Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Phương Duyên (Khoa Luật, Học viện Ngân hàng, 2024) tập trung vào việc nghiên cứu các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ người lao động chưa thành niên (NLĐCTN) tại Việt Nam.
Theo lập luận của tác giả, NLĐCTN là lực lượng lao động đặc thù, vừa là mầm non tương lai của quốc gia vừa sở hữu khả năng tiếp thu và thích nghi nhanh. Tuy nhiên, do những hạn chế về thể chất, tâm lý và kinh nghiệm sống, nhóm đối tượng này dễ bị lạm dụng, bóc lột sức lao động hoặc bị phụ thuộc hoàn toàn vào người sử dụng lao động (NSDLĐ). Về bối cảnh pháp lý quốc tế và trong nước, Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Quyền Trẻ em vào ngày 20/02/1990. Hệ thống pháp luật Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản điều chỉnh quyền của người chưa thành niên như Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Trẻ em, Luật An toàn, vệ sinh lao động, Luật Giáo dục nghề nghiệp. Mặc dù vậy, tình trạng vi phạm quyền của NLĐCTN trên thực tế vẫn diễn biến phức tạp do hệ thống quy phạm còn thiếu đồng bộ, trùng lặp, cơ chế phối hợp liên ngành chưa cao và ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận cán bộ, người dân còn hạn chế.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn thi hành, từ đó đề xuất các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ NLĐCTN tại Việt Nam.
Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định 03 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về người chưa thành niên, người lao động chưa thành niên và pháp luật về bảo vệ người lao động chưa thành niên.
- Phân tích thực trạng những quy định của pháp luật về bảo vệ người lao động chưa thành niên ở Việt Nam trên một số lĩnh vực, chỉ ra nguyên nhân trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật.
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, nêu lên quan điểm và đề xuất kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về bảo vệ người lao động chưa thành niên ở Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề lý luận, quy định pháp luật thực định và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ NLĐCTN, cùng các quan điểm, giải pháp hoàn thiện. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong các quy phạm của ngành luật Lao động, trọng tâm là Bộ luật Lao động năm 2012, Bộ luật Lao động năm 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan (các Nghị định, Thông tư của Chính phủ và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác - Lênin, lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, cùng các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về quyền con người và quyền trẻ em.
Khung lý thuyết và văn bản pháp luật được sử dụng bao gồm:
- Khái niệm pháp lý nền tảng: Định nghĩa "người chưa thành niên" theo Bộ luật Dân sự năm 2015 (người chưa đủ 18 tuổi); "người lao động chưa thành niên" theo Bộ luật Lao động năm 2019 (người lao động chưa đủ 18 tuổi) và khái niệm học thuật mở rộng của TS. Nguyễn Hữu Chí và ThS. Trần Thắng Lợi (người dưới 18 tuổi có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động).
- Hệ thống văn bản pháp luật quốc gia: Bộ luật Lao động năm 2012 và năm 2019, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, Luật Việc làm năm 2013, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014; Nghị định số 145/2020/NĐ-CP, Nghị định số 12/2022/NĐ-CP, Nghị định số 114/2002/NĐ-CP; Thông tư số 09/2020/TT-BLĐTBXH, Thông tư số 11/2013/TT-BLĐTBXH.
- Tiêu chuẩn pháp lý quốc tế: Công ước số 138 về tuổi lao động tối thiểu (1973), Công ước số 182 về việc cấm và hành động ngay lập tức để xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (1999) của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO); Khuyến nghị số 126 (1962) về giảm bớt thời giờ làm việc và Khuyến nghị số 146 (1973) của ILO.
- Pháp luật một số quốc gia: Quy định bảo vệ lao động trẻ em của Vương quốc Anh, Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động Công bằng (FLSA - 29 CFR 570) của Hoa Kỳ, và Luật Bảo vệ trẻ vị thành niên năm 2020 của Trung Quốc (Điều 61).
Phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh luật học (đối chiếu giữa Bộ luật Lao động năm 2012 và Bộ luật Lao động năm 2019; đối chiếu pháp luật Việt Nam với chuẩn mực quốc tế và pháp luật nước ngoài), cùng phương pháp thống kê xã hội học dựa trên dữ liệu thứ cấp.
Nguồn dữ liệu thực tiễn được trích xuất từ các báo cáo khảo sát quốc gia về lao động trẻ em của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, số liệu công bố từ Cục Trẻ em, số liệu của Tổng cục Thống kê, thông tin thống kê từ phòng Lao động - Thương binh và Xã hội các địa phương và phản ánh từ các cơ quan báo chí (Báo Hà Nội mới, Báo Lao Động, Đài Truyền hình Việt Nam VTV).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về người lao động chưa thành niên và pháp luật bảo vệ người lao động chưa thành niên ở Việt Nam
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về người lao động chưa thành niên, phân tích các đặc trưng tâm - sinh lý và địa vị pháp lý của nhóm chủ thể này:
- Đặc điểm tâm - sinh lý: NLĐCTN đang trong giai đoạn phát triển thể lực và định hình nhân cách, chưa hoàn thiện về nhận thức pháp luật, có xu hướng muốn tự lập tài chính sớm nhưng dễ bị tổn thương, bóc lột hoặc lôi kéo vào môi trường lao động độc hại.
- Nguyên tắc pháp lý bảo vệ NLĐCTN: Tác giả xác định 03 nguyên tắc cơ bản: (1) Tôn trọng quyền tham gia quan hệ lao động của NLĐCTN; (2) Bảo vệ NLĐCTN thông qua các tiêu chuẩn tối thiểu về quyền lợi và tối đa về nghĩa vụ trên cơ sở độ tuổi, đồng thời khuyến khích các thỏa thuận có lợi hơn; (3) Bảo vệ NLĐCTN trong mối tương quan hài hòa với quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động.
- Nội dung pháp luật bảo vệ: Gồm các nhóm quy định về việc làm; giáo dục nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề (độ tuổi tối thiểu học nghề là đủ 14 tuổi theo Điều 61 BLLĐ 2019); giao kết hợp đồng lao động (HĐLĐ); tiền lương; thời giờ làm việc và nghỉ ngơi; an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ); kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất; thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp lao động.
- Kinh nghiệm quốc tế: Tác giả phân tích chuẩn mực của Công ước ILO 138 (độ tuổi tối thiểu thông thường không dưới 15 tuổi, ngoại lệ 14 tuổi cho các nước đang phát triển, công việc nhẹ từ 13-15 tuổi, công việc nguy hại từ đủ 18 tuổi); kinh nghiệm của Anh (giới hạn giờ làm việc của trẻ em trước/sau giờ học), Hoa Kỳ (quy định chi tiết khung giờ làm việc tối đa trong ngày đi học và ngày nghỉ theo FLSA), và Trung Quốc (cấm tuyển dụng dưới 16 tuổi và cấm các tụ điểm dịch vụ thương mại, quán bar, internet tuyển dụng lao động dưới 18 tuổi).
| Nhóm độ tuổi |
Công việc được phép giao kết HĐLĐ theo quy định pháp luật Việt Nam |
| Dưới 13 tuổi |
Chỉ được làm các công việc nghệ thuật, thể dục, thể thao không gây tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và phải có sự đồng ý của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc UBND cấp tỉnh. |
| Từ đủ 13 đến dưới 15 tuổi |
Chỉ được làm các công việc nhẹ theo danh mục do Bộ LĐ-TB&XH ban hành (Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH liệt kê 12 nhóm công việc nhẹ như biểu diễn nghệ thuật, vận động viên thể thao, lập trình phần mềm, một số nghề truyền thống, thủ công mỹ nghệ...). |
| Từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi |
Được làm hầu hết các công việc phù hợp với sức khỏe, trừ danh mục các công việc và nơi làm việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc gây tổn hại đến thể lực, trí lực, nhân cách (Điều 147 BLLĐ 2019). |
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ người lao động chưa thành niên ở Việt Nam
Chương 2 phân tích chuyên sâu thực trạng các quy định pháp luật thực định và đối chiếu với thực tiễn áp dụng:
1. Thực trạng quy định pháp luật:
- Về việc làm: BLLĐ năm 2019 và Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH đã bổ sung danh mục công việc nhẹ cho người từ 13 đến dưới 15 tuổi (bổ sung công việc lập trình phần mềm, đan lát...). Tuy nhiên, Thông tư 09 lại bãi bỏ danh mục công việc cụ thể cho người dưới 13 tuổi (trước đây có trong Thông tư 11/2013/TT-BLĐTBXH), dẫn đến khó khăn cho cơ quan chuyên môn cấp tỉnh trong việc thẩm định và phê duyệt.
- Về hình thức và chủ thể HĐLĐ: Pháp luật quy định HĐLĐ với người dưới 15 tuổi bắt buộc phải lập bằng văn bản và có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật (NĐD). BLLĐ năm 2019 đã bổ sung hình thức HĐLĐ điện tử (Điều 14). Tuy nhiên, luật chưa quy định rõ vai trò của NĐD khi sửa đổi hoặc chấm dứt HĐLĐ.
- Về tiền lương: BLLĐ năm 2019 đã bổ sung quy định cho phép người lao động ủy quyền cho người khác nhận lương (Điều 94) và buộc NSDLĐ chịu phí mở tài khoản ngân hàng (Điều 96). Tuy nhiên, văn bản hiện hành đã bãi bỏ quy định "lao động chưa thành niên làm công việc như người thành niên thì được trả lương như nhau" từng tồn tại tại Điều 19 Nghị định 114/2002/NĐ-CP.
- Về thời giờ làm việc: Người dưới 15 tuổi làm việc không quá 04 giờ/ngày và 20 giờ/tuần, cấm làm thêm giờ và làm việc ban đêm. Người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi làm việc không quá 08 giờ/ngày và 40 giờ/tuần, nhưng luật vẫn cho phép nhóm này làm thêm giờ và làm ban đêm ở một số ngành nghề. Tác giả chỉ ra điểm này chưa hoàn toàn tương thích với Khuyến nghị số 146 của ILO.
- Về xử lý kỷ luật và trách nhiệm vật chất: Điểm c Khoản 1 Điều 122 BLLĐ 2019 chỉ yêu cầu sự tham gia của NĐD khi xử lý kỷ luật người dưới 15 tuổi. Điều này tạo khoảng trống pháp lý đối với người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi, mâu thuẫn với quy định bồi thường thiệt hại tại Khoản 2 Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015 (cha mẹ phải bồi thường phần tài sản còn thiếu nếu con từ 15-18 tuổi không đủ tài sản bồi thường).
- Về chế tài và thanh tra: Mức phạt vi phạm hành chính đối với hành vi không lập sổ theo dõi NLĐCTN tại Nghị định 12/2022/NĐ-CP còn thấp. Điều 296 BLHS năm 2015 chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi vi phạm sử dụng lao động dưới 16 tuổi, bỏ trống nhóm tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi. Bộ máy thanh tra lao động chưa có bộ phận thanh tra chuyên trách về NLĐCTN.
2. Thực tiễn thi hành:
Tác giả tổng hợp các số liệu thực tế phản ánh tình hình vi phạm pháp luật về sử dụng NLĐCTN:
| Chỉ số / Tiêu chí thực tiễn |
Số liệu trích xuất từ văn bản |
| Quy mô lao động trẻ em cả nước |
Khoảng 1,75 triệu trẻ em đang tham gia lao động (khảo sát của Bộ LĐ-TB&XH). Năm 2023 ghi nhận khoảng 1 triệu trẻ em dưới 17 tuổi lao động trái pháp luật (chiếm 5,3% tổng số trẻ em). |
| Cơ cấu lao động trẻ em theo ngành nghề |
Nông nghiệp chiếm 67%; Dịch vụ chiếm 16,6%; Công nghiệp và Xây dựng chiếm 15,8%. |
| Mức độ rủi ro, nguy hại |
75% lao động trẻ em có nguy cơ làm việc trong các ngành nghề bị cấm sử dụng NLĐCTN. Hơn 500.000 trẻ em phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. |
| Thời gian làm việc & Học vấn |
Thời gian làm việc bình quân kéo dài khoảng 42 giờ/tuần. Ước tính 52% lao động trẻ em đã thôi học và 2,8% chưa từng đi học. |
| Thực trạng tại địa phương (Hà Nội) |
Toàn thành phố có khoảng 30.000 lao động trẻ em (chiếm 1,7% số trẻ em). Tập trung tại các làng nghề huyện Thạch Thất (xã Canh Nậu: 220 em; xã Bình Phú: 196 em), Chương Mỹ, Hoài Đức, Gia Lâm, Thường Tín, Thanh Oai. |
| Hành vi lách luật, gian lận hồ sơ |
Tình trạng công ty môi giới sửa chữa CMND/CCCD của lao động dưới 18 tuổi để đưa vào làm việc tại các nhà máy ở Khu công nghiệp Khai Sơn (Bắc Ninh) (Báo Lao Động, 8/2022). |
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo vệ lao động chưa thành niên ở Việt Nam
Chương 3 đề xuất định hướng, các kiến nghị lập pháp và giải pháp thực thi đồng bộ:
- Định hướng hoàn thiện: Bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, phù hợp với các cam kết và chuẩn mực quốc tế của ILO, cân bằng giữa bảo vệ quyền của NLĐCTN và tôn trọng quyền tuyển dụng hợp pháp của NSDLĐ.
- Kiến nghị sửa đổi quy định pháp luật:
- Ban hành danh mục cụ thể các công việc nghệ thuật, thể dục thể thao cho đối tượng dưới 13 tuổi để tạo căn cứ rõ ràng cho UBND cấp tỉnh phê duyệt.
- Bắt buộc hợp đồng đào tạo nghề đối với NLĐCTN phải được giao kết bằng văn bản.
- Bổ sung quy định bắt buộc phải có sự tham gia của người đại diện theo pháp luật khi thay đổi, chấm dứt HĐLĐ và khi xử lý kỷ luật lao động đối với nhóm lao động từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi nhằm tương thích với Điều 586 BLDS năm 2015.
- Rà soát, hạn chế tối đa các trường hợp cho phép lao động từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi làm thêm giờ và làm ban đêm theo đúng tinh thần Khuyến nghị số 146 của ILO.
- Tăng mức xử phạt vi phạm hành chính tại Nghị định 12/2022/NĐ-CP; sửa đổi Điều 296 BLHS năm 2015 theo hướng mở rộng phạm vi xử lý hình sự đối với hành vi sử dụng trái phép lao động từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi trong các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
- Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi: Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động cho NSDLĐ và phụ huynh; thực hiện chính sách hỗ trợ kinh tế, giảm nghèo cho các gia đình khó khăn; thúc đẩy giáo dục bắt buộc và hỗ trợ học nghề cho thanh thiếu niên; nâng cao năng lực thanh tra lao động và thiết lập cơ chế giám sát chuyên biệt; tạo điều kiện cho các tổ chức phi lợi nhuận tham gia bảo vệ trẻ em; tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng ngừa lao động trẻ em.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã hệ thống hóa và làm rõ khung pháp lý về bảo vệ người lao động chưa thành niên tại Việt Nam với các kết quả cụ thể:
- Làm rõ tính đặc thù về năng lực chủ thể của NLĐCTN: người dưới 18 tuổi tham gia quan hệ lao động có sự hạn chế nhất định về năng lực hành vi và cần sự hỗ trợ, đồng ý của người đại diện theo pháp luật trong các giai đoạn quan trọng.
- Chỉ ra các mâu thuẫn, khoảng trống pháp luật thực định giữa Bộ luật Lao động năm 2019 với Bộ luật Dân sự năm 2015 (vấn đề đại diện khi xử lý kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất của nhóm 15-18 tuổi), Bộ luật Hình sự năm 2015 (khoảng trống bảo vệ nhóm 16-18 tuổi tại Điều 296), và sự thiếu hụt văn bản hướng dẫn chi tiết danh mục công việc cho trẻ dưới 13 tuổi tại Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH.
- Cung cấp bức tranh thực trạng thi hành pháp luật dựa trên các số liệu thống kê cụ thể: cả nước có khoảng 1,75 triệu trẻ em tham gia lao động, 1 triệu trẻ lao động trái pháp luật, 75% LĐTE có nguy cơ làm công việc bị cấm, 52% lao động trẻ em thôi học, cùng thực trạng lao động sớm tại các làng nghề Hà Nội và gian lận hồ sơ tại Bắc Ninh.
- Đóng góp so với các công trình nghiên cứu trước: Khóa luận cập nhật trực tiếp các điểm mới của Bộ luật Lao động năm 2019, Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH và Nghị định 12/2022/NĐ-CP; tiến hành so sánh đối chiếu đa chiều giữa quy định hiện hành với các quy định cũ (BLLĐ 2012, Thông tư 11/2013, Nghị định 114/2002) và các điều ước quốc tế để đưa ra các kiến nghị lập pháp có căn cứ thực chứng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu của khóa luận chủ yếu tập trung vào các quy định pháp luật lao động thực định và các số liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo của các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan truyền thông; chưa tiến hành các cuộc khảo sát điều tra xã hội học độc lập trên diện rộng đối với người sử dụng lao động và các gia đình có trẻ em tham gia lao động sớm.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế bảo vệ NLĐCTN trong khu vực kinh tế phi chính thức (nơi tập trung phần lớn lao động trẻ em nhưng nằm ngoài sự kiểm soát của hợp đồng lao động); nghiên cứu giải pháp liên thông dữ liệu dân cư quốc gia để ngăn chặn tình trạng gian lận độ tuổi khi tuyển dụng lao động; đánh giá tác động kinh tế - xã hội khi thực hiện các chính sách an sinh hỗ trợ gia đình nghèo nhằm phòng ngừa bỏ học lao động sớm.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo phục vụ các nhóm đối tượng:
- Sinh viên, học viên ngành Luật: Đặc biệt là chuyên ngành Luật Lao động, Luật Quyền con người, có thể tham khảo phương pháp so sánh luật học, cấu trúc phân tích các chế định bảo vệ lao động đặc thù và hệ thống tài liệu trích dẫn quy phạm.
- Cán bộ quản lý nhà nước và thanh tra lao động: Tham khảo các phân tích về khoảng trống pháp luật, chế tài xử phạt hành chính và các khuyến nghị về việc ban hành danh mục công việc bổ sung cho trẻ em dưới 13 tuổi.
- Người sử dụng lao động và các tổ chức xã hội: Nắm bắt chính xác các điều kiện tuyển dụng, danh mục công việc được phép và bị cấm sử dụng NLĐCTN, thời giờ làm việc và quy trình giao kết HĐLĐ đúng quy định pháp luật hiện hành.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận tiếp cận khái niệm "người lao động chưa thành niên" như thế nào?
Tác giả đồng tình với quan điểm học thuật của TS. Nguyễn Hữu Chí và ThS. Trần Thắng Lợi, xác định NLĐCTN là người dưới 18 tuổi có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động. Khái niệm này không chỉ dựa trên độ tuổi mà còn nhấn mạnh điều kiện về năng lực chủ thể và việc xác lập quan hệ lao động hợp pháp.
2. Điểm bất cập của Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH so với Thông tư 11/2013/TT-BLĐTBXH đối với lao động dưới 13 tuổi là gì?
Thông tư 11/2013/TT-BLĐTBXH trước đây ban hành danh mục công việc nhẹ cụ thể cho người dưới 15 tuổi (trong đó có liệt kê rõ các bộ môn nghệ thuật, thể thao cho trẻ dưới 13 tuổi). Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH hiện hành không còn quy định danh mục cụ thể cho người dưới 13 tuổi, gây khó khăn cho cơ quan lao động cấp tỉnh trong việc đánh giá mức độ an toàn của công việc khi xem xét phê duyệt.
3. Vì sao tác giả kiến nghị bắt buộc người đại diện tham gia khi xử lý kỷ luật lao động người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi?
Vì điểm c Khoản 1 Điều 122 BLLĐ năm 2019 chỉ quy định người đại diện tham gia đối với người dưới 15 tuổi. Tuy nhiên, theo Khoản 2 Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015, người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi nếu gây thiệt hại mà tài sản không đủ bồi thường thì cha mẹ phải bồi thường phần còn thiếu. Do đó, cần có sự tham gia của người đại diện khi xử lý kỷ luật để bảo đảm quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ vật chất liên đới.
4. Khoảng trống trong chế tài hình sự đối với hành vi sử dụng lao động chưa thành niên tại Điều 296 BLHS năm 2015 là gì?
Điều 296 BLHS năm 2015 chỉ quy định truy cứu trách nhiệm hình sự đối với NSDLĐ vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi. Trong khi đó, BLLĐ quy định NLĐCTN là người dưới 18 tuổi. Vì vậy, các hành vi vi phạm nghiêm trọng đối với nhóm lao động từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi chưa có chế tài xử lý hình sự tương ứng.
5. Thực trạng lao động trẻ em tại Việt Nam được phản ánh qua các số liệu thống kê trọng yếu nào?
Theo số liệu trong văn bản: Cả nước có khoảng 1,75 triệu trẻ em tham gia lao động; 1 triệu trẻ dưới 17 tuổi lao động trái pháp luật (năm 2023); 67% lao động trong nông nghiệp, 16,6% trong dịch vụ và 15,8% trong công nghiệp/xây dựng; 75% đối mặt nguy cơ làm công việc cấm; 52% đã thôi học; thời gian làm việc bình quân 42 giờ/tuần.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Phương Duyên đã phân tích toàn diện khung pháp lý và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ người lao động chưa thành niên tại Việt Nam. Bằng phương pháp so sánh luật học và phân tích thực tiễn, công trình đã làm rõ những tiến bộ của Bộ luật Lao động năm 2019 cũng như chỉ ra những bất cập, mâu thuẫn giữa luật lao động với luật dân sự, luật hình sự và các tiêu chuẩn quốc tế của ILO. Các đề xuất sửa đổi lập pháp và giải pháp nâng cao năng lực thực thi trong khóa luận có giá trị khoa học và thực tiễn, hướng tới mục tiêu hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm bảo vệ sự phát triển toàn diện của người lao động chưa thành niên.