MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Năm 2007, Việt Nam bước vào thời kì cơ cấu “dân số vàng” tức lả cơ cấu dân số có số người trong độ tuối lao đông cao hơn số người phụ thuộc (người giả và trẻ em). Tuy nhiên, hiện nay nước la đã bước vào giai đoạn “giả hóa đân số” với tốc độ rất nhanh. Theo Báo cáo giả hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam (tháng 7-2011) của Quỹ Dân số Liên hop quéc (UNFPA), theo du bảo dân số của Tổng cuc Théng kê (2010) thì tý lệ người cao tuổi so với lỗng dân số ở Việt Nam sẽ đạt đến con số 10% vào năm 2017, hay đân số Việt Nam chính thức bước vảo giai đoạn “già hóa” từ năm 2017 [13].
Một Nghiên cứu khác năm 2016 của UNEPA, tỷ lệ người cáo tuổi (từ 60 tuổi trở lên) trong tổng dân số tăng ngày cảng cao hơn. Năm 1990, tỷ lệ người cao tuổi chiểm 7,2% dân số thi đến năm 2011, tỷ lệ này là 10%, chính thức bắt dầu giai đoạn “già hóa dan số”. Theo dự báo, giả hỏa dân số sẽ tiếp tục tăng nhanh: Đến năm 2038, người cao tuổi sẽ chiếm 20% tổng dân số [17] Người cao tuổi trong quá trình lâm việc nếu không có tích lãy thỉ rất dễ rơi vào hoàn cảnh nghẻo đổi bởi họ không có khá năng hoặc suy giảm kha năng làm việc dẫn đến không có thu nhập (lương hưu) hoặc thu nhập thấp không dủ khả năng lo cho cuộc sống. Hơn nữa, họ thường phải dối mặt với các vấn để về sức khỏe do tuổi tac da cao.
ho dé bi phụ thuộc vào người khác bao gồm cả người thân và những người hảo tâm. Mặt khác, nước ta phải đối mặt với tình trạng thiểu hụt nhân lực ở tất cả các ngành nghề, ngân sách nhà nước sẽ phải chịu ấp lực lớn về quỹ lương hưu cho người gao tuổi trong khi nguồn nhân lực có thể bị thiểu hụt trầm trọng trong tương lai. Dây là một thách thức lớn đối với nước ta khi khả năng đóng góp vào quỹ lương hưu. thấp, tỷ lệ người lao động được hưởng lương hưu thấp và sự co hợp của ngân sách nhà nước, nguồn hỗ trợ của Nhà nước sẽ khó có thể đắm bảo mức hỗ trợ tốt cho người cao tuôi, đặc biệt là với những người không có lương hưu.
Bao đảm lực lượng lao động én định là một phần quan trong dé bảo đâm các quỹ an sinh nhằm đáp ứng với chỉ phí an sinh xã hội ngày một tăng cao do dân số già. Chính sách tạo việc làm cho người cao tuổi là rất cần thiết hiện nay, nó không chỉ bảo đảm ổn định chính trị xã hội, ma côn trực tiếp gop phan củng cố và nâng cao sức mạnh kinh tế của đất nước. Thực hiện mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “Dân giảu, nước mạnh, xã hội công bằng va văn minh”, cùng với các chính sách phát triến kinh tế, †Đảng ta luôn chủ trương và Nhà nước đã ban hành một hệ thông chính sách xã hội hướng vào phục vụ lợi ích và phát triển loan dig con người, trang đó có các chính sách lao động - việc làm và thu nhập, chăm sóc bảo vệ sức khoẻ, chính sách đối với người có công với đất nước. Tiêu biểu sự ra đời của luật người cao tuổi năm 2009, Luật lao động có quy dinh về sử dụng lao động cao tudi, Những lao động cao tuổi tiếp tục làm việc xuất phát tử nhu cầu tăng thêm thu nhập phục vụ cho cuộu sống, có sửc khỏc đắm bảo thực hiện công việc, có năng lực, trí tuệ mong muốn dược đóng góp và cổng hiển những kiến thức và kính nghiệm tích lũy được trong quá trinh làm việc, làm chậm quá trình giá hóa khi tham gia làm việc Người cao tuổi khi tham gia vào thị trường lao động, nắm một vị trí hết sức đặc biệt bởi họ có kinh nghiệm, cỏ kỹ năng, có năng lực tích lữy qua thời gian lảm việc lâu dài.
Hên cạnh đó, ý thức kỷ luật, ý thức chấp hành và sự am hiểu về pháp luật của họ rat Tốt, tiếp nữa họ làm việc chậm rãi, tỉ mỉ và cũng ít bị tai nạn lao động hơn. Xiặt khác, việc thỏa thuận sử dựng lao động với nhóm người cao tuổi cũng dễ dàng hơn các nhóm lao động khác. l3o đó, người cao Bok 2155 neo Tầm siê tuôi vẫn có khả năng làm việc. Ww Có rất nhiều công việc người cao tuổi lắm được mà không ảnh hướng tới những người trẻ.
Ilọ tham gia làm việc tại các đơn vị, doanh nghiệp từ cổng vào như bảo vệ đến những cồng việc văn phỏng như hảnh chính, kho vận, quản ly. ‘him chỉ, trong nhiều nhà máy của các doanh nghiệp, người cao tuổi tham gia như một mắt xích trong dây chuyển sẵn xuất công nghiệp Tủ chỉ làm những sông việc giản đơn, nhưng họ có sự kiên nhẫn, ti mi, cdn thận và câu toàn. Chính vì thể, trong tương lai nhụ cầu sử dụng lao động gao tuổi còn cỏ thể nhiều hơn. "Tham gia vào thị trường lao động, những NLĐCT không chỉ tạo ra một vị thế mới mả còn đảm báo được chất lượng cuộc sống từ nguồn thu nhập do làm việc.
Người cao tuổi, đặc biết là người có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, tiếp tục làm việc là nguồn nhân lực tắt Tuy nhiên, những quy định hiện hành về NLĐCT còn nhiều bất cập, hạn chế, chưa sát thực tế gây khó khan cho NLDCT. Nam 2013, khi Bộ luật lao động có hiệu lực thi hành và một số nghị định, thông tư quy định chỉ tiết vả hướng dẫn thi hành một số nội dung của Hộ luật lao động đã khắc phục được nhiều hạn chế so với những quy định cũ. 'Lhực tế, trong quả trình thực hiện quy định về NLĐCT, cỏn nhiều bắt cập, sự xung dột giữa các điều luật và các văn bản dưới luật. Tiếp đến các quy định còn mâu thuẫn, chưa bảo vệ được NLĐCT.
Do vậy, vẫn còn nhiều quy định gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật cần được xem xét sửa đối, bố sung cho phủ hợp, bảo đắm một cách thiết thực quyền lợi cho NLBCT. Xuất phát từ thực tiễn trên, bằng việc lựa chon đễ tài “Pháp luật về người lao động cao tôi ở Việt Nam” luận văn sẽ làm sáng Lỗ các quy định của pháp luật về lao động cao tuổi, chỉ ra những mẫu thuẫn rong các quy định pháp luật đồng thời chỉ ra những điểm phù hợp hoặc không phù hợp về mặt lÿ luận so với thực tiển áp dụng quy định để từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật đảm bảo quyén loi cho NLDCT. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Năm 2007, Việt Nam bước vào thời kì cơ cấu “dân số vàng” tức lả cơ cấu dân số có số người trong độ tuối lao đông cao hơn số người phụ thuộc (người giả và trẻ em). Tuy nhiên, hiện nay nước la đã bước vào giai đoạn “giả hóa đân số” với tốc độ rất nhanh.
Theo Báo cáo giả hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam (tháng 7-2011) của Quỹ Dân số Liên hop quéc (UNFPA), theo du bảo dân số của Tổng cuc Théng kê (2010) thì tý lệ người cao tuổi so với lỗng dân số ở Việt Nam sẽ đạt đến con số 10% vào năm 2017, hay đân số Việt Nam chính thức bước vảo giai đoạn “già hóa” từ năm 2017 [13]. Một Nghiên cứu khác năm 2016 của UNEPA, tỷ lệ người cáo tuổi (từ 60 tuổi trở lên) trong tổng dân số tăng ngày cảng cao hơn. Năm 1990, tỷ lệ người cao tuổi chiểm 7,2% dân số thi đến năm 2011, tỷ lệ này là 10%, chính thức bắt dầu giai đoạn “già hóa dan số”. Theo dự báo, giả hỏa dân số sẽ tiếp tục tăng nhanh: Đến năm 2038, người cao tuổi sẽ chiếm 20% tổng dân số [17] Người cao tuổi trong quá trình lâm việc nếu không có tích lãy thỉ rất dễ rơi vào hoàn cảnh nghẻo đổi bởi họ không có khá năng hoặc suy giảm kha năng làm việc dẫn đến không có thu nhập (lương hưu) hoặc thu nhập thấp không dủ khả năng lo cho cuộc sống.
Hơn nữa, họ thường phải dối mặt với các vấn để về sức khỏe do tuổi tac da cao. ho dé bi phụ thuộc vào người khác bao gồm cả người thân và những người hảo tâm. Mặt khác, nước ta phải đối mặt với tình trạng thiểu hụt nhân lực ở tất cả các ngành nghề, ngân sách nhà nước sẽ phải chịu ấp lực lớn về quỹ lương hưu cho người gao tuổi trong khi nguồn nhân lực có thể bị thiểu hụt trầm trọng trong tương lai. Dây là một thách thức lớn đối với nước ta khi khả năng đóng góp vào quỹ lương hưu.
thấp, tỷ lệ người lao động được hưởng lương hưu thấp 2. Tỉnh hình nghiên cứu đề tài Tính tới thời điểm hiện tại đã có rất nhiều công trình nghiên cửu có liên quan đến pháp luật về NLĐCT, Trong đỏ có cả những nghiên cứu ở trong nước và cả những nghiên cứu ở nước ngoài được phổ biển rộng rãi Ở Việt Nam, những năm gần đây, cùng với sự phát triển của xã hội và chính sách hội nhập quốc tế đa phương, việc sử dụng lao động cao tuổi dang ngảy càng phố biến rộng hơn. Ý thức được vai trò của NI.ĐỢT và bám sát thực tiễn, giới học giả của Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau liên quan đến chủ đề này như: Khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội (2018), Quyển của người cao tuổi, Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, Bùi Nghĩa (2018), Chính sách với người cao tuổi & Việt Nam hiện nay, PGS.TS Nguyễn Bá Ngọc va ThS Dang BS Quyên (2016), Những thách thức về lao động việc làm trong quá trình lận dụng cơ hội dân số vàng và đối phó với già hóa dân số đề phái triển bằn vững đất nước, G3.TS Nguyễn Xuân Thắng (2011). Báo cáo quốc gia về phải triển con người năm 2011; PGS.TS Lê Thị Hoải Thu (2008), Toản tiện pháp luật lao động Liệt Nam: Nguyễn Đình Cử (2006).
Xu hướng già hòa dẫn sô thể giới và đặc trưng người cao tuổi Việt Nưn, Nguyễn Hữu Chỉ (2002), Hợp đẳng lao ding trong cơ chế thị trường ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội, .