Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm. Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm. 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN, VỆ SINH THỰC PHẨM 1.
Khái quát về bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm 1. Khái niệm người tiêu dùng “Tiêu dùng” được định nghĩa theo Từ điển kinh tế học là hành vi sử dụng hoàng hóa và dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu hiện tại [45, tr. Tiêu dùng chính là động lực của quá trình sản xuất, kích thích cho sản xuất phát triển. Tiêu dùng là mục đích cuối cùng mà quá trình sản xuất hướng tới, là cầu nối kết nối giữa tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh với người sử dụng các sản phẩm mà nhà sản xuất cung cấp.
Chủ thể của những hành vi tiêu dùng, sử dụng sản phẩm, dịch vụ được gọi là NTD. Trong mọi nền kinh tế, NTD luôn là lực lượng đông đảo, là động lực để phát triển sản xuất, kinh doanh. NTD được xem là có tác động vô cùng to lớn đến quá trình vận hành, phát triển của thị trường. Trong tuyên bố đưa ra trước Thượng viện Mỹ ngày 15/3/1962, Cựu Tổng thống Mỹ John Kennedy đã từng nhấn mạnh: “NTD theo định nghĩa, bao gồm tất cả chúng ta.
Họ là nhóm kinh tế lớn nhất gây ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng bởi hầu hết các quyết định kinh tế Nhà nước và tư nhân…” để chứng minh NTD chính là lực lượng quan trọng trong nền kinh tế. Liên quan đến việc xác định khái niệm NTD, hiện nay, trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau: Theo quan điểm của Liên minh Châu Âu,“NTD là bất cứ tự nhiên nhân nào (tức là cá nhân) tham gia vào các hợp đồng điều chỉnh trong Chỉ thị này… vì mục đích không liên quan đến hoạt động kinh doanh hoặc nghề nghiệp của mình” (theo Chỉ thị số 1999/44/EC ngày 25/05/1999 về việc mua bán hàng hóa tiêu dùng và các 7 bảo đảm có liên quan). Quan điểm này tương đối đồng nhất với quan điểm của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Trung Quốc, Nhật Bản,…cụ thể: Theo Điều 2 Luật BVQLNTD năm 1993 của Trung Quốc quy định: Trường hợp NTD, vì nhu cầu cuộc sống, mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ thì các quyền và lợi ích hợp pháp của mình sẽ được bảo vệ theo quy định của Luật này và trường hợp Luật này không quy định thì sẽ được bảo vệ theo các quy định khác có liên quan của pháp luật. Như vậy có thể hiểu, NTD theo quan điểm của pháp luật Trung Quốc là cá nhân mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ vì nhu cầu sinh hoạt của mình chứ không phải vì mục đích kinh doanh.
Theo Điều 2(1) Luật về Hợp đồng tiêu dùng của Nhật Bản năm 2000 quy định: “NTD theo quy định của luật này là cá nhân nhưng không bao gồm cá nhân tham gia hợp đồng với mục đích kinh doanh”. Bên cạnh đó, ở Canada, quy định về bảo vệ NTD thường được quy định trong các đạo luật về bảo vệ NTD của các bang ở quốc gia này. Trong các đạo luật này, NTD được giải thích là các cá nhân, như: Luật Bảo vệ NTD của Bang Quebec: Điều 1(e) giải thích rõ “NTD là tự nhiên nhân (cá nhân) nhưng không phải là thương nhân mua sắm hàng hóa, dịch vụ cho mục đích kinh doanh của mình.” Luật về bảo vệ NTD và các hành vi kinh doanh của Bang British Columbia cũng quy định rõ tại Điều 1 “NTD là tự nhiên nhân (cá nhân) tham gia giao dịch tiêu dùng”, tức là tham gia giao dịch mua sắm hàng hóa, dịch vụ với mục đích chủ yếu phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc nhu cầu sinh hoạt gia đình. Tại Malaysia, Luật Bảo vệ NTD năm 1999 định nghĩa: NTD là người mua hoặc sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ cho mục đích sinh hoạt cá nhân hoặc sinh hoạt gia đình… và không gồm việc mua hoặc sử dụng hàng hóa vì mục đích chính để bán lại hoặc đưa vào quá trình sản xuất hàng hóa, dịch vụ khác hoặc để dùng cho việc sửa chữa, gắn thêm vào hàng hóa khác.
8 Như vậy, hầu hết các quốc gia đều quy định NTD là cá nhân, nhưng cũng có một số quốc gia ghi nhận NTD bao gồm cả tổ chức, đơn cử là pháp luật của Ấn Độ. Luật Bảo vệ NTD của Ấn Độ năm 1986 quy định như sau (Điều 2(1d) và 2(1m)): Điều 2(1d): NTD là bất kỳ người nào mua bất kỳ loại hàng hóa nào hoặc thuê hay sử dụng bất kỳ dịch vụ nào bao gồm cả những người sử dụng hàng hóa hoặc được hưởng lợi từ dịch vụ khác với người mua hàng hóa hoặc thuê sử dụng dịch vụ đó, không bao gồm người mà có được hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ như vậy để bán lại hoặc để cho bất kỳ mục đích thương mại nào Điều 2(1m) giải thích chữ “người” trong khái niệm trên được hiểu là: hãng (doanh nghiệp), cá nhân, hộ gia đình, hợp tác xã, tổ chức xã hội. Mặc dù có một số sự khác biệt về khái niệm NTD giữa các quốc gia, nhưng có thể thấy, đa số đều thống nhất ở mục đích của hành vi mua bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ là phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, gia đình, không nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận. Tại Việt Nam, khái niệm NTD được quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật BVQLNTD năm 2010 như sau: “NTD là người mua, sử dụng hàng hóa dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”.
Trong quá trình sửa đổi Luật BVQLNTD, có hai luồng quan điểm trái chiều về việc sửa đổi khái niệm NTD, cụ thể: - Quan điểm thứ nhất đề nghị quy định khái niệm NTD bao gồm cả tổ chức vì: thực tế, việc mua, sử dụng các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ không chỉ là hoạt động của cá nhân mà còn có cả tổ chức để phục vụ cho mục đích tiêu dùng. Bên cạnh đó, không phải chỉ NTD là cá nhân mới thuộc nhóm yếu thế khi xét trong mối quan hệ với chủ thể sản xuất kinh doanh hàng hóa, mà trong nhiều trường hợp NTD là tổ chức cũng không có đủ khả năng tự bảo vệ trước các hành vi xâm phạm từ phía các cơ sở sản xuất, kinh doanh. - Quan điểm thứ hai lại cho rằng không cần đưa “tổ chức” vào khái niệm NTD vì theo báo cáo của Bộ Công Thương, trong nhiều năm thực hiện chính sách, pháp luật về BVQLNTD, số lượng khiếu nại, khiếu kiện liên quan đến vấn đề BVQLNTD của tổ chức phát sinh rất ít. Bên cạnh đó, NTD là tổ chức cũng nhiều 9 lợi thế hơn so với NTD là cá nhân khi tham gia các giao dịch tiêu dùng hay trong quá trình giải quyết tranh chấp tiêu dùng.
Trên cơ sở ý kiến đóng góp từ Đoàn Đại biểu quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Bộ, Ban, Ngành liên quan, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam,… và kế thừa khái niệm NTD theo Luật BVQLNTD năm 2010, Luật mới bổ sung tiêu chí “không vì mục đích thương mại” vào khái niệm NTD, cụ thể: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức và không vì mục đích thương mại.” Việc bổ sung tiêu chí này để nhằm làm rõ hơn định nghĩa về NTD, nếu mục đích mua, sử dụng có liên quan tới mục đích thương mại, chủ thể liên quan sẽ không được coi là NTD. Việc khái niệm NTD quy định vẫn bao gồm tổ chức sẽ tạo cơ chế bảo vệ trong trường hợp số đông NTD bị thiệt hại do có vi phạm từ phía nhà sản xuất, kinh doanh, nhất là với các trường hợp như nhà trẻ, trường học, doanh nghiệp mua hàng tiêu dùng cho trẻ em, học sinh, cho công nhân sử dụng. Bên cạnh đó, Luật quy định thêm đối tượng “NTD dễ bị tổn thương" – đây là chủ trương, chính sách rất nhân văn của Đảng và Nhà nước nhằm bảo vệ toàn diện quyền lợi chính đáng của NTD. Theo đó, tại Điều 8 Luật BVQLNTD năm 2023 xác định 7 nhóm NTD dễ bị tổn thương, đó là: - Người cao tuổi theo quy định của pháp luật về người cao tuổi; - Người khuyết tật theo quy định của pháp luật về người khuyết tật; - Trẻ em theo quy định của pháp luật về trẻ em; - Người dân tộc thiểu số; người sinh sống tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật; - Phụ nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi; - Người bị bệnh hiểm nghèo theo quy định của pháp luật; - Thành viên hộ nghèo theo quy định của pháp luật.
Cùng với đó, quy định thêm về cách thức thực hiện bảo vệ quyền lợi cho 10 NTD dễ bị tổn thương và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc bảo vệ quyền lợi cho nhóm NTD này. Khái niệm an toàn thực phẩm Thực phẩm là là nguồn cung cấp năng lượng, chất dinh dưỡng cho cơ thể, đảm bảo sức khỏe cho con người, nhưng đồng thời cũng có thể là nguồn gây bệnh nếu thực phẩm mà con người sử dụng không đảm bảo vệ sinh, an toàn. Về lâu dài thực phẩm bẩn, không đảm bảo chất lượng không những gây ra tác động tiêu cực, thường xuyên tới sức khỏe mỗi người mà còn ảnh hưởng lâu dài đến nòi giống của dân tộc. Vệ sinh ATTP là việc đảm bảo các điều kiện và biện pháp cần thiết để thực phẩm không bị hư hỏng, không chứa các tác nhân sinh học, hóa học, vật lý quá giới hạn cho phép, đảm bảo cho thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người [24, tr.
Pháp luật Việt Nam cũng quy định khái niệm này như sau: Theo Khoản 1, Điều 2, Luật ATTP năm 2010 quy định "ATTP là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người".