Tổng quan nghiên cứu

Tài nguyên rừng giữ vai trò là lá phổi xanh của sinh quyển, chiếm khoảng 31% tổng diện tích đất toàn cầu với quy mô xấp xỉ 4 tỷ ha và lưu trữ hơn 650 tỷ tấn carbon sinh khối. Tại Việt Nam, hệ thống rừng phòng hộ có quy mô hơn 4,13 triệu ha, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu duy trì tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc ở mức 41,89% và giảm thiểu rủi ro thiên tai. Nằm trong vùng Bắc Trung Bộ chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu, thành phố Đồng Hới thuộc tỉnh Quảng Bình sở hữu diện tích tự nhiên 15.570,56 ha, trong đó đất quy hoạch lâm nghiệp chiếm 5.900,75 ha (tương đương 37,90% tổng diện tích đất tự nhiên toàn đô thị). Đặc biệt, diện tích quy hoạch rừng phòng hộ lên tới 4.069,53 ha, chiếm gần 70% tổng quỹ đất lâm nghiệp của thành phố, giữ chức năng kép: vừa bảo vệ nguồn nước đầu nguồn các hồ đập, vừa chắn sóng, chắn cát bay bảo vệ môi trường dải ven biển Nhật Lệ và Bảo Ninh.

Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa nhanh chóng cùng áp lực phát triển hạ tầng du lịch ven biển đã tạo ra nhiều thách thức lớn cho công tác bảo tồn tài nguyên rừng. Tình trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất, lấn chiếm cục bộ và nguy cơ suy thoái chất lượng rừng tự nhiên thứ sinh nghèo kiệt đang đe dọa trực tiếp đến chức năng phòng hộ. Luận văn thạc sĩ tập trung phân tích thực trạng tài nguyên rừng, đánh giá cơ chế quản lý tại 5 xã, phường trọng điểm (Thuận Đức, Đồng Sơn, Hải Thành, Quang Phú, Bảo Ninh) trong giai đoạn từ năm 2017 đến nay. Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác lập hệ thống cơ sở thực tiễn vững chắc, nhận diện các điểm nghẽn thể chế và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về kỹ thuật lâm sinh, tổ chức bộ máy và sinh kế cộng đồng, hướng tới mục tiêu gia tăng độ che phủ rừng phòng hộ bền vững từ mức 16,68% tại vùng cát lên trên 59,37% tại các khu vực đầu nguồn xung yếu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng (Community-Based Forest Management - CBFM) và nguyên lý quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế. Mô hình tiếp cận nhấn mạnh rằng hiệu quả bảo vệ rừng chỉ đạt mức tối ưu khi có sự phân cấp rõ ràng về quyền tài sản và cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng giữa nhà nước và người dân bản địa. Về mặt lâm sinh, đề tài kế thừa lý thuyết cấu trúc tầng tán rừng phòng hộ nhiệt đới của các nhà khoa học lâm nghiệp. Các công trình thực nghiệm khẳng định rằng thảm thực vật tự nhiên nhiều tầng với độ tàn che đạt từ 0,7 đến 0,8 có khả năng giảm thiểu xói mòn đất, điều tiết dòng chảy mặt và giữ lại từ 30% đến 35% tổng lượng nước mưa trên tầng tán so với các mô hình rừng trồng đơn loài thuần vị.

Khung phân tích của nghiên cứu gắn liền với ba khái niệm cốt lõi:

  • Rừng phòng hộ đầu nguồn (nhằm điều hòa nguồn nước, chống lũ quét và bồi lắng lòng hồ);
  • Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay ven biển (ngăn chặn hiện tượng cát di động và bảo vệ hạ tầng đô thị);
  • Khoanh nuôi phục hồi rừng (quá trình tác động các biện pháp kỹ thuật lâm sinh để thúc đẩy diễn thế sinh thái tự nhiên từ đất trống, cây bụi sang thảm thực vật cây gỗ đa loài).

Các căn cứ pháp lý nền tảng gồm Luật Lâm nghiệp năm 2017, Nghị định số 168/2016/NĐ-CP về giao khoán rừng và Thông tư số 29/2018/TT-BNNPTNT về quy định các biện pháp kỹ thuật lâm sinh.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hai hệ thống thông tin chính: nguồn dữ liệu thứ cấp (báo cáo diễn biến rừng hàng năm của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình, số liệu quy hoạch 3 loại rừng theo Quyết định số 4534/QĐ-UBND) và nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp tại thực địa.

Cỡ mẫu điều tra xã hội học lâm nghiệp được thiết kế với tổng số 50 phiếu phỏng vấn chuyên sâu, thực hiện tại 5 xã, phường đại diện gồm: Thuận Đức, Đồng Sơn, Hải Thành, Quang Phú và Bảo Ninh. Cấu trúc mẫu khảo sát bao gồm:

  • 5 phiếu phỏng vấn lãnh đạo Ủy ban nhân dân phụ trách lâm nghiệp cấp xã;
  • 45 phiếu điều tra hộ gia đình (phân bổ đều tại 15 thôn, mỗi thôn chọn ngẫu nhiên 3 hộ đại diện cho các nhóm nhận khoán bảo vệ và sản xuất lâm nghiệp);
  • 6 phiếu khảo sát cán bộ quản lý và lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng thuộc Ban quản lý Rừng phòng hộ thành phố Đồng Hới.

Phương pháp chọn mẫu điển hình nhiều giai đoạn kết hợp công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) được sử dụng nhằm đảm bảo tính khách quan và chiều sâu của thông tin. Về xử lý số liệu, tác giả ứng dụng các hàm thống kê chuyên sâu trên phần mềm máy tính để lượng hóa cơ cấu diện tích, trữ lượng gỗ và phân tích định tính thông qua ma trận SWOT (SO, WO, ST, WT). Lý do lựa chọn ma trận SWOT mở rộng là nhằm đối chiếu trực tiếp giữa năng lực thể chế nội tại với các áp lực đô thị hóa ngoại cảnh, tạo cơ sở thực tiễn xác đáng cho việc hoạch định giải pháp lâm sinh giai đoạn 2025–2030.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực trạng cho thấy tổng diện tích quy hoạch rừng phòng hộ tại thành phố Đồng Hới là 4.069,53 ha. Cơ cấu hiện trạng đất đai bao gồm: diện tích đất có rừng đạt 3.306,54 ha (chiếm 81,25%), trong khi đất chưa có rừng còn lại 762,99 ha (chiếm 18,75%). Trong tổng diện tích đất có rừng, rừng tự nhiên chiếm tỷ trọng chủ đạo với 2.494,80 ha (tương đương 61,30% tổng diện tích quy hoạch phòng hộ), rừng trồng đạt 811,74 ha (chiếm 19,95%). Phần diện tích đất chưa có rừng 762,99 ha gồm 368,64 ha đất đã trồng nhưng chưa thành rừng, 148,25 ha đất trống có cây tái sinh và 227,93 ha đất trống không có cây tái sinh – đây chính là quỹ đất tiềm năng lớn cho công tác khoanh nuôi và trồng mới.

Về trữ lượng, tổng trữ lượng gỗ rừng tự nhiên toàn thành phố ước đạt 272.486 m³, 100% thuộc trạng thái rừng thứ sinh. Cơ cấu trữ lượng phân hóa thành 142.000 m³ rừng trung bình, hơn 34.000 m³ rừng phục hồi và khoảng 348 m³ rừng nghèo kiệt, với độ tàn che phổ biến dao động từ 0,6 đến 0,7. Về mặt phân bổ không gian, xã Thuận Đức dẫn đầu về quy mô với 2.017,19 ha rừng tự nhiên và độ che phủ cao nhất toàn thành phố đạt 59,37%. Ngược lại, xã ven biển Bảo Ninh có độ che phủ thấp nhất với 16,68%, toàn bộ 32,88 ha diện tích có rừng đều là rừng trồng Phi lao chống cát bay.

Về mặt chủ thể quản lý, sự phân chia quyền sử dụng đất rừng bộc lộ sự mất cân đối rõ rệt:

  • Ban quản lý Rừng phòng hộ thành phố Đồng Hới quản lý 3.394,89 ha (chiếm 83,42% tổng diện tích);
  • Chi nhánh Lâm trường Đồng Hới thuộc Công ty Long Đại quản lý 395,01 ha;
  • Lực lượng vũ trang (Trại giam Đồng Sơn) quản lý 430,94 ha;
  • Ủy ban nhân dân các xã quản lý 114,61 ha;
  • Khu vực hộ gia đình, cá nhân chỉ trực tiếp quản lý 10,63 ha (chiếm chưa đầy 1% tổng quỹ rừng).

Trong giai đoạn 2017–2019, công tác bảo vệ rừng đã đạt được những bước tiến tích cực: tổ chức 10 lớp tập huấn, 25 cuộc tuyên truyền thu hút 35.000 lượt người tham gia, ký kết cam kết bảo vệ rừng định kỳ với 100 hộ dân và 20 thôn mỗi năm. Số vụ vi phạm lâm luật giảm đều từ 9 vụ năm 2017 xuống còn 5 vụ năm 2018 và 6 vụ năm 2019, tổng số tiền xử phạt nộp ngân sách nhà nước đạt hơn 642,3 triệu đồng, thu giữ 8,56 m³ gỗ các loại.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân bổ quỹ rừng phản ánh rõ đặc thù sinh thái cảnh quan của thành phố Đồng Hới, phân hóa thành hai vùng rõ rệt: vùng núi đồi phía Tây tập trung 95% diện tích cho chức năng phòng hộ đầu nguồn và dải cát ven biển phía Đông đảm nhận nhiệm vụ phòng hộ chắn gió cát, bảo vệ môi trường du lịch. Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột phân tầng thể hiện mức độ che phủ giữa các đơn vị hành chính và ma trận đối sánh trữ lượng gỗ theo loài cây bản địa (như Lim xanh, Táu, Huỷnh, Nhội).

Nguyên nhân chính dẫn đến chất lượng rừng tự nhiên chưa cao bắt nguồn từ lịch sử khai thác trong quá khứ, khiến phần lớn lâm phần hiện nay đang ở giai đoạn phục hồi thứ sinh. Thêm vào đó, việc tỷ lệ diện tích giao khoán cho hộ gia đình chỉ chiếm 10,63 ha bắt nguồn từ rào cản về cơ chế hưởng lợi chưa đủ hấp dẫn, trong khi suất đầu tư ngân sách cho hoạt động bảo vệ rừng trước đây còn thấp (dao động từ 50.000 đồng đến 2,5 triệu đồng/ha). Điều này tương đồng với các nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế tại khu vực Nam Á và Đông Nam Á: khi cộng đồng địa phương thiếu quyền tiếp cận lợi ích kinh tế trực tiếp từ rừng, tính tự giác và động lực tham gia bảo vệ rừng dài hạn sẽ bị suy giảm. Áp lực chuyển dịch 76,7 ha đất lâm nghiệp sang mục đích xây dựng công trình công cộng trong giai đoạn 2017–2019 cũng đặt ra yêu cầu cấp bách phải rà soát, cắm mốc ranh giới rừng phòng hộ cố định nhằm ngăn chặn triệt để hiện tượng xâm lấn đô thị.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn và phát triển bền vững 4.069,53 ha rừng phòng hộ tại thành phố Đồng Hới, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Thực thi đồng bộ các biện pháp kỹ thuật lâm sinh và làm giàu rừng: Tiến hành khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp trồng bổ sung cây bản địa trên 762,99 ha diện tích đất chưa có rừng. Chuyển dịch cơ cấu cây trồng từ các loài cây mọc nhanh, đơn loài (như Keo tai tượng chiếm 60% diện tích rừng trồng hiện nay) sang các loài cây gỗ lớn bản địa đa tầng tán như Lim xanh, Huỷnh, Giổi, Vạng trứng tại vùng đồi núi và nâng cấp các đai rừng Phi lao lâu năm tại vùng cát ven biển. Mục tiêu nâng tỷ lệ che phủ bình quân của thành phố lên trên 45% và độ tàn che rừng tự nhiên đạt 0,75 vào năm 2030 theo quy chuẩn Thông tư 29/2018/TT-BNNPTNT. (Chủ thể: Chi cục Kiểm lâm và Ban quản lý Rừng phòng hộ).

  2. Cải cách cơ chế giao khoán và nâng cao sinh kế cộng đồng: Mở rộng hạn mức và diện tích giao khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình và nhóm hộ tại các xã Thuận Đức, Đồng Sơn, Bảo Ninh từ 10,63 ha hiện nay lên quy mô 300–500 ha giai đoạn 2025–2028 theo Nghị định 168/2016/NĐ-CP. Lồng ghép nguồn thu từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) từ các nhà máy cấp nước và cơ sở kinh doanh du lịch biển để nâng mức trợ cấp nhận khoán lên trên 400.000 đồng/ha/năm, tạo sinh kế ổn định cho hơn 45 hộ dân sống ven rừng. (Chủ thể: UBND thành phố Đồng Hới và Quỹ Bảo vệ & Phát triển rừng).

  3. Ứng dụng khoa học công nghệ trong giám sát và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR): Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số GIS tích hợp bản đồ viễn thám để theo dõi tự động biến động 5.900,75 ha đất lâm nghiệp. Lắp đặt 10 điểm camera cảnh báo cháy sớm chuyên dụng tại các sườn đồi xung yếu xã Thuận Đức, kết hợp tu bổ 110 biển cấm lửa và 10 bảng tin tuyên truyền nhằm duy trì chế độ trực 24/24 trong suốt các tháng cao điểm mùa khô hạn. (Chủ thể: Hạt Kiểm lâm thành phố và Ban chỉ huy PCCCR cơ sở).

  4. Tăng cường thể chế phối hợp và nghiêm trị vi phạm pháp luật: Kiện toàn Quy chế phối hợp liên ngành số 818/QCPH/KL-CA-QS-BĐBP giữa Kiểm lâm, Công an, Quân sự và Biên phòng trong các đợt tuần tra truy quét lâm tặc. Duy trì 100% tỷ lệ thôn, tổ dân phố ký cam kết bảo vệ rừng tại 20 thôn trọng điểm hàng năm, đảm bảo 100% các vụ vi phạm khai thác, lấn chiếm đất rừng phòng hộ đều bị lập hồ sơ xử lý hành chính kịp thời. (Chủ thể: UBND các xã, phường và Hạt Kiểm lâm).

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và thực tiễn phong phú cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp và lâm nghiệp (Sở Nông nghiệp & PTNT, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình, UBND thành phố Đồng Hới): Tài liệu cung cấp nguồn số liệu chuẩn xác về hiện trạng 4.069,53 ha rừng phòng hộ và hệ thống bản đồ phân bổ 3 loại rừng, phục vụ trực tiếp cho công tác lập quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp đô thị giai đoạn 2021–2030 tầm nhìn 2050.

  • Ban quản lý rừng phòng hộ, Công ty TNHH Lâm công nghiệp Long Đại và các đơn vị vũ trang: Các đơn vị chủ rừng có thể ứng dụng trực tiếp quy trình kỹ thuật chuyển đổi từ rừng trồng keo thuần loài sang mô hình rừng phòng hộ bản địa đa loài (Lim, Huỷnh, Giổi) và áp dụng phương án tuần tra, phòng chống cháy rừng trên quy mô 3.519,11 ha được giao quản lý.

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường: Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu xã hội học lâm nghiệp (bộ công cụ PRA với cỡ mẫu 50 phiếu phỏng vấn) và ứng dụng phân tích ma trận SWOT mở rộng trong lượng hóa các tác động chính sách lâm nghiệp cấp huyện/thành phố.

  • Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và các chương trình dự án phát triển sinh thái bền vững: Nguồn cơ sở dữ liệu thực địa về sinh kế cộng đồng tại 5 xã nghiên cứu giúp các tổ chức thiết kế các dự án tài trợ bảo tồn đa dạng sinh học dải ven biển miền Trung và hỗ trợ phát triển mô hình du lịch sinh thái rừng kết hợp biển.

Câu hỏi thường gặp

Hệ thống rừng phòng hộ thành phố Đồng Hới có quy mô và cơ cấu trạng thái như thế nào? Tổng diện tích rừng phòng hộ của thành phố là 4.069,53 ha, chiếm gần 70% tổng quỹ đất lâm nghiệp toàn đô thị. Cơ cấu bao gồm 2.494,80 ha rừng tự nhiên (chiếm 61,30%), 811,74 ha rừng trồng (chiếm 19,95%) và 762,99 ha đất chưa có rừng (chiếm 18,75%), phần lớn tập trung chức năng phòng hộ đầu nguồn và chống cát bay ven bờ biển.

Vì sao diện tích giao khoán rừng phòng hộ cho hộ gia đình tại Đồng Hới hiện nay còn rất thấp? Hiện tại, hộ gia đình chỉ trực tiếp quản lý 10,63 ha (chiếm chưa đầy 1% tổng diện tích rừng phòng hộ). Nguyên nhân do phần lớn đất rừng đã được bàn giao tập trung cho Ban quản lý chuyên trách (3.394,89 ha), đồng thời các chính sách hưởng lợi kinh tế và mức hỗ trợ nhận khoán trước đây chưa đủ sức khuyến khích người dân gắn bó lâu dài với rừng phòng hộ.

Giải pháp kỹ thuật lâm sinh nào được ưu tiên để nâng cao chất lượng rừng phòng hộ đầu nguồn? Đề tài đề xuất thực hiện khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung các loài cây bản địa như Lim xanh, Huỷnh, Táu, Giổi theo Thông tư số 29/2018/TT-BNNPTNT. Giải pháp này giúp chuyển đổi các lâm phần nghèo kiệt thành thảm thực vật đa tầng có độ tàn che đạt từ 0,7 đến 0,8, tối ưu hóa khả năng giữ nước và điều hòa dòng chảy mùa cạn.

Hiệu quả công tác thực thi pháp luật và bảo vệ rừng giai đoạn 2017–2019 diễn biến ra sao? Nhờ sự phối hợp đồng bộ giữa lực lượng Kiểm lâm, Công an và Quân đội, số vụ vi phạm lâm luật giảm dần qua các năm với tổng cộng 20 vụ vi phạm hành chính được xử lý, thu nộp ngân sách 642,3 triệu đồng. Không có điểm nóng hình sự phức tạp xảy ra và 100% trong số 20 thôn trọng điểm đều duy trì ký cam kết bảo vệ rừng hàng năm.

Mức độ che phủ rừng giữa các xã vùng đồi núi và vùng ven biển có sự chênh lệch như thế nào? Tỷ lệ che phủ rừng phân hóa rất sâu sắc: xã Thuận Đức ở vùng đồi núi đầu nguồn đạt tỷ lệ che phủ cao nhất toàn thành phố với 59,37% (sở hữu 2.017,19 ha rừng tự nhiên), trong khi xã ven biển Bảo Ninh chỉ đạt 16,68% độ che phủ do phần lớn diện tích là cồn cát trắng ven biển với 32,88 ha rừng Phi lao.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định vai trò sống còn của 4.069,53 ha rừng phòng hộ đối với an ninh sinh thái, nguồn nước sinh hoạt và cảnh quan du lịch của đô thị Đồng Hới.
  • Thực trạng 2.494,80 ha rừng tự nhiên thứ sinh và tổng trữ lượng 272.486 m³ gỗ đòi hỏi các giải pháp lâm sinh làm giàu rừng bằng cây bản địa nhằm nâng cao độ tàn che lên 0,75.
  • Cần tháo gỡ điểm nghẽn về quyền quản lý đất rừng thông qua việc mở rộng diện tích giao khoán cho hộ gia đình vượt mốc 10,63 ha hiện nay, gắn với nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng.
  • Ứng dụng công nghệ GIS, viễn thám và mạng lưới camera giám sát nhiệt là điều kiện tiên quyết để quản lý bền vững 5.900,75 ha đất lâm nghiệp và ngăn ngừa nguy cơ cháy rừng mùa khô.
  • Lộ trình 2025–2030 cần tập trung phủ xanh toàn bộ 762,99 ha đất chưa có rừng và hoàn thiện thể chế phối hợp liên ngành cấp cơ sở.

Chính quyền thành phố Đồng Hới và các đơn vị chủ rừng cần sớm phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững, bố trí nguồn lực ngân sách thỏa đáng để hiện thực hóa các khuyến nghị của luận văn, góp phần xây dựng thành phố Đồng Hới trở thành đô thị du lịch sinh thái xanh, an toàn và phát triển bền vững trước biến đổi khí hậu.