PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận án Mua bán người, đặc biệt là mua bán phụ nữ và trẻ em là một vấn nạn mang tính toàn cầu và đang có chiều hướng gia tăng đáng lo ngại trên phạm vi toàn thế giới, bất chấp những nỗ lực mà cộng đồng quốc tế quốc tế và các quốc gia đã và đang thực hiện. Do tính chất “xuyên quốc gia” của hoạt động buôn bán người mà việc đấu tranh phòng, chống buôn bán người hiện nay không còn bó hẹp trong phạm vi một quốc gia hay giới hạn ở một khu vực nào mà đang được toàn thế giới tích cực phối hợp thực hiện và cần phải có sự hợp tác song phương và đa phương giữa các cơ quan chức năng của các quốc gia. Suốt nhiều thập kỷ qua, chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực đáng kể nhằm phòng ngừa và ngăn chặn nạn mua bán người.
Trong khuôn khổ quốc gia, điều này thể hiện ở việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới một số đạo luật quan trọng, như Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009), BLHS 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011 và một số văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật phòng, chống mua bán người. Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để tăng cường đấu tranh phòng, chống mua bán người. Bên cạnh đó, nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng đã được ban hành như: Quyết định số 130/2004/QĐ-TTg ngày 14/7/2004 phê duyệt Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em từ năm 2004 đến năm 2010; Quyết định số 1427/QĐ-TTg ngày 18/8/2011 phê duyệt Chương trình hành động phòng, chống tội mua bán người giai đoạn 2011-2015; Quyết định số 2546/QĐ-TTg ngày 31/12/2015 phê duyệt Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2016-2020; Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày 9/02/2021 phê duyệt Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030. Ở phạm vi quốc tế, Việt Nam đã là thành viên của nhiều Công ước quốc tế liên quan đến phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là Nghị định thư (NĐT) không bắt buộc về mua bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em, bổ luan an 2 sung cho Công ước về quyền trẻ em; NĐT về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị, tội buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung cho Công ước của Liên hợp quốc (LHQ) về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia; Công ước ASEAN về phòng, chống mua bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em (ACTIP).
Việt Nam cũng đã ký kết các hiệp định song phương và đa phương với các nước trong khu vực về phòng, chống mua bán người như: Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam và Chính phủ Hoàng gia Vương quốc Căm- Pu-chia về hợp tác song phương nhằm loại trừ nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em và giúp đỡ nạn nhân bị buôn bán năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2012); Biên bản ghi nhớ về hợp tác chống mua bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Hoàng gia Vương quốc Căm-Pu-chia năm 2007; Hiệp định giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái Lan về hợp tác song phương nhằm loại trừ buôn bán người, đặc biệt đối với phụ nữ và trẻ em và giúp đỡ nạn nhân bị buôn bán (năm 2008); Hiệp định giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào về hợp tác phòng, chống buôn bán người và bảo vệ nạn nhân bị buôn bán; Hiệp định giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân (CHND) Trung Hoa về tăng cường hợp tác phòng, chống mua bán người; Biên bản ghi nhớ về Hợp tác đa phương giữa các nước tiểu vùng sông Mekong năm 2005 về chống mua bán người (COMMIT MOU); Tuyên bố ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy quyền của lao động di cư năm 2007. Việt Nam cũng hợp tác với Úc trong dự án phòng chống buôn bán người khu vực Châu Á (ARTIP). Đồng thời, Việt Nam cũng phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan của LHQ (UNICEF, UNODC, IOM, UNIAP, UNIDO…) nhằm triển khai nhiều dự án bao gồm “Dự án đánh giá và đề xuất điều chỉnh chính sách, chiến lược về Phòng, chống lạm dụng trẻ em giai đoạn 2001-2010”; “Dự án Phòng, chống mua bán phụ nữ và trẻ em trong khu vực các quốc gia tiểu vùng sông Mêkong”;… Cùng với sự nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta, công tác phòng, chống mua bán người cũng đã thực sự nhận được sự quan tâm của các cấp, các ngành tại các tỉnh, luan an 3 thành phố trong cả nước. Tuy nhiên, theo Báo cáo của Bộ Công an1 thì trong giai đoạn 2012-2017, cả nước đã phát hiện và khởi tố 1.021 vụ án mua bán người, mua bán trẻ em với 3.090 nạn nhân, liên quan đến 2.035 đối tượng; năm 2018 là 211 vụ án mua bán người, mua bán trẻ em với 386 nạn nhân2 và năm 2019 là 192 vụ án mua bán người, mua bán trẻ em với 309 nạn nhân3.Tình trạng mua bán người, mua bán trẻ em diễn biến rất phức tạp và xảy ra trên phạm vi 63 tỉnh, thành phố.
Nạn nhân gồm cả phụ nữ, trẻ em, nam giới, trẻ sơ sinh với những mục đích khác nhau như bóc lột lao động, lạm dụng tình dục, mua bán nội tạng, đẻ thuê. Trong số các vụ mua bán người đã phát hiện thì có tới gần 85% là mua bán người ra nước ngoài, tập trung chủ yếu qua các tuyến biên giới giữa Việt Nam với Campuchia, Lào và Trung Quốc, trong đó, sang Trung Quốc chiếm 75%, chỉ khoảng 15% là mua bán người trong nước. Như vậy, mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong công tác phòng, chống mua bán người, mua bán trẻ em nhưng tình hình tội mua bán người, tội mua bán trẻ em vẫn diễn ra phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Thực tiễn đấu tranh với loại tội phạm này khi áp dụng quy định của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) để xử lý tội phạm đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc do các quy định của BLHS chưa thực sự rõ ràng, cụ thể dẫn tới có cách hiểu chưa thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật, đặc biệt là vấn đề định tội danh khi phân biệt tội mua bán người, tội mua bán trẻ em với một số tội phạm khác được quy định trong BLHS hoặc với các hành vi vi phạm pháp luật khác có sự tương đồng về hành vi khách quan.
Để khắc phục những hạn chế, bất cập của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), BLHS năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung rất cơ bản và toàn diện đối với 02 tội danh này. Theo đó, quy định về tội mua bán người và tội mua bán người dưới 16 tuổi trong BLHS năm 2015 đã tiệm cận rất gần tới nội dung của NĐT về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ 1 Bộ Công an, (2018), Báo cáo số 358/BC-BCA-C02 về tình hình thực hiện pháp luật về phòng, chống mua bán người từ khi Luật phòng, chống mua bán người năm 2012 có hiệu lực đến hết năm 2017, tr. 2 Ban Chỉ đạo 138/CP, (2019), Báo cáo số 06/BC-BCĐ về tình hình và kết quả thực hiện Chương trình phòng, chống mua bán người năm 2018, tr. 3 Ban Chỉ đạo 138/CP, (2020), Báo cáo số 20/BC-BCĐ về tình hình và kết quả thực hiện Chương trình phòng, chống mua bán người năm 2019, tr.
luan an 4 em, theo đó, hành vi mua bán người phải bao gồm đầy đủ 03 yếu tố cơ bản: thủ đoạn; hành vi và mục đích. Tuy nhiên, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về tội mua bán người và tội mua bán người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 150 và Điều 151 BLHS năm 2015 để phân tích, đánh giá xem những quy định này đã khắc phục được hết những hạn chế, bất cập trong các quy định của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) về tội mua bán người và tội mua bán trẻ em cũng như khắc phục được những khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật hay chưa và quy định tại Điều 150 và Điều 151 BLHS năm 2015 có tồn tại những bất cập, hạn chế nào và các quy định tại hai điều luật này có phát huy hiệu quả trong đấu tranh với tội mua bán người, tội mua bán người dưới 16 tuổi hay không. Do vậy, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài "tội mua bán người và tội mua bán trẻ em theo pháp luật hình sự Việt Nam" làm đề tài luận án tiến sĩ với mục đích nghiên cứu, đánh giá những ưu điểm cũng như những hạn chế, bất cập của BLHS năm 2015 về tội mua bán người và tội mua bán người dưới 16 tuổi dưới góc độ lý luận và thực tiễn, từ đó đề xuất một số giải pháp về hoàn thiện pháp luật hình sự, góp phần có hiệu quả vào công tác đấu tranh phòng, chống tội mua bán người, tội mua bán trẻ em. Kết quả nghiên cứu của luận án này sẽ góp phần tích cực vào quá trình hoàn thiện pháp luật hình sự nói riêng cũng như vào công cuộc đấu tranh chống tội mua bán người, tội mua bán trẻ em nói chung một cách thiết thực và hiệu quả hơn.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án Mục đích nghiên cứu của Luận án là đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của BLHS, góp phần có hiệu quả vào công tác đấu tranh phòng, chống tội mua bán người và tội mua bán trẻ em. Với mục đích nên trên, luận án có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề sau: Một là, nghiên cứu những vấn đề về lý luận chung nhằm xây dựng định nghĩa về tội mua bán người. Đồng thời, phân tích pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia, vùng lãnh thổ và pháp luật Việt Nam nhằm làm sáng tỏ về mặt lý luận tội mua bán người, tội mua bán trẻ em. Hai là, đánh giá quy định về tội mua bán người, tội mua bán trẻ em trong BLHS luan an 5 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và BLHS năm 2015, đồng thời, phân tích, làm rõ thực tiễn xét xử các tội phạm này thông qua hoạt động định tội danh, quyết định hình phạt với những số liệu cụ thể.