Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về gỗ Keo tai tượng * Đặc điểm [6] Keo tai tượng (Acacia mangium Willd), tên đồng nghĩa (Racospermamangium (Willd) Pedley (1987). Tên địa phương Brown salwood, black wattle, hickory wattle (En). Tên phổ thông ở, Indonesia: Tongke hutan, mangge hutan.
Thái lan: Krathin thepha. Phân bố: Keo tai tượng được thấy ở đảo Sula, Seram, Aru, các tỉnh miền Tây của Papua New Guinia và miền Đông Bắc Quennland, đã được trồng rải rác ở vùng Malesian, đặc biệt là ở Sabah và peninsula của Malaisia. Keo tai tượng được nhập vào Việt Nam từ những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XIX và hiện nay được trồng ở hầu hết các tỉnh ở trong nước. Đặc điểm nhận biết: Cây gỗ trung bình đến cây gỗ lớn, có cây cao đến 35m, chiều cao dưới tán cao tới 20m, đường kính có thể đạt đến 90cm.
Bề mặt vỏ gần gốc bị nứt, vỏ mầu nâu xám đến nâu đậm, lớp vỏ phía trong nâu nhạt. Tán hình trứng hoặc hình tháp, thường phân cành thấp, cành nhỏ có cạnh nhẵn, màu xanh lục. Trên cây mầm có lá kép lông chim 2 lần, cuống lá thường bẹt. Cây trưởng thành có dạng lá đơn, phiến lá hình trứng hoặc trái xoan dài, đầu lá có mũ lồi tù, chiều dài của lá dài từ 15-25cm, chiều rộng từ 5- 10cm, khá dầy, 2 mặt lá xanh đậm có 4 gân dọc song song nổi rõ.
Hoa tự hình bông dài gần bằng lá, mọc lẻ hoặc tập trung từ 2-4 hoa tự, ở nách lá, hoa lưỡng tính, tràng hoa màu vàng, nhị nhiều vươn dài ra ngoài hoa. Quả đậu xoắn, hạt hình trái xoan, màu đen, hơi dẹt. Đặc tính sinh học và sinh thái học: Hầu hết các loài keo sinh trưởng nhanh. Nhiều số liệu điều tra sinh trưởng của cây keo tai tượng cho thấy, Keo tai tượng có thể đạt tăng trưởng đường kính hàng năm trung bình 5 cm và tăng trưởng chiều cao tới 5m trong 4-5 năm đầu.
Số liệu nghiên cứu ghi chép cho 3 thấy, năm đầu tiên cây đạt đến chiều cao 3m và trong năm thứ 2 Keo tai tượng có thể đạt chiều cao trung bình hơn 8m và đường kính bình quân đạt 9cm. Tuy nhiên, tốc độ sinh trưởng của cây giảm nhanh sau 7-8 năm tuổi, cây keo tai tượng không thể vượt quá chiều cao 35 m và đường kính 35 cm. Ở Sabah cây keo tai tượng ở tuổi 14 chiều cao chỉ đạt 30 m và đường kính đạt 40 cm. Ở vĩnh phú (cũ) cây 4 tuổi cao trung binh 6,8m đường kính đạt 8cm.
Keo tai tượng có thể trồng và phát triển trên nhiều lập địa khác nhau, kể cả vùng đất khô cằn, đất bạc màu. Điều kiện thích hợp nhất đối với loài cây này là ở vùng đất có độ PH = 4-6 và lượng mưa trung bình năm từ 1400 - 2000mm. Cây mọc nhanh, mọc rất tốt ở đất sâu ẩm và nhiều ánh sáng. Nơi đất cằn cỗi cây mọc chậm và phát tán sớm.
Tuy nhiên, đây là loài cây dễ trồng, nhanh khép tán, có tác dụng che phủ và cải tạo đất tốt. Cấu tạo: [12] - Đặc điểm cấu tạo thô đại: Gỗ lõi có màu hồng đến đen nâu, đôi khi thấy màu nâu cánh gián hoặc nâu xám, phân biệt rõ với gỗ có màu vàng tía đến vàng rơm. Thớ gỗ thường thẳng, đôi khi thấy thớ xoắn. Bề mặt khá mịn và đồng nhất, thỉnh thoảng thấy có dải sọc do có các dải màu sẫm chạy dọc, gỗ có tính phản quang, mạch gỗ khá lớn đến lớn và có thể thấy rõ bằng mắt thường, gỗ không có hiện tượng cấu tạo lớp.
- Đặc điểm cấu tạo hiển vi: Vòng năm không rõ. Mạch gỗ phân tán, số lượng 5,9 - 6,4 mạch/mm², mạch đơn (chiếm 40%) và mạch kép 2-4, đường kính trung bình lỗ mạch 154 µm, lỗ xuyên mạch đơn, lỗ thông ngang xếp so le, miệng lỗ thông ngang hình đa giác, đường kính 6 -9µm, lỗ thông ngang giữa mạch và tia là đôi lỗ thông ngang nửa có vành, không có thể bít. Sợi gỗ dài 1063µm, đường kính trung bình 21,1µm, chiều dày vách 2,38 µm, không có vách ngăn ngang, màng lỗ thông ngang đơn hoặc có vành kích thước nhỏ. Tế bào mô mềm xếp dọc thân cây khá nhiều, ở dạng vây quanh mạch kín hình tròn, thường có từ 2-4 tế bào mô mềm vây kín quanh lỗ mạch, có xu 4 hướng vây quanh mạch hình cánh, đặc biệt với lỗ mạch nhỏ, mỗi dây tế bào mô mềm dọc có 2-4 tế bào.
Tia gỗ rộng 1-2-3 hàng tế bào, cao 0,2-,0,4mm, số lượng 4-6-8 tia/mm, tia gỗ cấu tạo đồng nhất. Tinh thể hình lăng trụ có trong ruột của các tế bào mô mềm xếp dọc thân cây. Gỗ không có silic, phát quang khi có tia cực tím Tính chất: Gỗ keo tai tượng là loại gỗ lá rộng có khối lượng thể tích trung bình, gỗ có hàm lượng Cululose chiếm tổng 78%, alpha Cululose chiếm 46,5%, lignin 27%, pentozan 14% và tro 0,2%, hàm lượng các chất tan trong cồn Benzen 3,8%, trong nước nóng 3,3% và trong xút 13,4%. Công dụng: Gỗ keo tai tượng được dùng trong xây dựng, đóng tàu, làm nội thất và khung hộc, ván mỏng, ngoài ra còn là nguyên liệu rất tốt trong sản xuất ván dăm.
Gỗ keo tai tượng cho bột giấy tốt, có thể so sánh được với gỗ bạch đàn. Ở Australia thí nghiệm nấu sunphát với dăm keo tai tượng rừng trồng 9 năm tuổi cho thấy chỉ cần lượng kiềm trung bình cho hiệu suất bột trên 50%. Hiệu suất bột giấy thậm chí còn đạt cao hơn tới 75%, với quá trình nấu sun phít trung tính nửa hóa học và bột giấy dễ tẩy trắng đạt đến độ trắng dùng cho sản suất giấy chất lượng cao. Triển vọng: Sử dụng gỗ Keo tai tượng trong sản xuất ván dăm và ván sợi có thể tích trung bình (MDF) trong tương lai sẽ tăng và chất lượng ván dăm đáp ứng được yêu cầu cho sản xuất bột giấy và giấy.
Hiện nay, vấn đề mục lõi có thể được hạn chế bằng cách trồng xen loài, lựa chọn, nhân giống hay lai giống. Mức độ mục lõi cao có thể là do mùa mưa ngắn. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới 1.
Tình hình nghiên cứu Keo tai tượng Trong những năm 1980, các loài Keo Acacia đã được đưa vào thử nghiệm ở nhiều nước vì khả năng tốt của chúng, nhất là khả năng cải tạo đất, 5 chống xói mòn, năng suất cao. Khảo nghiệm ở Philippin với 7 loài cho thấy Keo tai tượng có chiều cao đứng thứ 3 ở cả 2 điểm thí nghiệm (Havmoller,1989) Năm 1986, trên đảo Hải Nam - Trung Quốc với 20 xuất xứ của 8 loài keo đã được thực hiện ở tuổi thứ 2. Trong đó Keo tai tượng không nằm trong nhóm loài và xuất xứ dẫn đầu. Sau 2 năm tai tuổi keo tượng sinh trưởng D < 7,4 cm, H<4,7m (Minquan, Ziayu and Yutian, 1989).
Năm 1985, 23 xuất xứ của 12 loài keo đã được khảo nghiệm tại 6 điểm tại Thái Lan (P.chittanchumnonK and SirilaK, 1991). Kết quả cho thấy của 3 năm tuổi tại 2 điểm thí nghiệm: Tại Ratchaouri, keo tai tượng xuất xứ 13846 xếp thứ 9 có chiều cao 7,2m. Tại Saitheng, keo tai tượng không nằm trong 10 xuất xứ dẫn đầu, tại đây loài và xuất xứ dẫn đầu vẫn là Acrassicapa 13683 với chiều cao 18,4m. Khi nghiên cứu vai trò của lá trong việc dâm hom keo tai tượng cho rằng, lá giữ được vai trò chủ chốt trong việc hình thành mô phân sinh của rễ ở các hom chưa hóa gỗ, đặt dưới phun mù, cần cắt đi một phần lá cho hom nhỏ lại, vừa đỡ thoát hơi nước lại tiết kiệm được diện tích dâm cây.
Nghiên cứu sinh trưởng của các loài keo Acacia và một số loài cây khác trên các loại đất hoang hóa tại nhiều khu vực khác nhau ở Ấn Độ. Kết quả khẳng định được tính chất trội và khả năng chịu hạn của một số loài keo sinh trưởng trên đất bạc màu. Thời gian gần đây, loài keo tai tượng ở Inđônêsia đã được dâm hom thành công, phục vụ rừng trồng rừng kinh tế. Theo tác giả Shuen - Chao Wu, (1994).
Đã khẳng định: Gỗ keo tai tượng hoàn toàn có thể sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất ván sợi, bởi vì gỗ keo tai tượng là loại gỗ có ứng suất tách nhỏ, dễ phân ly, có khả năng kết dính tốt bởi các loại keo dán tổng hợp. Theo Hikaru Sasaki, Shuichi Kawai and Ling - Fei Ma, (1994). Gỗ keo tai tượng có thể hoàn toàn có thể sử dụng làm nguyên liệu sản xuất ván dăm định hướng. Đã xác định, mặc dù trong thành phần của gỗ keo tai tượng có chứa nhiều chất màu, tanin, gỗ có màu sẫm v.v, song sợi gỗ của gỗ keo tai tượng lại rất dễ tẩy trắng.
Do đó gỗ keo tai tượng là nguồn nguyên liệu tốt cho công nghiệp sản xuât giấy thông dụng. Vì gỗ keo tai tượng là loại gỗ có chiều dài sợi không lớn (Chiều dài sợi từ 0,7-0,9mm) nên không thể sản xuất các loại giấy có chất lượng cao. Hiện nay trên thế giới có nhiều nơi sử dụng gỗ keo tai tượng để sản xuất giấy. Nghiên cứu về lập địa, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và chất lượng rừng trồng Lập địa rừng trồng cũng là một trong những biện pháp, kỹ thuật lâm sinh quan trọng có ảnh hưởng đến năng suất rừng trồng.
Đối với mỗi lập địa, mỗi loài cây trồng, mỗi mục đích kinh doanh rừng đều có cách sắp xếp, bố trí cây trồng khác nhau. Về vấn đề này đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu với nhiều loài cây khác nhau trên các lập địa khác nhau, điển hình là các công trình nghiên cứu của Julian Evans (1992) khi nghiên cứu mật độ và lập địa trồng rừng cho Bạch đàn E. deglupta ở papua New Guinea đã bố trí theo các lập địa. Số liệu thu được sau 5 năm trồng cho thấy đường kính bình quân của các công thức thí nghiệm cũng có kết quả tăng khác nhau.
Tình hình nghiên cứu và sử dụng keo tai tượng Nghiên cứu loài keo tai tượng được bắt đầu năm 1980. Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (1991), một số xuất xứ của 4 loài keo đã được đưa vào thử nghiệm ở nước ta cho thấy, tiềm năng sinh trưởng đáng khích lệ, ở 2 điạ điểm Ba Vì (Hà Nội), Hóa Thượng (Thái Nguyên), keo tai tượng sinh trưởng khá nhất cả về chiều cao và đường kính. Keo tai tượng đã trở thành loài được ưa chuộng nhất ở nước ta. Vì bên cạnh, nó có khả năng sinh trưởng cao, còn có khả năng duy trì độ phì nhiêu của đất, chống xói mòn.