Tổng quan nghiên cứu

Huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh là địa bàn miền núi có hơn 80% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số và địa hình dốc chiếm ưu thế từ 20 đến 25 độ. Trong giai đoạn 2015 - 2020, địa phương đã đạt bước tiến lớn khi tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 34,69% xuống còn dưới 1%. Để duy trì kết quả giảm nghèo bền vững và phát huy hiệu quả quỹ đất lâm nghiệp có tỷ lệ che phủ rừng đạt 72%, ngành chăn nuôi đại gia súc, đặc biệt là bò thịt, được xác định là hướng đi kinh tế trọng điểm. Tốc độ tăng đàn bò của huyện duy trì mức bình quân 2,3%/năm trong giai đoạn 2016 - 2020, quy mô đàn tăng thêm 911 con tính đến tháng 9/2020.

Tuy nhiên, thực trạng sản xuất bò thịt tại Ba Chẽ vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Hoạt động chăn nuôi chủ yếu phân tán theo quy mô nông hộ nhỏ lẻ, áp dụng phương thức chăn thả truyền thống và chưa thiết lập được chuỗi liên kết giá trị hoàn chỉnh. Toàn huyện chỉ có 3 lò giết mổ tập trung đang hoạt động với công suất khiêm tốn từ 5 đến 10 con/ngày, trong khi mối liên kết thương mại giữa các chủ thể hoàn toàn thiếu vắng hợp đồng văn bản có giá trị pháp lý.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích toàn diện chuỗi giá trị bò thịt tại huyện Ba Chẽ, làm rõ vai trò, chi phí, doanh thu và mức độ phân bổ lợi nhuận giữa các tác nhân tham gia. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào chu kỳ sản xuất và tiêu thụ trong giai đoạn 2015 - 2020, thu thập dữ liệu chuyên sâu trong năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu để hiện thực hóa Quyết định số 3443/QĐ-UBND của UBND tỉnh Quảng Ninh về quy hoạch vùng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi đến năm 2030, hỗ trợ nâng cao thu nhập cho nông hộ miền núi và tối ưu hóa năng lực cạnh tranh ngành nông nghiệp địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp đồng bộ giữa các nền tảng lý luận kinh tế học hiện đại:

Mô hình chuỗi giá trị của Michael Porter (1985): Tiếp cận hệ thống các hoạt động chính bao gồm hậu cần đầu vào, sản xuất, hậu cần đầu ra, marketing bán hàng và dịch vụ, cùng hệ thống hoạt động hỗ trợ nhằm xác định nguồn gốc tạo ra lợi thế cạnh tranh của sản phẩm.

Khung phân tích chuỗi giá trị toàn cầu của Raphael Kaplinsky và Mike Morris (2001) cùng hoàn thiện của Gary Gereffi (2005): Tập trung vào sự phân bổ giá trị thặng dư, cơ chế quản trị chuỗi và mối liên kết quyền lực giữa các mắt xích kinh tế từ khâu sản xuất nguyên liệu thô đến tay người tiêu dùng cuối cùng.

Phương pháp luận liên kết chuỗi giá trị ValueLinks do Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GTZ Eschborn, 2007) ban hành và mô hình chuỗi nông nghiệp của Shyamal (2005): Cung cấp bộ công cụ nhận diện dòng sản phẩm, dòng thông tin và dòng tài chính trong nông nghiệp nông thôn.

Các khái niệm kinh tế cốt lõi được định lượng hóa trong mô hình bao gồm: Giá trị sản xuất (GO - Gross Output) phản ánh tổng doanh thu đầu ra; Chi phí trung gian (IC - Intermediate Cost) đại diện cho các chi phí vật chất và dịch vụ mua ngoài; Giá trị gia tăng (VA - Value Added = GO - IC); Giá trị gia tăng thuần (NVA - Net Value Added = VA trừ đi chi phí tiền công, thuế và chi phí tài chính); cùng các chỉ số hiệu quả kinh tế như tỷ suất lợi nhuận trên chi phí (LN/CP) và tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (LN/DT).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ niên giám thống kê, báo cáo của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Ba Chẽ giai đoạn 2015 - 2020 với nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập thực địa từ tháng 1/2020 đến tháng 11/2020.

Cỡ mẫu khảo sát chính thức gồm 35 tác nhân, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích (purposive stratified sampling). Cấu trúc mẫu khảo sát bao gồm: 20 hộ và trang trại chăn nuôi bò thịt trực tiếp, 5 thương lái thu gom, 5 đại lý thu mua trung gian và 5 cơ sở lò giết mổ chế biến. Bên cạnh đó, nghiên cứu tiến hành 15 cuộc phỏng vấn sâu với đại diện cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương và chuyên gia khuyến nông.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này là nhằm phản ánh chính xác cấu trúc ngành hàng bò thịt tại địa bàn miền núi, nơi có số lượng cơ sở giết mổ và thương lái tập trung giới hạn. Dữ liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích chi phí - lợi nhuận (CBA) để bóc tách giá trị gia tăng qua từng công đoạn, kết hợp ma trận SWOT nhằm đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của toàn chuỗi ngành hàng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ phát triển tổng đàn và năng suất chăn nuôi có sự cải thiện rõ rệt nhưng chưa đồng đều. Giai đoạn 2016 - 2020, tốc độ tăng đàn đạt 2,3%/năm. Mô hình vỗ béo thâm canh từ 80 đến 90 ngày trước khi xuất chuồng kết hợp khẩu phần thức ăn tinh 1 kg/con/ngày giúp trọng lượng bò thương phẩm đạt bình quân từ 250 đến 300 kg/con ở thời điểm 24 tháng tuổi, tạo ra sản lượng thịt xẻ chất lượng cao.

Thứ hai, chuỗi giá trị bò thịt tại Ba Chẽ vận hành chủ yếu qua 4 kênh phân phối nội địa:

  • Kênh 1: Người nuôi bò -> Thương lái thu gom -> Lò mổ -> Người bán sỉ -> Người bán lẻ -> Người tiêu dùng.
  • Kênh 2: Người nuôi bò -> Lò mổ -> Người bán sỉ -> Người bán lẻ -> Người tiêu dùng.
  • Kênh 3: Người nuôi bò -> Thương lái thu gom -> Người bán lẻ -> Người tiêu dùng.
  • Kênh 4: Người nuôi bò -> Lò mổ -> Người bán lẻ -> Người tiêu dùng.

Thứ ba, sự phân bổ giá trị gia tăng và lợi nhuận giữa các tác nhân có sự bất cân xứng nghiêm trọng. Hộ chăn nuôi gánh chịu hơn 70% tổng chi phí sản xuất toàn chuỗi (bao gồm con giống, thức ăn, chuồng trại và rủi ro dịch bệnh), nhưng tỷ suất lợi nhuận trên chi phí lại thấp nhất. Ngược lại, khâu giết mổ và bán buôn, bán lẻ chỉ chiếm khoảng 10% đến 15% tổng chi phí nhưng thu về tỷ suất sinh lời trên vốn lưu động cao nhất nhờ thời gian quay vòng vốn ngắn chỉ từ 1 đến 2 ngày.

Thứ tư, mối liên kết thương mại trong chuỗi vô cùng lỏng lẻo. Toàn bộ 100% các giao dịch mua bán giữa người chăn nuôi và thương lái hoặc lò mổ đều thực hiện qua thỏa thuận miệng, không có hợp đồng bao tiêu bằng văn bản. Công suất giết mổ tập trung toàn huyện chỉ đạt từ 5 đến 10 con/ngày tại 3 cơ sở, phần lớn các điểm mổ nhỏ lẻ còn lại chỉ đạt 1 đến 2 con/ngày với điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được kiểm soát chặt chẽ.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân bổ lợi nhuận bất hợp lý và tính liên kết yếu trong chuỗi giá trị bò thịt tại Ba Chẽ bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân nội tại. Địa hình bị chia cắt mạnh với độ dốc cao từ 20 đến 25 độ làm tăng chi phí vận chuyển và thu gom. Tỷ lệ 80% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số với tập quán chăn nuôi chăn thả tự do, quy mô nhỏ dưới 5 con/hộ khiến việc kiểm soát dịch bệnh và áp dụng quy trình kỹ thuật mới gặp nhiều rào cản.

Khi so sánh với các nghiên cứu học thuật tương đồng, kết quả này hoàn toàn thống nhất với công trình của Nguyễn Thanh Bình (2018) tại tỉnh Sóc Trăng, nơi cơ sở giết mổ chiếm tỷ lệ lợi nhuận áp đảo lên đến 80% trong tương quan so sánh với hộ nuôi. Kết quả cũng khẳng định khuyến nghị từ dự án nghiên cứu của tổ chức ACIAR tại miền Trung, đó là việc nâng cấp cơ sở hạ tầng vùng nuôi và chuẩn hóa chuỗi cung ứng là điều kiện bắt buộc để bảo vệ sinh kế cho người sản xuất trực tiếp.

Về mặt biểu diễn dữ liệu thực nghiệm, các luồng giá trị này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua sơ đồ dòng giá trị kết hợp biểu đồ cột chồng (Stacked Bar Chart). Biểu đồ này sẽ thể hiện rõ nét tỷ lệ cơ cấu giữa chi phí trung gian (IC) và giá trị gia tăng thuần (NVA) tính trên mỗi đơn vị 1 kg thịt bò hơi xuất chuồng, làm nổi bật khoảng cách chênh lệch lợi ích giữa khâu chăn nuôi ban đầu và các khâu thương mại trung gian.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và các nút thắt trong chuỗi ngành hàng, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cấp chuỗi giá trị bò thịt huyện Ba Chẽ theo hướng bền vững:

Một là, quy hoạch và phát triển vùng nguyên liệu thức ăn thô xanh tập trung. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Ba Chẽ cần chủ trì phối hợp với UBND các xã hướng dẫn các hộ chăn nuôi chuyển đổi diện tích đất kém hiệu quả sang trồng cỏ thâm canh (cỏ voi, cỏ sả) với định mức từ 500 đến 1.000 m2 đất cho mỗi quy mô đàn từ 5 đến 10 con bò. Mục tiêu đến năm 2025, địa phương tự chủ 100% nguồn thức ăn thô xanh tại chỗ, giảm thiểu chi phí biến đổi cho nông hộ.

Hai là, tổ chức lại sản xuất thông qua mô hình Hợp tác xã kiểu mới. Hội Nông dân và Phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện cần vận động thành lập các Hợp tác xã chăn nuôi bò thịt tại các xã trọng điểm, phấn đấu thu hút từ 40% đến 50% số hộ chăn nuôi tham gia vào giai đoạn 2021 - 2024. Hợp tác xã đóng vai trò đại diện pháp lý để ký kết hợp đồng cung cấp vật tư đầu vào giá gốc và hợp đồng bao tiêu đầu ra bằng văn bản với các doanh nghiệp phân phối lớn, chấm dứt tình trạng mua bán tự phát qua thương lái.

Ba là, nâng cấp hiện đại hóa hệ thống lò giết mổ tập trung và kho bảo quản. UBND huyện Ba Chẽ cần bố trí ngân sách kết hợp kêu gọi vốn xã hội hóa để nâng cấp 3 lò giết mổ hiện có đạt chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng công suất chế biến lên 15 đến 20 con/ngày trong giai đoạn 2022 - 2025. Đồng thời, hỗ trợ đầu tư hệ thống dây chuyền treo bán tự động và kho lạnh bảo quản tại thị trấn Ba Chẽ để duy trì chất lượng thịt xẻ cung ứng cho thị trường các thành phố lân cận như Cẩm Phả, Hạ Long.

Bốn là, đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật và thực thi chính sách hỗ trợ tín dụng. Trung tâm Dịch vụ Kỹ thuật Nông nghiệp huyện phối hợp cùng Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Quảng Ninh triển khai tối thiểu 12 lớp tập huấn chuyên sâu mỗi năm cho khoảng 300 lượt hộ nông dân về kỹ thuật ủ chua thức ăn, kỹ thuật vỗ béo bò 80 - 90 ngày trước xuất bán và phòng chống rét đậm, rét hại. Song song đó, Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện cần đẩy mạnh giải ngân các gói vay ưu đãi hỗ trợ 100% lãi suất và hỗ trợ đến 70% giá con giống cao sản chuyên thịt theo các nghị quyết chuyên đề của HĐND tỉnh Quảng Ninh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Nhóm 1 - Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách nông nghiệp: Cán bộ thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh, Phòng Kinh tế hạ tầng và Phòng Nông nghiệp huyện Ba Chẽ có thể sử dụng các số liệu thực chứng của đề tài để rà soát quy hoạch vùng chăn nuôi đại gia súc, hoàn thiện cơ chế hỗ trợ liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị và cụ thể hóa các mục tiêu xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nhóm 2 - Ban quản trị Hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến, phân phối nông sản: Các nhà đầu tư và người đứng đầu hợp tác xã có thể áp dụng mô hình 4 kênh phân phối cùng các tiêu chí kiểm soát chi phí trung gian để thiết lập chuỗi liên kết khép kín, tối ưu hóa chi phí thu mua và xây dựng thương hiệu thịt bò sạch đạt chuẩn an toàn thực phẩm tại vùng Đông Bắc.

Nhóm 3 - Nông hộ và chủ trang trại chăn nuôi bò thịt: Nông dân trực tiếp chăn nuôi có thể tham khảo quy trình kỹ thuật nuôi vỗ béo thâm canh từ 80 đến 90 ngày, định mức diện tích trồng cỏ từ 500 đến 1.000 m2/hộ và phương thức liên kết nhóm hộ nhằm nâng cao vị thế đàm phán giá bán, gia tăng tỷ suất sinh lời trên mỗi đầu con bò thương phẩm.

Nhóm 4 - Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu kinh tế nông nghiệp: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị về phương pháp ứng dụng khung lý thuyết ValueLinks của GTZ, mô hình chuỗi giá trị của Michael Porter và bộ công cụ định lượng kinh tế chuỗi ngành hàng chăn nuôi tại các địa bàn miền núi có điều kiện đặc thù.

Câu hỏi thường gặp

Chuỗi giá trị bò thịt tại huyện Ba Chẽ hiện gồm những tác nhân chính nào? Chuỗi bao gồm 5 nhóm tác nhân chính: người chăn nuôi bò (khảo sát tại 20 hộ và trang trại), thương lái thu gom (5 đối tượng), đại lý thu mua trung gian (5 cơ sở), lò giết mổ chế biến (3 cơ sở tập trung) và mạng lưới người bán buôn, bán lẻ trực tiếp cung ứng sản phẩm thịt xẻ cho người tiêu dùng cuối cùng.

Đâu là rào cản lớn nhất làm giảm khả năng gia tăng giá trị của ngành hàng bò thịt địa phương? Rào cản lớn nhất là phương thức liên kết giữa các tác nhân hoàn toàn mang tính tự phát dựa trên quan hệ cộng đồng quen biết, tỷ lệ ký kết hợp đồng kinh tế bằng văn bản đạt 0%. Điều này khiến người chăn nuôi luôn chịu thế yếu, bị ép giá khi xuất bán và chuỗi cung ứng dễ bị đứt gãy trước biến động thị trường.

Làm thế nào để nông hộ tối ưu hóa năng suất và trọng lượng bò trước khi xuất chuồng? Nông hộ cần áp dụng nghiêm ngặt quy trình nuôi vỗ béo thâm canh trong khoảng thời gian từ 80 đến 90 ngày trước khi bán, bổ sung khẩu phần thức ăn tinh 1 kg/con/ngày kết hợp nguồn thức ăn thô xanh được trồng trên diện tích 500 - 1.000 m2, giúp trọng lượng bò đạt 250 - 300 kg ở thời điểm 24 tháng tuổi.

Luận văn đã áp dụng những khung lý thuyết nền tảng nào để phân tích chuỗi? Đề tài kết hợp lý thuyết chuỗi giá trị của Michael Porter (1985), lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu của Kaplinsky và Morris (2001) cùng phương pháp luận liên kết chuỗi ValueLinks của GTZ Eschborn (2007) để phân tích toàn diện các chỉ tiêu giá trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị gia tăng và giá trị gia tăng thuần.

Chính sách nào của địa phương đang đóng vai trò đòn bẩy thúc đẩy ngành chăn nuôi bò thịt? Tỉnh Quảng Ninh và huyện Ba Chẽ đang triển khai Quyết định số 3443/QĐ-UBND về quy hoạch vùng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi đến năm 2030, kết hợp các nghị quyết hỗ trợ đến 70% giá mua con giống chất lượng cao và hỗ trợ 100% lãi suất ngân hàng cho các dự án phát triển chăn nuôi bò hàng hóa tập trung.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận, phương pháp luận phân tích chuỗi giá trị ngành hàng bò thịt ứng dụng khung phân tích ValueLinks của GTZ và mô hình chuỗi giá trị Michael Porter trên địa bàn miền núi.
  • Phân tích thực trạng kinh tế - xã hội huyện Ba Chẽ giai đoạn 2015 - 2020, làm nổi bật tốc độ tăng trưởng tổng đàn bò đạt 2,3%/năm và thành quả giảm nghèo bền vững đưa tỷ lệ hộ nghèo từ 34,69% xuống dưới 1% năm 2020.
  • Bóc tách cấu trúc 4 kênh phân phối chính, chỉ rõ nghịch lý trong phân bổ lợi nhuận khi hộ chăn nuôi gánh chịu trên 70% chi phí nhưng hưởng biên lợi nhuận thấp nhất, trong khi 100% giao dịch chuỗi vẫn phụ thuộc vào thỏa thuận miệng thiếu tính pháp lý.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ giai đoạn 2021 - 2025 về quy hoạch vùng trồng cỏ 500 - 1.000 m2/hộ, phát triển Hợp tác xã chăn nuôi kiểu mới, nâng cấp 3 lò giết mổ tập trung đạt 15 - 20 con/ngày và tăng cường hỗ trợ vốn giống ưu đãi.
  • Các cấp chính quyền địa phương, doanh nghiệp và nông hộ cần nhanh chóng chuyển dịch tư duy từ chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ sang mô hình liên kết chuỗi giá trị khép kín, có hợp đồng cam kết chặt chẽ để đảm bảo phát triển bền vững ngành chăn nuôi bò thịt tại Quảng Ninh.