Chương 1, tr24 9 triển toàn diện cơ thể. Khác với người lao động thông thường, trong giai đoạn này nếu NLĐCTN phải lao động trong nhiều giờ, phải phải tiếp xúc với môi trường hay làm những công việc không phù hợp,… thì sẽ ảnh hưởng rất xấu đến sự phát triển thể trạng, sinh lý của nhóm người này. Về đặc điểm tâm lý: Theo các chuyên gia, trong giai đoạn này NCTN đa số vẫn là học sinh. Đặc biệt đối với các em ở lứa tuổi cấp 3, các em thường có khuynh hướng làm người lớn.
Khuynh hướng này có nghĩa về tâm lý của đối tượng này đã coi mình là người lớn nhưng trong thực tế về độ tuổi họ vẫn chưa trưởng thành. Không những vậy, tâm lý của họ luôn muốn khẳng định, thể hiện bản thân với mọi người không chỉ trong học tập, suy nghĩ mà đa số họ có xu hướng muốn kiếm tiền từ sớm, độc lập về tài chính. Chính vì vậy nhóm đối tượng này không chỉ rất dễ bị lợi dụng mà đây cũng là giai đoạn quan trọng trong việc định hình nhân cách, nhận thức của NCTN vì vậy trong lứa tuổi này nếu phải tham gia lao động sẽ dễ bị tác động mạnh đến tâm lý do những ảnh hưởng từ lao động gây ra. Về đặc điểm quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của NLĐCTN: Xuất phát từ đặc điểm sinh lý, tâm lý mang tính đặc thù nên nhóm NCTN được cho là nhóm thuộc có nguy cơ cao trong vấn đề bị ảnh hưởng bởi môi trường không tốt, dễ bị xâm hại hay bị tác động từ các yếu tố của xã hội.
Vì vậy NLĐCTN so với NLĐTN được pháp luật bảo vệ ở mức độ cao hơn. Điều này chúng ta dễ rằng nhận thấy các quy định của pháp luật đối với NLĐCTN, pháp luật đã trao cho họ được hưởng một số quyền và lợi ích ngang bằng hoặc hơn so với NLĐTN như quy định về tiền lương; thời gian làm việc, nghỉ ngơi; ATLĐ,VSLĐ,…. Ngoài ra, pháp luật về bảo vệ NLĐCTN còn hạn chế đối tượng này tham gia là một số công việc ngành nghề nhất định. Điều này không phải là sự phân biệt đối xử hay giới hạn về quyền của NLĐCTN mà thể hiện sự bảo vệ của pháp luật đối với họ.
Pháp luật quy định cụ thể những ngành nghề mà NLĐCTN không được tham gia làm việc hay cũng chính là những ngành này công việc mà NSDLĐ không được phép tuyển dụng. Đó là những ngành nghề, công việc mang tính chất nguy hiểm, không phù hợp với thể trạng NLĐCTN, những công việc trong môi trường có hại cho sức khỏe, hay những công 10 việc chứa những yếu tố khiến NLĐCTN dễ lâm vào tình trạng bị lạm dụng về tình dục, sức lao động,… cũng được pháp luật cấm NSDLĐ tuyển dụng. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định danh mục những công việc nhẹ nhàng phù hợp với lứa tuổi của NLĐCTN kèm theo những điều kiện nhằm hạn chế việc lạm dụng từ phía NSDLĐ và quan trọng hơn là để bảo vệ NLĐCTN khi họ tham gia vào QHLĐ. Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo quyền lợi và đảm bảo sự an toàn của NLĐCTN, pháp luật cũng hạn chế một phần năng lực hành vi khi giao kết HĐLĐ của họ trong những trường hợp nhất định.
Yêu cầu về NĐD cho NCTN trong pháp luật dân sự cũng tương tự như trong PLLĐ. Theo đó, đối tượng này khi giao kết HĐLĐ phải có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ. Như vậy, NLĐCTN mặc dù được trực tiếp giao kết HĐLĐ với NSDLĐ nhưng kèm theo điều kiện là phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ thì hợp đồng đó mới có hiệu lực. Lý luận pháp luật về bảo vệ người lao động chưa thành niên 1.
Khái niệm pháp luật về bảo vệ NLĐCTN Pháp luật có vai trò rất quan trọng trong đời sống, ảnh hưởng mạnh mẽ tới các quan hệ xã hội. Pháp luật không chỉ là công cụ để nhà nước quản lý xã hội; là phương tiện để công dân thực hiện quyền của mình, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của ý thức, đạo đức, lành mạnh hóa đời sống xã hội và góp phần bồi đắp những giá trị mới. Đặc biệt, Việt Nam và các quốc gia trên thế giới đều quan tâm nghiên cứu liên quan tới các vấn đề chăm sóc, giáo dục, phòng ngừa tội phạm là NCTN. Pháp luật Việt Nam đang không ngừng từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật chính sách liên quan đến việc đảm bảo quyền cho NCTN.
Các quy định pháp luật về bảo vệ NLĐCTN của Việt Nam cần liên tục được đánh giá sửa đổi bổ sung cho phù hợp với hoàn cảnh trong nước và pháp luật quốc tế do sự phát triển nhanh đa dạng các QHXH. Qua các phân tích trên, ta có khái niệm: “Pháp luật về bảo vệ người lao động chưa thành niên là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình phòng ngừa và bảo vệ các quyền 11 của người lao động chưa thành niên trong quan hệ lao động với người sử dụng lao động được thực hiện trên thực tế”. Nguyên tắc của pháp luật về bảo vệ NLĐCTN Thứ nhất, tôn trọng quyền được tham gia QHLĐ của NLĐCTN. Mặc dù NLĐCTN có những đặc điểm đặc thù riêng, họ là những đối tượng chưa phát triển đầy đủ về thể lực, trí lực, đa phần nhóm người này đều đang trong độ tuổi đi học và vẫn cần được chăm sóc bảo vệ.
Nhưng nếu pháp luật cấm hoàn toàn đối tượng này tham gia vào QHLĐ sẽ đi ngược lại nhu cầu, lợi ích của họ hoặc gia đình và xã hội. Bên cạnh đó, có nhiều nguyên nhân khác dẫn đến nhóm đối tượng này phải TGLĐ từ sớm như: Tại những nước đang phát triển, các nước chưa phát triển đa phần đều chưa có đủ điều kiện nhằm thực hiện tốt các tiêu chuẩn quốc tế về an sinh xã hội, vẫn còn nhiều trường hợp NCTN là người mồ côi cha mẹ, không nơi nương tựa hay sống trong gia đình người là trụ cột bị tai nạn hay ốm đau, thậm chí là mất việc làm,. hoặc thu nhập của người trụ cột thấp không đủ trang trải cuộc sống cho gia đình thì việc họ phải tham gia lao động là điều khó tránh khỏi. Một lý do khác dẫn đến nhu cầu lao động của NCTN ngày một tăng là do tình trạng không đi học của họ.
Ở những quốc gia này, hệ thống an sinh xã hội chưa đủ khả năng để hỗ trợ cho những đối tượng còn nhỏ tuổi thất học hay bỏ học sớm, gia đình của các em thường thuộc diện khó khăn, không có khả năng nuôi nấng chăm sóc điều này kéo theo nhu cầu tham gia vào thị trường lao động của họ là rất lớn. Chính vì thế, cần thừa nhận và tôn trọng quyền tham gia QHLĐ của đối tượng này trong các quy định của pháp luật. NCTN có quyền lựa chọn bất kỳ công việc mà pháp luật không cấm, môi trường làm việc bảo đảm theo các tiêu chuẩn phù hợp với lứa tuổi, tâm sinh lý của NLĐCTN và được hưởng các quyền lợi do pháp luật ban hành khi tham gia QHLĐ. Thứ hai, bảo vệ NLĐCTN thông qua các tiêu chuẩn tối thiểu về quyền lợi và tối đa về nghĩa vụ trên cơ sở độ tuổi, đồng thời khuyến khích các thỏa thuận có lợi hơn cho NLĐCTN so với quy định của pháp luật.
12 Khi giao kết hợp đồng hay trong QHLĐ, NLĐCTN thường ở vị trí yếu thế hơn so với NSDLĐ. Sự yếu thế của NLĐCTN thể hiện rõ ở đặc thù của đặc điểm về thể lực và trí thức. Do vậy nếu áp dụng nguyên tắc tự do đàm phán hay thương lượng thì khi thiết lập QHLĐ giữa hai bên, phía NLĐCTN thường sẽ rơi vào tình thế bất lợi quyền và lợi ích hợp pháp của họ sẽ không được đảm bảo. Vì lẽ đó, pháp luật cần có những quy định riêng nhằm đảm bảo quyền lợi và lợi ích hợp pháp của NLĐCTN, đồng thời khuyến khích các thỏa thuận có lợi hơn so với quy định của pháp luật đối với NLĐCTN.
Nguyên tắc này được hiểu là các nhà làm luật định ra các mức độ khác nhau để đảm bảo quyền lợi ích cho NLĐCTN trong phạm vi giới hạn bắt buộc mà các bên tham gia QHLĐ không được vi phạm giúp cân đối hài hòa quyền và nghĩa vụ của các bên trong QHLĐ cũng như lợi ích của xã hội. Thứ ba, bảo vệ NLĐCTN trong mối tương quan với bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của NSDLĐ Việc pháp luật quan tâm, chú trọng việc bảo vệ quyền lợi của NLĐCTN là điều rất cần thiết. Tuy nhiên nếu các quy định “quá nghiêng” về bảo vệ NLĐCTN mà không tính đến quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ cũng sẽ gây bất lợi cho đối tượng này. Trong trường hợp, NLĐCTN gây thiệt hại đến tài sản, doanh thu hay gây thiệt hại đến các quyền và lợi ích của NSDLĐ nhưng không phải bồi thường hoặc được miễn hoàn toàn trách nhiệm bồi thường có thể dẫn đến xu hướng thay vì sử dụng NLĐCTN thì NSDLĐ sẽ chọn lao động thành niên để giao kết HĐLĐ.
Do vậy sẽ hạn chế cơ hội có việc làm của bản thân NLĐCTN. Chính vì thế, cần xem xét mối tương quan giữa các bên hoặc từng lĩnh vực khác nhau để đưa ra những quy định điều chỉnh cho phù hợp. Nội dung của pháp luật về bảo vệ NLĐCTN 1. Quy định về việc làm cho NLĐCTN 13 Người lao động nói chung và NLĐCTN nói riêng đều có quyền có việc làm và được tự do lựa chọn công việc phù hợp với khả năng của mình.
Họ có quyền lựa chọn môi trường làm việc, các ngành nghề và làm cho bất kỳ NSDLĐ nào họ mong muốn, mà không phạm vào các điều cấm của luật. Đây là những quyền cơ bản tạo điều kiện cho NLĐCTN có thu nhập, đảm bảo được cuộc sống và giúp đỡ gia đình. ILO không đưa ra cụ thể khái niệm về việc làm, tuy nhiên ILO đã có nhiều Công ước và khuyến nghị liên quan đến việc làm, trong đó có một số công ước quan trọng như “Công ước số 47 về duy trì tuần làm việc 40 giờ”, “Công ước số 88 về tổ chức dịch vụ việc làm”, “Công ước số 22 về chính sách việc làm”,… điều này thể hiện vấn đề việc làm là một trong những mục tiêu quan trọng mà tổ chức ILO hướng tới.