Chương 1: Cơ sở lý luận, pháp lý về bảo đảm quyền trẻ em trong các vụ án xâm hại tình dục tại Viện kiểm sát nhân cấp tỉnh. Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền trẻ em trong các vụ án xâm hại tình dục tại Viện kiểm sát nhân thành phố Hà Nội. Chương 3: Giải pháp nâng cao công tác bảo đảm quyền trẻ em trong các vụ án xâm hại tình dục tại Viện kiểm sát nhân thành phố Hà Nội. 8 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TRẺ EM TRONG CÁC VỤ ÁN XÂM HẠI TÌNH DỤC TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP TỈNH 1.
Khái niệm bảo đảm quyền trẻ em trong các vụ án xâm hại tình dục 1. Khái niệm trẻ em Trước khi nghiên cứu về quyền trẻ em ta cần làm rõ khái niệm trẻ em. Khái niệm trẻ em được tiếp cận từ các ngành khoa học khác nhau như triết học, xã hội học, tâm lý học, sinh học…Trong thực tế, khái niệm “trẻ em” thường được dùng để phân biệt với người lớn dựa trên mức độ trưởng thành của con người. Dưới góc độ pháp lý, trẻ em được xác định theo độ tuổi.
Điều này có nghĩa là một cá nhân được xem là người lớn hay trẻ em phụ thuộc vào năm sinh của người đó và tại thời điểm xác định. Theo Điều 1 của Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em (CRC), thì trẻ em được định nghĩa là “người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật của quốc gia thành viên áp dụng với trẻ em có quy định độ tuổi trưởng thành sớm hơn”. Tài liệu hướng dẫn thực hiện CRC của UNICEF chỉ ra rằng định nghĩa trẻ em trong CRC nhằm mục đích xác định mốc tuổi từ 18 tuổi đánh dấu sự kết thúc của tuổi thơ để trở thành người đã thành niên. Ta có thể hiểu là các cá nhân ở bất kỳ độ tuổi nào dưới 18 đều được xem là trẻ em.Đoạn cuối của Điều 1“.trừ trường hợp pháp luật quốc gia thành viên áp dụng với trẻ em có quy định độ tuổi trưởng thành sớm hơn”.
Quy định này có nghĩa là các quốc gia thành viên có thể xác định độ tuổi trưởng thành sớm hơn những vẫn phải tuân thủ các quy định của Công ước CRC đối với người dưới 18 tuổi. Các quốc gia chỉ có thể quy định mốc tuổi thấp hơn 18 tuổi trong một số lĩnh vực và cho một số mục đích cụ thể nhưng phải đảm bảo các nguyên tắc chung của Công ước, gồm nguyên tắc lợi ích tốt nhất cho trẻ em, nguyên tắc đảm bảo tối 9 đa sự tồn tại, phát triển của trẻ em và nguyên tắc không phân biệt đối xử trong đảm bảo quyền trẻ em. Trong tài liệu Bình luận chung số 4 do Uỷ ban về Quyền trẻ em ban hành năm 2003 có nêu :“Những người đến 18 tuổi là chủ thể của tất cả các quyền nêu trong CRC; các em được hưởng các biện pháp bảo vệ đặc biệt và có thể từng bước thực hiện các quyền phù hợp với năng lực đang phát triển của mình” [45]. Ta cần phải hiểu nguyên tắc này như sau: Thứ nhất, tất cả những người dưới 18 tuổi phải được xem là trẻ em.
Thứ hai, trong một số trường hợp, tùy thuộc vào mức độ trưởng thành, trẻ em có thể được hưởng những quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ của người đã thành niên chẳng hạn như những vấn đề mà việc bảo vệ trẻ em là đặc biệt có ý nghĩa như: độ tuổi lao động tối thiểu, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự,. các quốc gia cần quy định độ tuổi tối thiểu ở mức độ càng cao càng tốt. Còn trong những vấn đề mà có thể thúc đẩy sự tự chủ và việc thụ hưởng các quyền dân sự của trẻ em thì có thể xác định độ tuổi tối thiểu mềm dẻo hơn, dựa trên năng lực và nhu cầu của trẻ. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tại Điều 1 Luật Trẻ em (2016) có quy định : “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” [25].
vậy là có độ chênh 2 tuổi so với Công ước Quốc tế về quyền trẻ em. Bên cạnh văn bản luật chuyên ngành, trong hệ thống pháp luật Việt Nam còn có nhiều ngành luật khác cũng đề cập tới vấn đề trẻ em như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Thanh niên, Luật Quốc tịch, Luật Giáo dục…. Ở mỗi một lĩnh vực điều chỉnh cụ thể đều tiếp cận khái niệm trẻ em ở khía cạnh khác nhau. Ví dụ: như Điều 21 Bộ luật dân sự (2015) quy định : “Người chưa thành niên là người là người chưa đủ mười tám tuổi” [26].
Bộ luật Hình sự sửa đổi 2017 quy định người từ đủ 14 tuổi đã phải chịu trách nhiệm hình sự. Điều 161 Bộ Luật Lao Động (2012) quy định : “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” [28]. Điều 5 Luật Xử 10 lý vi phạm hành chính (2012) quy định người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi. Điều 76 Luật hôn nhân và gia đình (2014) quy định : “Con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý” [27]…Từ những quy định này cho thấy, độ tuổi của người chưa thành niên trong pháp luật Việt Nam trùng với quy định về độ tuổi trẻ em theo CRC.
Trẻ em theo CRC và người chưa thành niên trong pháp luật Việt Nam đều là những người chưa trưởng thành và còn non nớt về thể chất và tinh thần và cần được bảo vệ đặc biệt. Như vậy trong một chừng mực nhất định, thuật ngữ “người chưa thành niên” và thuật ngữ “trẻ em” có cùng một ý nghĩa dùng để chỉ những người chưa thành niên. Tuy nhiên, xét dưới góc độ tuổi thì khái niệm người chưa thành niên rộng hơn khái niệm trẻ em, nghĩa là người chưa thành niên bao gồm cả trẻ em và những người từ mười sáu tuổi đến dưới mười tám tuổi. Để đáp ứng được những yêu cầu đặt ra trong vấn đề bảo đảm quyền trẻ em, khắc phục những khoảng trống trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật sao cho phù hợp với pháp luật quốc tế, Quốc hội đã thông qua Luật Thanh niên năm 2005, trong đó quy định nhà nước thực hiện CRC đối với thanh niên từ đủ mười sáu tuổi đến dưới 18 tuổi phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
Dù quy định như vậy nhưng chúng ta thấy rằng, ở lứa tuổi này tâm lý vẫn đang trong thời kỳ phát triển và chưa ổn định, dễ bị tổn thương, do đó các em vẫn cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt để định hướng các em được phát triển bình thường và tránh được các nguy cơ xâm hại [32]. Vì vậy trong Luận văn này, tác giả xin được áp dụng thuật ngữ “trẻ em” cho tất cả những người dưới 18 tuổi. Khái niệm xâm hại tình dục trẻ em Từ lâu, trẻ em đã được coi là một trong các nhóm xã hội dễ bị tổn thương nhất và được các nhà nước, các cộng đồng quan tâm bảo vệ do đặc trưng của trẻ em là con non nớt cả về thể chất lẫn tinh thần. Bởi vậy đây là 11 nhóm đối tượng dễ bị xâm hại bởi các loại tội phạm khác nhau, trong đó có xâm hại tình dục.
Người bị hại là trẻ em mang mang đầy đủ mang đầy đủ đặc điểm của người bị hại nhưng gắn liền với trẻ em. Khoản 1 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định: “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản. Như vậy, người bị hại phải là một con người cụ thể bị tội phạm gây nên những thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản. Khái niệm “người bị hại là trẻ em” trong khoa học tư pháp hình sự, một mặt dựa trên khái niệm về trẻ em trong khoa học pháp lý mặt khác bao gồm tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các em khi tham gia vào quan hệ pháp luật hình sự.
Khái niệm xâm phạm tình dục trẻ em đã được đề cập nhiều trong các văn kiện quốc tế hay pháp luật trong nước: Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) định nghĩa xâm hại tình dục trẻ em như sau:“Xâm hại tình dục trẻ em là sự tham gia của một đứa trẻ vào hoạt động tình dục mà đứa trẻ đó không có ý thức đầy đủ, không có khả năng đó ra sự chấp thuận tham gia, hoặc hoạt động tình dục mà đứa trẻ đó chưa đủ phát triển cả về mặt tâm sinh lý để tham gia và không thể chấp thuận tham gia, hoặc hoạt động tình dục trái với các quy định của pháp luật hoặc các thuần phong mĩ tục của xã hội” [44]. Theo Từ điển Tiếng Việt, xâm hại là “xâm phạm đến khiến cho bị tổn thương” còn tình dục là “nhu cầu tự nhiên của con người về quan hệ tính giao” [37]. Vậy xâm hại tình dục trẻ em là xâm phạm đến quyền tự do thân thể, nhu cầu phát triển tự nhiên của trẻ em về quan hệ tính giao, xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. Trước tình hình gia tăng về số lượng về loại tội phạm này, pháp luật Việt Nam đã quy định cụ thể về hành vi xâm hại tình dục trẻ em, theo Khoản 8 Điều 4 Luật trẻ em 2016, xâm hại tình dục trẻ em là “ việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi 12 liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức”.
[25] Trong nghiên cứu đề tài, Luận văn sử dụng khái niệm xâm phạm tình dục trẻ em theo quy định tại Khoản 8 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016 đã nêu ở trên. Các tội xâm hại tình dục trẻ em được quy định tại Chương XIV (Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người) trong Bộ luật Hình sự năm 2015 gồm 5 Điều (Điều 142, 144, 145, 146, 147). Điều 142 Hiếp dâm người dưới 16 tuổi là người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của họ.