng diện bao phủ BHXH tự nguyện.

  3. Giảng viên, học viên cao học ngành Luật Kinh tế và Quản lý công: Sử dụng làm tài liệu tham khảo với hệ thống số liệu quyết toán chuẩn xác giai đoạn 2018-2020, phương pháp xử lý dữ liệu thống kê kinh tế qua Excel và khung lý thuyết pháp lý hoàn chỉnh.

  4. Người sử dụng lao động và hiệp hội doanh nghiệp địa phương: Nắm vững quy định pháp luật về tỷ lệ trích nộp (15% quỹ lương vào BHXH), nhận diện các rủi ro pháp lý và trách nhiệm thực thi hợp đồng lao động nhằm bảo đảm quyền lợi cho người lao động.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao tổng chi BHXH tại huyện Thanh Ba năm 2020 (305,030 tỷ đồng) lại cao hơn gấp 2,2 lần tổng thu (137,61 tỷ đồng)? Sự chênh lệch này do huyện tiếp nhận lượng lớn lao động sau thời gian công tác tại các tỉnh, thành phố khác chuyển vùng hưu trí về địa phương sinh sống. Đồng thời, số người tham gia bảo hiểm bắt buộc trên địa bàn mới đạt 9.463 người, chưa tạo đủ dòng tiền đóng góp để bù đắp quỹ chi trả dài hạn.

Cơ cấu lao động nông nghiệp 75,69% tạo ra những rào cản gì cho công tác thu BHXH tại huyện Thanh Ba? Tỷ lệ lao động nông nghiệp cao đồng nghĩa với việc phần lớn lực lượng lao động có thu nhập bấp bênh, theo thời vụ và không có hợp đồng lao động chính thức. Rào cản này làm thu hẹp nguồn phát triển BHXH bắt buộc, buộc cơ quan chức năng phải chuyển hướng đẩy mạnh chính sách BHXH tự nguyện.

Tốc độ tăng trưởng thu BHXH của huyện Thanh Ba giai đoạn 2018-2020 đạt mức bao nhiêu? Tổng nguồn thu BHXH của huyện tăng trưởng vững chắc qua các năm: từ 106,48 tỷ đồng năm 2018 lên 121,79 tỷ đồng năm 2019 (tăng 14,36%) và đạt 137,61 tỷ đồng năm 2020 (tăng 12,99%), nâng mức tăng trưởng tích lũy cả giai đoạn lên 29,23%.

Mô hình bộ máy 15 cán bộ của BHXH huyện Thanh Ba được phân bổ như thế nào để vận hành hiệu quả? Cơ quan gồm Ban Giám đốc (1 Giám đốc, 2 Phó Giám đốc) phụ trách 3 tổ nghiệp vụ: Tổ thu, cấp sổ, thẻ và kiểm tra (6 người); Tổ kế toán - chi trả và giám định BHYT (3 người); Tổ thực hiện chính sách BHXH và tiếp nhận, quản lý hồ sơ (3 người), vận hành theo cơ chế một cửa liên thông.

Doanh nghiệp có hành vi trốn đóng hoặc chỉ đóng BHXH theo mức lương tối thiểu vùng sẽ chịu chế tài gì? Căn cứ Luật BHXH số 58/2014/QH13, doanh nghiệp vi phạm sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính, buộc truy nộp toàn bộ số tiền nợ kèm tiền lãi phát sinh. Trường hợp trốn đóng có tổ chức hoặc tái phạm nhiều lần sẽ bị khởi kiện dân sự hoặc xử lý hình sự theo quy định của pháp luật.

Kết luận

  • Luận văn chuẩn hóa khung lý thuyết về an sinh xã hội, nguyên tắc "lấy số đông bù số ít" và cơ chế phân phối thu nhập theo Luật BHXH số 58/2014/QH13.
  • Phân tích thực chứng kết quả quản lý thu tại BHXH huyện Thanh Ba giai đoạn 2018-2020 với quy mô thu tăng 29,23% và số người tham gia tăng 12,64%.
  • Nhận diện trực diện bài toán thâm hụt cục bộ khi tổng chi an sinh năm 2020 đạt 305,030 tỷ đồng, cao gấp 2,21 lần so với tổng nguồn thu thực tế.
  • Đề xuất 4 giải pháp chiến lược về chuyển đổi số quy trình thu, tăng cường thanh tra nợ đọng, mở rộng đại lý xã hội và chuẩn hóa năng lực 15 cán bộ.
  • Hoàn thiện lộ trình thực thi giai đoạn 2021-2026 nhằm nâng cao hiệu lực quản trị an sinh tại 27 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Thanh Ba.

Quý cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp hãy áp dụng ngay các giải pháp thực chứng từ luận văn để tối ưu hóa công tác quản trị và bảo đảm an sinh xã hội bền vững!