mở đầu quá trình biến Trung Quốc từ một nước phong kiến độc lập trở thành một nước thuộc địa nữa phong kiến. Tình trạng này cho thấy sự tồi tệ, suy tàn đến đỉnh điểm của chính phủ nhà Thanh, là nguyên nhân khiến cho nhiều cuộc khởi nghĩa chống triều đình nổ ra như Khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc, phong trào Duy Tân, phong trào Nghĩa Hoà Đoàn. Tới đầu thế kỷ 20, hàng loạt các vụ náo động dân sự xảy ra và ngày càng phát triển. Từ Hi và Hoàng đế Quang Tự cùng mất năm 1908, để lại một khoảng trống quyền lực và một chính quyền trung ương bất ổn.
Phổ Nghi, con trai lớn nhất của Thuần Thân Vương, được chỉ định làm người kế vị khi mới hai tuổi, và Thân Vương trở thành người nhiếp chính. 17 Mâu thuẫn của nhân dân Trung Quốc với đế quốc phong kiến ngày càng mạnh mẽ, đỉnh điểm là việc hính quyền nhà Thanh trao quyền kiểm soát đường sắt cho Đế Quốc, bán rẻ quyền lợi dân tộc, nhân cơ hội đó Đồng Minh Hội phát động đấu tranh vào ngày 29-12-1911. Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc chính thức thành lập năm 1912 tại Nam Kinh, với Tôn Trung Sơn là Đại tổng thống lâm thời Trung Hoa Dân Quốc theo Hiến pháp lâm thời. Cùng thời đó, cùng trên lãnh thổ Trung Quốc, có một loạt các chính phủ độc lập khác được hình thành ở các địa phương, ly khai với chính quyền Bắc Dương, đôi khi chống đối lẫn nhau.
Trong số đó, trội lên chính phủ ly khai do Trung Quốc Quốc dân Đảng lãnh đạo, ban đầu được thành lập như một chính phủ quân sự đối thủ dưới sự bảo trợ của Tôn Trung Sơn tại Quảng Châu vào năm 1917. Sau khi Tôn Trung Sơn qua đời năm 1925, Tưởng Giới Thạch lãnh đạo Bắc phạt (1926-1928) để thống nhất đất nước và thành lập thủ đô ở Nam Kinh. Chính phủ của Tưởng tuyên bố dựa trên nền tảng Tam dân chủ nghĩa và kế thừa chính phủ Bắc Dương, mở rộng dân chủ, kết hợp tham chính của nhiều đảng phái chính trị hơn, bao gồm cả Đảng Cộng sản Trung Quốc, lập Hiến pháp năm 1931. Trên thực tế, chính phủ của Tưởng tuy có được sự công nhận ngoại giao nhưng không kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc.
Bên cạnh những chính phủ địa phương của các quân phiệt cát cứ, chính phủ Tưởng còn bị các đảng phái đối lập công kích là chính quyền độc tài độc đảng. Nổi lên có chính quyền Xô viết ly khai do đảng Cộng sản thành lập. Trong thời kỳ Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai (1937-1945), một loạt chính phủ bù nhìn do người Nhật lập nên cũng mang danh nghĩa Chính phủ Trung Hoa Dân quốc. Để phân biệt, đương thời chính quyền của Tưởng được gọi là Chính phủ Quốc dân.
Trong giai đoạn Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản thuộc phe Trục còn Trung Hoa Dân Quốc thì luôn nhận mình là đồng minh quan trọng của 18 Hoa Kỳ tại khu vực Đông Á. Mặc dù khác nhau về chiến tuyến nhưng cả hai nước này đều nhắm đến Việt Nam trong các kế hoạch cả trong và sau cuộc chiến của quốc gia mình. Xét trong trường hợp của Chính phủ Nhật Bản, trước khi sự quan tâm của Nhật Bản đối với Đông Dương gia tăng vì vai trò là cơ sở cung ứng cho Chính phủ Tưởng Giới Thạch, quan hệ giữa Nhật Bản với khu vực này hầu như chỉ tồn tại trên lĩnh vực kinh tế từ những chuyến thương thuyền của thương nhân Nhật Bản đến Đàng Trong Việt Nam. Khi Nhật Bản bắt đầu tấn công Trung Quốc, Chính phủ Nhật Bản bắt đầu đặt Đông Dương vào tầm ngắm.
Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu, Nhật Bản đã xác định rõ hai mục tiêu quan trọng đối với Đông Dương trong đó có Việt Nam đó là: Thứ nhất, ngăn chặn sự tiếp viện từ bên ngoài đến Trung Hoa (cụ thể là Hoa Kỳ) bằng tuyến đường sắt Hải Phòng - Côn Minh, tiến đến dùng chính tuyến xe lửa này để thâm nhập vào Nam Trung Hoa. Thứ hai, là mục tiêu dài hạn mà Chính phủ Nhật hướng đến, loại bỏ sự ảnh hưởng của các nước tư bản phương Tây ra khỏi các thuộc địa tại Đông Nam Á nhằm thực hiện chính sách “Đại Đông Á” và thiết lập khu vực Thịnh vượng chung của Nhật Bản. Trong chính sách dài hạn của Chính phủ Nhật Bản, nắm giữ Việt Nam là bước khởi đầu để Nhật Bản xây dựng căn cứ quân sự nhằm dễ dàng đàn áp các phong trào kháng Nhật đang diễn ra âm ỉ tại Trung Hoa. Bên cạnh đó, nhờ vào vị trí địa lý thuận lợi của Việt Nam, Nhật Bản có thể tiến quân cướp lấy các thuộc địa của Anh, Mỹ và hạn chế quyền lực của các nước này tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Cùng với việc thành lập Mãn Châu Quốc, Chính sách Đại Đông Á của Nhật Bản sẽ biến Nhật Bản trở thành nước nắm quyền làm chủ tại khu vực Châu Á, loại bỏ sức ảnh hưởng của các nước tư bản phương Tây. 19 Các chính sách này của Nhật Bản đã được triển khai bằng các hành động cụ thể. Lợi dụng sự thất bại của nước Pháp tại chiến trường Châu Âu, Nhật Bản bắt đầu “gõ cửa Đông Dương”. Yêu sách đầu tiên của Nhật Bản là yêu cầu Pháp đình chỉ việc vận chuyển phương tiện chiến tranh của Hoa Kỳ từ cảng Hải Phòng lên vùng Hoa Nam cho quân đội Trung Hoa Dân Quốc 2 và phải đóng cửa biên giới Việt - Trung 3, Toàn quyền Pháp lúc đó, Tướng Catroux, dù không muốn, buộc phải đáp ứng, bởi lẽ, ông ta không thể trông chờ gì từ sự trợ giúp từ chính quốc xa xôi lúc này đang đối mặt với sức mạnh của Phát xít Đức.
Từ giữa tháng 6/1940, sự thỏa hiệp dần dần của Toàn quyền Đông Dương với những yêu sách của Phát xít Nhật khiến Đông Dương ngày càng trở thành chiếc cầu nối quan trọng của Quân đội Nhật trên đường tiến quân xuống phía Nam. Hiệp ước Pháp - Nhật được ký ngày 29/7/1940 nhằm mở đường cho quân đội Nhật tiến vào Đông Dương đã thành công biến Đông Dương trở thành một trong những căn cứ chiến lược quan trọng của Chính phủ Nhật chuẩn bị cho sự phát động cuộc chiến tranh Thái Bình Dương (7/12/1941) đồng thời, miền Nam Việt Nam sẽ trở thành nguồn cung cấp nguyên vật liệu cho nền công nghiệp quân sự của Nhật Bản. Mặc dù trên thực tế, trong những năm 1942 - 1943, Nhật Bản mới là người làm chủ Việt Nam, tuy nhiên, Chính phủ Nhật nhận thấy rằng tình hình ở đây đang ổn định và không cần thiết phải có sự thay thế chính quyền từ tay Pháp sang Nhật, điều này sẽ khiến Nhật rãnh tay tập trung giao chiến ở các chiến trường khác. Người Nhật tin rằng đến cuối cùng họ sẽ dành thắng lợi 2 Tuyến giao thông đường xe lửa Hà Nội - Hải Phòng - Vân Nam là con đường vận chuyển hàng hóa nhanh và chắc chắn nhất so với tuyến đường sắt qua Miến Điện.
Con đường này dài 850km, đoạn đường chạy qua Việt Nam dài 384km. Tuyến đường này được đặc nhượng cho một công ty tư nhân Pháp thành lập năm 1901, nhưng đến năm 1921 mới bắt tay vào xây dựng. Đường sắt Hải Phòng - Vân Nam là tuyến đường mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho tư bản Pháp trong suốt quá trình thống trị tại Đông Dương. 3 Nhật Bản tăng thêm ba sư đoàn hải quân ở Vịnh Bắc Bộ, đồng thời đưa quân đội ở Nam Trung Quốc tiến sát biên giới Việt - Trung chờ đợi cơ hội tràn qua.
20 trong cuộc chiến với phe Đồng Minh, tình hình chính trị ở đây hiễn nhiên sẽ tuân theo sự sắp xếp của họ. Dù rằng vẫn tồn tại khả năng Pháp sẽ phá bỏ sự ổn định ngoài mặt này và ngã về phe Đồng Minh nhưng Chính phủ Nhật tin tưởng rằng với sức mạnh quân sự của mình, việc ngăn chặn sự phản kháng của quân Pháp tại Việt Nam là nằm trong tầm kiểm soát. Trong khi tại chiến trường Châu Âu, lực lượng Đồng minh đang chiến đấu vì một mục tiêu chung là chiến thắng quân Phát xít thì tại chiến trường Viễn đông tình hình lại khác biệt, bỡi lẽ, mục đích của các nước Đồng minh tại chiến trường này là có sự xung đột về mặt lợi ích. Tại Trung Quốc, quân Nhật đang “kiểm soát hết các đường giao thông trên đất liền, ngoài biển và hầu hết các khu thành thị - công nghiệp nhưng không kiểm soát được các nông thôn rộng lớn chung quanh.
Ở đó đang diễn ra cuộc chiến tranh phân liệt giữa các lực lượng gọi là Quốc gia của Tưởng Giới Thạch và những người Cộng sản của Mao Trạch Đông” [17; 8]. Tình hình nội chiến phức tạp cùng với việc phải chống lại các cuộc tấn công của quân Nhật khiến nội lực của Chính quyền Trung Hoa Dân Quốc dần cạn kiệt. Tuy vậy, với vai trò là “đồng minh thân cận” của Hoa Kỳ tại chiến trường Viễn Đông, Tưởng Giới Thạch muốn dựa vào Hoa Kỳ để thay thế Pháp nắm quyền làm chủ Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng. Mặc dù tuyên bố không có tham vọng về lãnh thổ với Việt Nam nhưng thực chất vấn đề Việt Nam luôn được chính quyền Tưởng Giới Thạch coi là một món hàng, một điều kiện đặc biệt để trao đổi và mặc cả, giành quyền lợi với các nước lớn, nhất là Pháp.
Trên thực tế, giữa Chính quyền Tưởng Giới Thạch và Pháp đã tồn tại nhiều vấn đề cần phải giải quyết. Đó là các tô giới, nhượng địa ở Thiên Tân, Thượng Hải, Vũ Hán, Sa Điện, Quảng Châu Loan, Côn Minh. mà Pháp đã chiếm của Trung Quốc từ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đặc biệt là vấn đề kiểm soát tuyến đường xe lửa Vân Nam, đây là con đường 21 huyết mạch cực kỳ quan trọng đối với các tỉnh miền Nam Trung Quốc, nhất là tỉnh Vân Nam.
Trước khi quân Nhật vào Đông Dương, từ năm 1938 - 1940 Pháp đã cho Tưởng sử dụng tuyến đường này để vận chuyển hàng viện trợ quân sự, bán than. Bên cạnh đó, các vấn đề khác cũng không kém phần quan trọng như vấn đề quyền lợi của 50 vạn Hoa kiều sống ở Đông Dương, vấn đề quyền lãnh sự tài phán của Pháp trên đất Trung Quốc.