Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ Chương 3: GIẢI PHÁP THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ. 7 CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 2.1 Khái niệm pháp luật bảo hiểm xã hội 2.1 Khái niệm về bảo hiểm xã hội 2.1 Khái niệm Mầm móng BHXH đã xuất phát từ rất lâu, nhất là khi nền kinh tế hàng hóa bắt đầu phát triển, việc thuê mướn nhân công trở lên phổ biến. Thời kỳ đầu, các ông chủ, người sử dụng lao động chỉ cam kết trả tiền lương, tiền công, thù lao cho người lao động chứ không chịu bất kỳ trách nhiệm gì liên quan đến các rủi ro trong cuộc sống cũng như trong lao động đối với người lao động. Hiện tượng bóc lột sức lao động và đối xử mất công bằng diễn ra thường xuyên như: kéo dài thời gian làm việc, cường độ lao động tăng cao nhưng tiền công trả cho người lao động, người thợ lại rất thấp; Hiện tượng ốm đau, tai nạn lao động xảy ra phổ biến.
Với mức tiền công nhận được như vậy người lao động không đủ đảm bảo trang trải cho cuộc sống của họ cũng như gia đình họ, đặc biệt khi gặp phải các rủi ro trong cuộc sống. Thêm vào đó, nhà nước cũng như giới chủ, người sử dụng lao động không hề quan tâm hay giúp đỡ họ. Đứng trước tình cảnh đó, giai cấp công nhân đã liên hợp lại với nhau để tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau; lập ra các quỹ cứu trợ người ốm, người bị tai nạn; lập các tổ chức tương tế và vận động mọi người tham gia; đấu tranh tự phát với giới chủ, người sử dụng lao động để: đòi tăng lương giảm giờ làm; thành lập các tổ chức công đoàn và sau này là đấu tranh có tổ chức. Mâu thuẫn giữa giới chủ và thợ ngày càng trầm trọng và sâu sắc.
Các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội. Do vậy, Nhà nước đã phải đứng ra can thiệp điều hòa mâu thuẫn và thành lập một quỹ chung bắt buộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng khi tham gia vào quá trình lao động. Ngoài nguồn đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động Quỹ còn có sự tham gia đóng góp bổ sung từ ngân sách Nhà nứơc (đây được coi là cơ chế 3 bên). Nguồn quỹ này nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi không may gặp phải những rủi ro, biến cố bất lợi trong cuộc sống.
Chính nhờ nguồn quỹ và các chính sách an sinh xã hội này mà cuộc sống của người lao động ngày càng được đảm bảo ổn định, giới chủ, 8 người sử dụng lao động cũng có lợi và được bảo vệ, tránh được những xáo trộn trong sản xuất kinh doanh. Mục đích thành lập và sử dụng quỹ này mang tính chất nhân văn cao cả, tạo sự đoàn kết, gắn bó, san sẻ trong cộng đồng vì mục đích chung của toàn xã hội. Vì vậy, nguồn quỹ an sinh xã hội được tạo lập và ngày càng phát triển một cách nhanh chóng trên toàn thế giới. Đó chính là nguồn gốc sự ra đời của bảo hiểm xã hội.
Ở nước ta, BHXH được tạo lập ngay từ những ngày đầu thành lập nước và luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Sau cuộc chiến tranh chống đế quốc, thực dân gần một thế kỷ giành độc lập giải phóng dân tộc, khi bắt tay vào công cuộc xây dựng lại đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần đề cập đến vấn đề BHXH và khẳng định BHXH là một trong những chính sách cơ bản đối với NLĐ. Năm 1941, chính sách BHXH đã được Bác đề cập một cách khá toàn diện, với việc ký các Sắc lệnh: số 54 (03/11/1945) quy định điều kiện về hưu cho công chức các ngạch; số 58 (10/11/1945) về việc nghỉ gia hạn không lương cho công chức tất cả các ngạch; số 74(17/12/1945) quy định chế độ hưu cho các nhân viên, công chức mắc bệnh lao, bệnh phong phải nghỉ việc dài ngày. Quan điểm về BHXH cũng đã được Đảng và Nhà nước xây dựng đưa vào Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959.
Tại Điều 32 Hiến pháp 1959 quy định: "Người lao động được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động. Nhà nước mở rộng dần các tổ chức bảo hiểm xã hội, cứu tế và y tế để đảm bảo cho mọi người được hưởng quyền đó". Từ năm 1995, cơ chế quản lý BHXH được đổi mới toàn diện bằng việc Chính phủ ra Nghị định số 12/CP ban hành Điều lệ BHXH và đến năm 2006 Luật BHXH số 71/2006/QH11 đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 9 khóa 11 ngày 29/06/2006, có hiệu lực từ ngày 01/01/2007. Sau nhiều lần điều chỉnh, sửa đổi Luật BHXH cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ngày 20 tháng 11 năm 2014, tại kỳ họp thứ 8 khóa 13, Quốc hội đã thông qua Luật BHXH số 58/2014/QH13, có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 01 năm 2016.
Đây là Luật BHXH chính thức hiện nay đang được Nhà nước áp dụng và thực hiện các chế độ chính sách liên quan người lao động. Ở các khía cạnh khác nhau, khái niệm về BHXH được tiếp cận dưới những góc độ khác nhau: 9 Dưới góc độ Pháp luật: BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ quyền lợi người lao động, sử dụng tiền đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, hết tuổi lao động (hưu) hoặc chết theo quy định của pháp luật. Dưới góc độ chính sách xã hội: BHXH là một chính sách an sinh xã hội nhằm đảm bảo đời sống vật chất cho người lao động khi họ không may gặp phải các “rủi ro xã hội”, góp phần đảm bảo an toàn xã hội, ổn định chính trị, thúc đẩy sự phát triển bền vững của một quốc gia. Dưới góc độ quản lý: BHXH là công cụ quản lý của Nhà nước để điều chỉnh mối quan hệ kinh tế giữa NLĐ, người sử dụng lao động (NSDLĐ) và Nhà nước; thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các thành viên, thành phần trong xã hội.
Dưới góc độ tài chính: BHXH được định nghĩa là quá trình thành lập và sử dụng quỹ tiền tệ dự trữ của cộng đồng những NLĐ, có sự bảo trợ, hỗ trợ của Nhà nước, để san sẻ rủi ro, đảm bảo thu nhập cho họ và gia đình trong những trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật.[1] Như đã nêu ở trên, BHXH là một khía cạnh của xã hội có lịch sử lâu đời, qua quá trình phát triển đã có rất nhiều sự thay đổi về chất với nhiều mô hình phong phú, được thực hiện ở hầu hết các nước trên thế giới. Ở những giác độ khác nhau với những quan điểm khác nhau, khái niệm về BHXH cũng như cách triển khai thực hiện các chế độ, chính sách liên quan đến BHXH sẽ khác nhau. Tuy nhiên, đánh giá một cách tổng quát và chung nhất, khái niệm về BHXH được hiểu là: BHXH là sự tổ chức bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội.[2] 10 Ở Việt Nam, khái niệm BHXH cũng được khái quát một cách đầy đủ và rõ nét trong Luật BHXH số 58/2014/QH13 được Quốc hội khoá XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2014 như sau: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”.2 Phân loại Luật BHXH số 58/2014/QH13 quy định có 03 loại hình BHXH: Bảo hiểm xã hội bắt buộc, Bảo hiểm xã hội tự nguyện và Bảo hiểm thất nghiệp: - Bảo hiểm xã hội bắt buộc: Là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia. - Bảo hiểm xã hội tự nguyện: Là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn hình thức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất.
- Bảo hiểm thất nghiệp: Là loại hình áp dụng bắt buộc đối với người lao động là công dân việt nam từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.3 Bản chất của bảo hiểm xã hội. BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa. Khi trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH có điều kiện ra đời phát triển. Vì vậy, các nhà kinh tế cho rằng, sự ra đời và phát triển của BHXH phản ánh sự phát triển của nền kinh tế.
Một nền kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân thấp kém không thể có một hệ thống BHXH vững mạnh được. Kinh tế càng phát triển, hệ thống BHXH càng đa dạng, các chế độ BHXH ngày càng mở rộng, các hình thức BHXH ngày càng phong phú. 11 Thực chất BHXH là sự tổ chức “đền bù” hậu quả của những “rủi ro xã hội” hoặc các sự kiện bảo hiểm.