Luận văn Thạc sĩ: Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh An Giang

Luận văn ThS Du lịch học: Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh An Giang. Tìm hiểu tiềm năng, thực trạng và giải pháp thúc đẩy du lịch văn hóa An Giang.

Chuyên ngành

Du Lịch

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

130
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. Ly do chon dé kin

2. Lịch sứ nghiên cứu vẫn dễ

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiền cửu

4. Đối tượng và phạm vì nghiền cửu

5. Phương pháp nghiên cứu

6. Bổ cục luận văn

7. Đông góp của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VŨ DU LỊCH THÁT TRIEN DU LICH VAN HOA TINH AN GIANG

1.1. Cơ sở lý luậnvẻ du lịch vẫn hỏa

1.1.1. Du lịchvăn hỏa

1.1.2. Tài nguyên đu lịch văn hóa

1.2. Sân phẩm du lịch vẫn hóa

1.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật của đu lịch văn hóa

1.4. Nhân lực trong du lịch văn hóa

1.5. Điểm dén du lịch văn hóa

1.6. Thị trường của du lịch văn hóa

1.7. Tế chức, quân lý du lịch văn hóa

1.8. Xúc tiễn, tuyên truyền, quảng ba du lịch văn hóa

1.9. 10, tán di san văn hóa trong du lịch

1.10. Điều kiện phát triển du lịch văn hóa tỉnh An Giang

1.10.1. Điều kiện tự nhiêi

1.10.2. Diễn kiện lịch sử xã hội

1.10.3. Tài nguyên du lịch văn hóa tình An Giang

1.11. Những bài học kinh nghiệm trong nghiên cứu, phát triển du lịch văn hóa

1.11.1. Những bài học kinh nghiệm trang nước

1.11.2. Những bài học kinh nghiệm của nước ngoài

1.12. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG IIOẠT DỌNG DU LỊCI VĂN HÓA TINII AN GIANG

2.1. Thi trưởng khách du lịch văn hóa ở An Giang

2.1.1. Mục đích tham quan và tìm hiển của đu khách

2.1.2. Phân kỳ du khách đến An Giang

2.1.3. Nhu cầu lưu trú của du khách đán An Giang

2.1.4. Lượng khách du lịch— khách đu lịch văn hóa đến An Giang

2.1.5. Đặc điểm và xu hướng của du khách

2.2. Co sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa tỉnh An Giang

2.2.1. Cơ sở kinh doanh du lịch

2.2.2. Cơ sở kinh doanh lưu trú

2.2.3. Cơ sở kinh doanh &n uéng

2.2.4. Phương tiên vận chuyến khách du lich

2.2.5. Các cơ sở vui chơi, giải trị

2.2.6. Các dịch vụ bổ sung

2.3. Sản phẩm đu lịch vẫn hóa tỉnh An Giang

2.3.1. Du lich (ham quan các dã tích văn hóa lịch sử

2.3.2. Du lịch tôn giáo tín ngưỡng

2.3.3. Du lịch lễ hội

2.3.4. Du lịch làng nghề

2.3.5. Du lịch nghĩ dưỡng

2.3.6. Du le „ng nước so

2.4. Các tuyên điểm du lịch văn hóa tiêu biểuở An Giang

2.4.1. Các điểm du lịch văn hỏa tiêu bid

2.4.2. Các tuyển du lịch văn hóa tiểu biểu

2.5. Nhân lực du lịch văn hóa tính An Giang

2.5.1. Nhân lực đu lịch thường xuyên

2.5.2. Thân lực du lịch thời vụ

2.6. Tuyên truyền, quảng bả du lịch văn hóa tính An Giang

2.7. Các cấp chính quyền và quản lý nhà nước

2.8. Cac don vi kink doanh du lich

2.9. Cư dân bản địa

2.10. Tế chức, quản 1ý đu lịch văn hóa tỉnh An Giang

2.10.1. Ca quan quan ly nha use

2.10.2. Chính quyển dịa phương

2.10.3. Các doanh nghiệp du lich

2.11. Tác động của du lịch đối với các di sản văn hóa ở tinh An Giang

2.11.1. Tác động của du lịch dối với các di sản văn hỏa vật thể

2.11.2. Tác động của du lịch đối với các di sân văn hóa phi vật thể

2.12. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHAN PHAT TRIEN DU LICH VAN TIGA TINH AN GIANG

3.1. Những căn cứ để xuất giải pháp

3.1.1. Chủ trương chính sách nhà nước

3.1.2. Binh hướng, chiến lược phát triển của tỉnh

3.1.3. Điều kiện thuận lợi dễ phát triển du lịch văn hỏa của tỉnh

3.1.4. Thực trạng một số mặt yếu kém của du lịch văn héa An Giang

3.2. Những giải pháp cụ thế

3.3. Giải pháp phát triển cơ sở hạ tằng kỹ thuật

3.3.1. TIệ thắng giao thông

3.3.2. Hệ thông cơ sở ăm uống, lưu trú

3.3.3. Đầu tư các cơ sở vui chơi, giải trí

3.4. Giải pháp phát triển nhân lựo trong đu lịch văn hóa

3.4.1. Nguồn nhân lực quân lý nhà nước về đu Tịch văn hóa

3.4.2. Nguồn nhân lực trong các cơ sở kinh doanh du lịch

3.4.3. Nguễn nhân lực ở địa phương

3.4.4. Các cơ sở đào tạo đụ lịch

3.5. Giải pháp phát triển săn phẩm du lịch văn hóa đặc thủ

3.6. Xây dựng các tuyến điểm du lịch văn hóa tiêu biển ở An Giang

3.7. Giải pháp phát triển thị trường khách du lịch văn hóa

3.8. Giải pháp tê chức, quản lý hoat déng du lich vin héa

3.8.1. Quân lý nhà nước vẻ hoạt động đu lịch văn hóa

3.8.2. Cáo đơn vị kh đoanh du lịch văn hóa

3.8.3. Chính quyền địa phương trong hoạt động du lịch van héa

3.9. Giải pháp xúc tiền, quảng, bá sản phẩm du lịch văn hóa

3.10. Giải pháp bão tên đi sản văn hóa và lài nguyên du lịch văn hóa

3.10.1. Đổi với các cơ quan quan ly nha nude

3.10.2. Déi vai cae té chite kinh đoanh du lịch

3.10.3. Đối với người dân địa phương

3.11. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN

TÀI IIÊU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC CHỮ V TCOMOS Tnternational Council On Monuments and Sites

DANH MUC BANG BLEU

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIÊU ĐỎ

Tóm tắt

I. Tổng quan nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa An Giang

An Giang là vùng đất giàu tiềm năng, nơi hội tụ của nhiều nền văn hóa đặc sắc. Luận văn Thạc sĩ 'Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh An Giang' của Nguyễn Thị Mỹ Linh (2013) là một công trình khoa học chuyên sâu, đặt nền móng cho việc định hình lại chiến lược du lịch của tỉnh. Nghiên cứu này khẳng định, hoạt động du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa, dù có nhiều sức hấp dẫn nhưng vẫn còn tồn tại nhiều bất cập. Các thế mạnh về tài nguyên du lịch nhân văn chưa được khai thác triệt để. Luận văn tập trung vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch văn hóa, từ đó đánh giá một cách toàn diện các điều kiện phát triển và thực trạng của ngành. Mục tiêu cốt lõi là đề xuất các giải pháp khả thi, góp phần đưa du lịch văn hóa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị di sản. Công trình này không chỉ là một tài liệu tham khảo quý giá cho các nhà quản lý mà còn là nguồn cảm hứng cho các nghiên cứu khoa học du lịch sau này, mở ra một hướng đi mới cho việc phát triển du lịch bền vững tại An Giang. Việc phân tích các bài học kinh nghiệm từ trong và ngoài nước cũng là một phần quan trọng, giúp địa phương tránh được những sai lầm và học hỏi các mô hình thành công.

1.1. Cơ sở lý luận về du lịch văn hóa và phát triển bền vững

Để phát triển du lịch một cách bài bản, việc nắm vững cơ sở lý luận là yêu cầu tiên quyết. Du lịch văn hóa được định nghĩa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc, với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống. Luận văn đã phân biệt rõ các khái niệm cốt lõi như tài nguyên du lịch văn hóa (vật thể và phi vật thể), sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù, và vai trò của các yếu tố cấu thành như cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, công tác quản lý và xúc tiến quảng bá. Một sản phẩm du lịch văn hóa thành công phải là sự kết hợp hài hòa giữa tài nguyên gốc và các dịch vụ đi kèm, nhằm thỏa mãn nhu cầu trải nghiệm và khám phá của du khách. Yếu tố bền vững được nhấn mạnh, yêu cầu việc khai thác phải đi đôi với bảo tồn, đảm bảo lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường, tránh làm mai một bản sắc văn hóa địa phương.

1.2. Đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa An Giang độc đáo

An Giang sở hữu một kho tàng tài nguyên du lịch văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng, là nền tảng vững chắc cho sự phát triển. Về văn hóa vật thể, tỉnh có 26 di tích cấp quốc gia và 46 di tích cấp tỉnh, nổi bật là Khu di tích văn hóa Óc Eo và quần thể kiến trúc tâm linh tại Núi Sam. Về văn hóa phi vật thể, sự cộng cư của bốn dân tộc Kinh, Khmer, Chăm, Hoa đã tạo nên một bức tranh văn hóa đa sắc màu. Các giá trị nổi bật bao gồm Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam (di sản văn hóa phi vật thể quốc gia), các lễ hội truyền thống của người Khmer, văn hóa Hồi giáo của người Chăm, cùng với một nền ẩm thực đặc trưng An Giang và hệ thống làng nghề truyền thống An Giang độc đáo. Đây chính là tiềm năng du lịch văn hóa An Giang to lớn, nếu được khai thác đúng hướng sẽ tạo ra sức cạnh tranh vượt trội trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

II. Phân tích thực trạng du lịch An Giang và các thách thức

Mặc dù sở hữu tiềm năng lớn, thực trạng phát triển du lịch An Giang vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Luận văn đã chỉ ra một nghịch lý: lượng khách đến An Giang hàng năm rất cao, thường dẫn đầu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (đạt hơn 5 triệu lượt vào năm 2011), nhưng hiệu quả kinh tế mang lại chưa tương xứng. Doanh thu du lịch còn thấp, thời gian lưu trú trung bình của khách ngắn (chỉ 1.18 ngày vào năm 2011), và mức chi tiêu không cao. Điều này phản ánh hoạt động du lịch còn mang tính thời vụ, tự phát, chủ yếu tập trung vào loại hình hành hương, tâm linh. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch địa phương còn yếu, chưa tạo ra được các tour tuyến hấp dẫn để giữ chân du khách. Công tác quản lý, quy hoạch và liên kết vùng chưa đồng bộ, dẫn đến việc khai thác tài nguyên còn manh mún, chồng chéo. Đây là những thách thức lớn đòi hỏi phải có những giải pháp đột phá và toàn diện để cải thiện tình hình, hướng tới một nền du lịch chất lượng và hiệu quả hơn.

2.1. Phân tích thị trường và hành vi của khách du lịch

Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt rõ rệt về mục đích chuyến đi giữa khách nội địa và quốc tế. Đối với khách nội địa, nhu cầu lớn nhất là du lịch tâm linh Châu Đốc, tín ngưỡng, chiếm tới 64%. Trong khi đó, khách quốc tế lại quan tâm nhiều hơn đến việc tìm hiểu các di tích văn hóa lịch sử (63%). Một vấn đề nổi cộm là thời gian lưu trú rất ngắn, phần lớn khách chỉ đến và về trong ngày. Khách quốc tế cũng thường xem An Giang là điểm dừng chân tạm thời trên hành trình sang Campuchia. Điều này trực tiếp làm giảm doanh thu từ các dịch vụ lưu trú, ăn uống và mua sắm. Việc thiếu các hoạt động vui chơi, giải trí về đêm và các sản phẩm bổ trợ là nguyên nhân chính khiến du khách không ở lại lâu hơn. Hiểu rõ hành vi này là chìa khóa để xây dựng các gói sản phẩm phù hợp, kéo dài thời gian trải nghiệm của du khách.

2.2. Những yếu kém trong cơ sở vật chất và sản phẩm du lịch

Cơ sở vật chất kỹ thuật và hệ thống sản phẩm du lịch là hai điểm yếu lớn nhất. Hệ thống cơ sở lưu trú tuy nhiều về số lượng nhưng chưa đồng bộ về chất lượng, thiếu các khách sạn cao cấp và các loại hình lưu trú trải nghiệm như homestay đạt chuẩn. Các sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù còn nghèo nàn, lặp lại và chủ yếu xoay quanh cụm di tích Núi Sam. Các làng nghề truyền thống An Giang như lụa Tân Châu, mộc Chợ Mới chưa được đầu tư để trở thành điểm tham quan hấp dẫn. Hoạt động quảng bá, xúc tiến còn yếu, chưa xây dựng được thương hiệu du lịch An Giang một cách chuyên nghiệp. Nguồn nhân lực du lịch, đặc biệt là hướng dẫn viên am hiểu văn hóa bản địa, còn thiếu và yếu về kỹ năng ngoại ngữ. Tất cả những yếu tố này làm giảm sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh của du lịch An Giang trên thị trường.

III. Bí quyết phát triển sản phẩm du lịch văn hóa An Giang đặc thù

Để vượt qua các thách thức, việc xây dựng và đa dạng hóa sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù là giải pháp trọng tâm. Thay vì khai thác dàn trải, An Giang cần tập trung vào những giá trị cốt lõi không nơi nào có được. Luận văn đề xuất hướng tiếp cận theo chiều sâu, biến mỗi di sản, mỗi nét văn hóa thành một câu chuyện hấp dẫn. Cần kết nối các điểm di tích rời rạc thành những tuyến tham quan có chủ đề rõ ràng, ví dụ như tuyến 'Theo dấu chân người mở cõi' hoặc 'Khám phá văn minh Phù Nam'. Việc phát triển sản phẩm không chỉ dừng lại ở tham quan, mà phải tích hợp các hoạt động trải nghiệm như học làm gốm, dệt lụa, hay tham gia vào các nghi lễ của người bản địa. Yếu tố sáng tạo là cực kỳ quan trọng, có thể thông qua việc ứng dụng công nghệ thực tế ảo tại các khu di tích khảo cổ hoặc tổ chức các show diễn nghệ thuật tái hiện lịch sử. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra những sản phẩm độc đáo, có giá trị gia tăng cao, để lại ấn tượng sâu sắc và thôi thúc du khách quay trở lại.

3.1. Khai thác giá trị di tích lịch sử và văn hóa Óc Eo

Di sản văn hóa Óc Eo là một 'viên ngọc quý' chưa được mài giũa đúng mức. Việc khai thác giá trị di tích lịch sử này cần được quy hoạch bài bản, biến khu di tích thành một bảo tàng ngoài trời sống động. Cần đầu tư vào công tác khảo cổ, trưng bày hiện vật một cách khoa học và hấp dẫn. Bên cạnh đó, cần xây dựng các sản phẩm du lịch xoay quanh nền văn hóa này như tham quan các di chỉ khảo cổ, trải nghiệm ẩm thực Phù Nam được phục dựng, mua sắm các sản phẩm thủ công mỹ nghệ phỏng theo cổ vật. Kết nối di tích Óc Eo với các điểm đến khác trong vùng như Ba Thê, Núi Sam sẽ tạo thành một tour du lịch khảo cổ - tâm linh độc nhất vô nhị.

3.2. Nâng tầm Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ và du lịch tâm linh

Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam là một 'thỏi nam châm' thu hút hàng triệu du khách. Tuy nhiên, cần nâng tầm lễ hội vượt ra khỏi các hoạt động tín ngưỡng đơn thuần. Cần tổ chức thêm các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao truyền thống song hành cùng phần lễ. Việc chuẩn hóa các dịch vụ, đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường và minh bạch giá cả là yêu cầu cấp thiết. Đối với du lịch tâm linh Châu Đốc, cần mở rộng ra các cơ sở thờ tự khác của người Khmer, người Chăm, tạo thành một chuỗi sản phẩm đa dạng, phản ánh sự giao thoa tôn giáo, tín ngưỡng đặc sắc của vùng đất An Giang, giúp phân bổ dòng khách và tăng thời gian lưu trú.

IV. Phương pháp phát triển du lịch An Giang một cách bền vững

Phát triển 'nóng' nhưng thiếu bền vững sẽ để lại những hệ lụy lâu dài cho tài nguyên và xã hội. Do đó, các giải pháp phát triển du lịch bền vững phải được ưu tiên hàng đầu. Luận văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quy hoạch tổng thể, trong đó xác định rõ khu vực nào cần bảo tồn nghiêm ngặt, khu vực nào có thể phát triển dịch vụ. Sự tham gia của cộng đồng địa phương là yếu tố then chốt. Cần có cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng, khuyến khích người dân tham gia bảo vệ di sản và cung cấp các dịchvụ du lịch. Giáo dục nâng cao nhận thức cho cả du khách và người dân về việc bảo vệ môi trường, tôn trọng văn hóa bản địa là một nhiệm vụ thường xuyên. Việc áp dụng các tiêu chuẩn du lịch xanh, sử dụng năng lượng tái tạo, xử lý rác thải hiệu quả tại các khu du lịch sẽ góp phần xây dựng hình ảnh An Giang là một điểm đến thân thiện và có trách nhiệm. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan – nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng và các nhà khoa học – là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công chiến lược này.

4.1. Cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng

Con người và hạ tầng là hai trụ cột của phát triển du lịch. Cần có kế hoạch đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực, từ cấp quản lý đến nhân viên phục vụ trực tiếp. Nội dung đào tạo phải chú trọng cả nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng mềm, ngoại ngữ và kiến thức sâu rộng về văn hóa - lịch sử địa phương. Về hạ tầng, cần ưu tiên nâng cấp hệ thống giao thông kết nối các khu, điểm du lịch; hoàn thiện hệ thống cấp thoát nước, viễn thông, và các tiện ích công cộng như nhà vệ sinh, điểm dừng chân. Chính sách phát triển du lịch tỉnh An Giang cần có cơ chế ưu đãi, thu hút đầu tư vào các cơ sở lưu trú chất lượng cao và các khu vui chơi, giải trí phức hợp.

4.2. Tăng cường quảng bá và thực thi chính sách phát triển du lịch

Hoạt động xúc tiến, quảng bá cần được thực hiện một cách chuyên nghiệp và có mục tiêu. Cần xây dựng một bộ nhận diện thương hiệu du lịch An Giang nhất quán, hấp dẫn. Tận dụng sức mạnh của marketing kỹ thuật số, mạng xã hội và hợp tác với những người có ảnh hưởng để lan tỏa hình ảnh du lịch văn hóa An Giang. Về mặt chính sách, chính quyền địa phương cần đóng vai trò 'nhạc trưởng', ban hành các cơ chế thông thoáng để thu hút đầu tư, đồng thời tăng cường công tác quản lý nhà nước, đảm bảo môi trường kinh doanh du lịch lành mạnh. Việc kiểm tra, giám sát chất lượng dịch vụ và xử lý nghiêm các vi phạm sẽ góp phần củng cố niềm tin cho du khách.

V. Định hướng phát triển du lịch văn hóa An Giang đến 2030

Trên cơ sở phân tích tiềm năng và thực trạng, luận văn đã phác thảo định hướng phát triển du lịch An Giang tầm nhìn 2030. Mục tiêu tổng quát là đưa An Giang trở thành một trung tâm du lịch văn hóa - tâm linh đặc sắc của quốc gia, một điểm đến hấp dẫn trên bản đồ du lịch khu vực. Để đạt được mục tiêu này, chiến lược phát triển cần tập trung vào ba khía cạnh chính: sản phẩm độc đáo, dịch vụ chuyên nghiệp và môi trường bền vững. An Giang sẽ không chạy theo số lượng mà tập trung vào chất lượng, thu hút phân khúc thị trường khách có mức chi tiêu cao và có ý thức tôn trọng văn hóa, môi trường. Việc liên kết với các địa phương trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long và TP.HCM để tạo ra các sản phẩm liên tuyến cũng là một hướng đi chiến lược. Tầm nhìn này đòi hỏi một sự quyết tâm chính trị mạnh mẽ, sự đồng lòng của toàn xã hội và một lộ trình thực hiện khoa học, bài bản, biến những tiềm năng trên giấy thành những giá trị kinh tế - xã hội thực tiễn.

5.1. Mô hình du lịch cộng đồng vùng Bảy Núi làm trọng tâm

Vùng Bảy Núi với cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ và đời sống văn hóa đặc sắc của người Khmer là nơi lý tưởng để phát triển mô hình du lịch cộng đồng vùng Bảy Núi. Mô hình này đặt người dân địa phương vào vị trí trung tâm, vừa là người cung cấp dịch vụ, vừa là người hưởng lợi trực tiếp. Du khách sẽ có cơ hội ở tại nhà dân (homestay), cùng tham gia vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp, học các nghề thủ công truyền thống và khám phá bản sắc văn hóa dân tộc Khmer An Giang. Phát triển loại hình này không chỉ tạo sinh kế bền vững cho người dân mà còn là cách hiệu quả nhất để bảo tồn văn hóa và bảo vệ cảnh quan môi trường một cách tự nhiên.

5.2. Bảo tồn bản sắc văn hóa Khmer và Chăm trong du lịch

Bản sắc văn hóa của cộng đồng người Chăm và Khmer là tài sản vô giá của du lịch An Giang. Quá trình phát triển du lịch phải tuyệt đối tôn trọng và có các giải pháp bảo tồn hiệu quả những giá trị này. Cần tránh việc 'sân khấu hóa' văn hóa một cách thái quá, làm mất đi tính nguyên bản. Thay vào đó, hãy khuyến khích du khách tìm hiểu văn hóa người Chăm An Giang và Khmer thông qua các hoạt động tương tác chân thực như thăm các thánh đường Hồi giáo, các ngôi chùa Khmer, tham dự các lễ hội truyền thống. Doanh thu từ du lịch cần được trích một phần để tái đầu tư vào việc bảo tồn các di tích, phục dựng các nghi lễ và hỗ trợ các nghệ nhân duy trì nghề truyền thống. Đây là con đường duy nhất để phát triển du lịch bền vững, đảm bảo rằng di sản văn hóa sẽ còn mãi cho các thế hệ tương lai.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ 1.Ý LUẬN VÉ DU LỊCH VĂN HÓA VA BIEU KIEN PHAT TRIEN DU LICH VAN HOA Ở AN GIANG 1. Cơ sở lý luận về đu lịch văn hóa 1. Du lịch văn hóa Cân có sự phân biệt rõ giữa cụm từ “Du lịch văn hỏa" và “Văn hóa đu liel?”. Khi nói dến văn hóa du lịch là nói đến văn hóa của con người trong hoạt động khai thác, sử dụng và hướng thụ sản phẩm dụ lịch.

Nói đến ý thức văn hỏa vả cách ứng xử của con người thẻ hiện trong mọi hoạt động đu lịch. Thuật ngĩ “Du lịch văn hóa” ở đây muốn để cập dến một loại hình du lich lầy những giả trị văn hỏa vật thể và phi vật thể của các dị sản vả truyền thống văn hóa của dân tộc lâm nẻng cốt trong chương trình du lịch. Hiện nay trên thế giới và trong nước cỏ rất nhiều khái niệm vẻ du lịch văn hóa như sau: “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá những đi tích và đi chỉ. Nó mang lại những ảnh hướng tích cực hằng việc đóng góp vào việc duy hú, bảo tên, Loại hình này trên thực lễ đã mình chứng cha những nỗ lực bảo tồn và tôn lạo, đúp ứng nha cầu của cộng đồng vì những lợi ích văn hóa — kinh tế — xổ hội” ICOMOS).

Tẻ chức Du lịch Thể giới (INWTO) cũng đưa ra một khái niệm khác về du lịch văn hòa “Du lịch văn hóa bao gầm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cửu, khám phá vệ văn hóa như các chương trình nghiên cứu, Bm liểu về nghệ thuật biêu diễn, về các lễ hội và các sự kiện về văn hóa khác nhau, thăm các di tích đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiền, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương”. Theo Luật Du lịch Việt Nam thì “72 lịch văn hóa là bình thức dư lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phải huy các giá trị văn hóa truyền thống”. Hoặc “Du lịch văn hóa là loại bình du lich diva trên cơ sở khai thác các gid iri di sản văn hóa dân tộc và được LÔ chức mội cách có văn hóa” [04,r.98] 12 Như vậy, du lịch văn hóa là lĩnh vực Âu lịch khai thác các tài nguyên Âu lịch văn hỏa, các dịch vụ thích hợp nhằm tao ra các sẵn phẩm dẫu lịch phục vụ nhu cầu của du khách. Du lịch văn ba lã văn hỏa lâm tài nguyên du lịch.

Du lịch văn hóa có tính lưa chọn khách, nó vừa mang tỉnh giáo dục nhận thức, vừa giúp bão tôn và phát huy các giá trị văn hóa và là cầu nổi cho việc giao lưu văn hóa giữa các vũng miễn.2 Tài nguyễn du lịch văn bóa Taiật Du tịch Viét Nam chia tài nguyên ra 2 dạng chính là tài nguyên du. lịch tự nhiên bao gốm các yếu tổ địa chất như: rừng, biển, sông, hỏ, hang động. và đạng tài nguyên đu lịch văn hóa đang được khai thác và chua được khai thác. Tải nguyên du lịch văn hỏa dược sáng tạo từ bản tay vá khối óc của con người trong quá trinh sống, lao động như các di tích lịch sử văn hỏa, các món ăn hay hàng thủ cỏng mỹ nghệ.

Hiển theo cách này thì các thành tố văn hóa được xếp vào dạng tải nguyên du lịch văn hóa như truyền thống văn hỏa, cảc yếu tổ vẫn hóa, văn nghệ đân gian. và đây cũng là nguồn tài nguyên hết sức độc đáo trong du lịch. Tuy nhiên, tài nguyên văn hóa được chia ra 2 loại cơ bản là tải nguyễn văn hóa vật thể thì tên tại dưới đạng hữu tỉnh nà cơn ngườt có thé thay va cham vào được như các công trình kiển trúc, hàng thủ công, các công cụ. ; còn tài 1iguyên văn hóa phi vật thế thì tổn tại ở dạng vô hình, không hiện hữu Irong không gian, con người chỉ có thể cản nhận thông qua các giác quan như lễ hội, các loại hình nghệ thuật, cách giao tiếp, ng xử Bằng 1.1: Tài nguyên văn hóa vật thể và phủ vật thế [19] Tài nguyên văn hóa vật thế Tai nguyên văn hóa phí vật thế - Kiến túc - Tôn giáo, tín ngưỡng.

- Diễu khắc - Phong tục, tập quan - Hội họa - LỄ hội - Trang phục - Ngôn ngữ - Trang sức - Văn học nghệ thuật - Ẩm lực - Âm nhạc - Công cụ lao động, sản xuất - Vũ đạo - Vũ khí chiến đầu - Võ thuật 13 - Phương tiện sinh hoạt - Nghề thủ công truyền thống - Các đi sản truyền khẩu đân gian. - Nghệ thuật điền xướng Không phải tất cá tải nguyên văn hỏa đều là tài nguyên du lich van hoa. Nó phải đáp ứng đủ các điều kiện khách quan vả chủ quan. Tài nguyên đu lịch văn hóa là toàn bộ tài nguyên văn hóa có khả năng kết hợp với các loại dich vu du lịch tương ứng đề tạo thành sản phẩm du lịch.

[19] Cáo giá trị đi sản vật thế hay phi vật thế chỉ được phát huy khi nó thực sự đóng vai trò nhất định tác động đến lâm ly, tinh cam và trí thức của cơn người Như vậy, chỉ những giá trị văn hỏa nào dược phóp khai thác dưa vào trong hoạt động du lịch và cé tính hân đẫn du khách thì mới trở thành tài nguyên đu lịch văn. Du lịch văn hóa khai thác các giá trị dĩ sản và giá trị truyền [hông của dân Lộc lam nguồn tài nguyên cho mình vẻ nguồn tai nguyên này lá cốt lõi của chương, trình du lịch văn hóa 1. Sân phẩm du lich văn hảa 'Trong quá trình sống con người đã tạo ra văn hóa và sự sảng tạo của con. người là biết van dung các giá trị văn hóa đề tạo các săn phẩm đu lịch văn hóa nhằm thỏa mãn những yêu câu và khát vong tìm hiểu của con người.

Có rất nhiều khái niệm về sản phẩm du lịch như “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thôa mãn nhu cầu của âu khách trong chuvén di du lich”. (26, tr] ‘Theo Tiên sĩ Dương Văn Sảu thì “Sản phẩm du tịch là toàn bộ những địch vụ tạo ra cáo hàng hóa văn hóa mang tính đặc thù do các cá nhân và tổ chức kinh doanh du lịch cũng cấp đề phục vụ những nhu cầu của các đối tượng du khách khác nhan; nỗ phù hợp với những tiêu chỉ nghề nghiệp theo thông lệ quốc tô đồng thài chứa đựng những giá trị văn bóa đặc trưng ban dia; dap img và làm thôa tấn các mục tiêu kinh tế - xã hội đôi với các cá nhân, tÖ chức và địa nhường nơi đang diễn ra các hoạt động kinh doanh du lịch”.2: So sánh sẵn phẩm đu lịch và sản phẩm văn hóa: [28,tr 33] Sản phẩm văn hóa Sản phẩm đu lịch “Bén ving, tinh bat biến cao. “Thich tmg, tinh kha bién cao. “Mang năng dâu ân của cộng đồng cư | -Mang nặng đâu ân của các cá nhân, 14 dan ban dia, các nhá tổ chức, khai thác.

-Dung cho tất cả các đổi tượng khác -Chỉ đàng cho khách du lịch, phục vụ nhau, phục vụ mọi người. những đổi tượng sử dựng địch vụ du lịch. -Sản xuất va không phải dễ bán, chủ yếu -Bân xuất ra phải được bản ra thị phục vụ đời sông sinh hoạt văn hóa trường, bản cho du khách, phục vụ nhụ tỉnh thân của cr đân bản địa. cần của cáo đổi tượng du khách là cư dân của các vũng miễn khác nhau.

-Chú trọng giá trị tình than, giả trị -Giá trị văn hóa di kèm giá trị kinh tế - không đo được hết băng giá cả. Giá trị được đo bằng giá cả. -Quy mô hạn chế. thời gian va khang -Quy mô không bạn chế, thời gian và giam xáo định.

không gian không xác dink -San phim mang nặng định tình, Khó -Đnh tỉnh, định lượng được thê hiện xác định định lượng, Giả trị của sắn. qua thời gian hoạt động, Giá trị của sản phẩm mang lính vô hình thể hiệu qua phẩm là hữu hình, biểu hiện thong qua ấn tượng, cảm nhận. những chỉ số kinh tế thu được. Như vậy sản phẩm dụ lịch văn hóa là tập hợp các địch vụ cần thiết dễ thỏa mãn nhu cầu của khách du lich văn hóa trong chuuẩn đi du lịch.

Các sản phẩm du lich văn hóa bao gồm: du lịch tím ngưỡng, du lịch lễ hội, du lịch lìm hiển các dị tích văn hóa - lịch sử, du lịch làng nghề, du lịch nông, nghiệp, du lịch sông, nước. Sản phẩm văn hóa tham gia vào quá trình kinh doanh du lịch trở thành sản phẩm du lịch văn hóa. Sản phẩm đu lịch văn hóa do con người tạo ra và nó luôn chịu sự chi phổi của con người. Sự sáng tạo và vận dụng của con người có khả năng làm các giá trị văn hóa mật đi bản sắc của nẻ.

Tuy nhiên, chính con Tigười đã đưa cáo mã trị văn hóa đến gân hơn nữa với nhân loại và tôn vĩnh gid tr của nó thông qua con đường đu lịch. Tuy nhiên, nêu xem san phẩm du lich chi lA dich vy thi moi chi chi ý đến. sự tham gia của yêu tổ chủ thể là con người, người phục vụ nhủ cầu của du khách, hay các hình thức phục vụ nhu câu của du khách. Sản phẩm đu lịch bắt buộc phải cần tới đối lượng khách thể, nằm ngoài người phục vụ, hay hình thức dịch vụ, chỉ phối nhu cầu của đu khách, dễ có khả năng và hình thức phục vụ thích hợp, dó là 15 tài nguyên đu lịch.

Tài nguyên đu lich nào thì địch vụ du lịch ấy, sản phẩm đu lịch ấy. Không cỏ tài nguyên du lịch thì không có ẩn phẩm: du lịch. sân phẩm du lịch phải là sự kết hợp giữa toàn bộ các loại tài nguyên du lịch và toàn bộ các loại địch vụ du lịch thích hợp nhằm phục vụ nhu cầu thưởng thức, khám phá, trải nghiệm về những điều khác biệt, mới lạ của đu khách. Sản phẩm du lịch văn hóa phải lù sự kết hợp giữa tài nguyên du lich văn hỏa và các dịch vụ du lịch văn hóa thích bợp phục vụ nhu cầu thưởng thức, khám phá, trải nghiệm của du khách về những diều khác biệt, mới lạ của các nền văn háa khác nhau.4 Cơ sẽ vật chất kỹ thuật câu du lịch vẫn hóa Tliéu theo nghĩa rộng, cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch được xem là toàn bộ cơ sở hạ tổng, phương tiên, vật chất và kỹ thuật tham gia vào hoạt động, du lich.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ