phần mở đầu, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ hình vẽ, tài liệu tham khảo thì khóa luận gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Phân tích và đánh giá thực trạng khả năng cạnh tranh của Công ty TNHH khai thác container Việt Nam Chƣơng 3: Đề xuất và kiến nghị để nâng cao khả năng cạnh tranh Công ty TNHH khai thác container Việt Nam 3 Khoá luận tốt nghiệp Trƣờng Đại học Dân Lập Hải PHòng CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tƣ bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch Doanh nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế thị trƣờng nên chịu sự chi phối hoạt động của các quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh. Trong nền kinh tế thị trƣờng mọi cá nhân đƣợc tự do kinh doanh, đây chính là nguồn gốc dẫn tới cạnh tranh. Cạnh tranh trên thị trƣờng rất đa dạng và phức tạp giữa các chủ thể có lợi ích đối lập nhau chẳng hạn nhƣ cạnh tranh giữa những ngƣời mua, giữa những ngƣời bán, giữa những ngƣời bán với ngƣời mua, giữa các nhà sản xuất, giữa các doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp nƣớc ngoài….Cạnh tranh phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa tƣ bản chủ nghĩa.
Xét dƣới giác độ các quốc gia thì cạnh tranh có thể đƣợc miêu tả là quá trình đƣơng đầu của các quốc gia này với quốc gia khác. Xét dƣới giác độ ngành kinh tế – kỹ thuật, từ trƣớc đến nay, cạnh tranh đƣợc chia thành 2 loại là cạnh tranh giữa các ngành và cạnh tranh nội bộ ngành. Cạnh tranh giữa các ngành là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực khác nhau nhằm thu đƣợc lợi nhuận lớn và có tỳ suất lợi nhuận cao hơn so với số vốn đã bỏ ra, cùng với đó là việc đầu tƣ vốn vào ngành có lợi nhất cho sự phát triển. Sự cạnh tranh giữa các ngành dẫn đến việc các doanh nghiệp luôn tìm kiếm những ngành đầu tƣ có lợi nhất nên đã chuyển vốn đầu tƣ sang ngành có lợi nhuận cao hơn.
Điều này, vô hình chung đã hình thành nên sự phân phối vốn hợp lý giữa các ngành khác nhau và giúp cho các doanh nghiệp ở các ngành khác nhau có số vốn bằng nhau thì thu đƣợc lợi nhuận ngang nhau. Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm hàng hóa-dịch vụ nào đó. Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn đến sự hình thành nên giá cả thị trƣờng trên cơ sở giá trị xã hội của loại hàng hóa dịch vụ đó. Những doanh nghiệp có lợi thế trong cạnh tranh sẽ 4 Khoá luận tốt nghiệp Trƣờng Đại học Dân Lập Hải PHòng mở rộng quy mô hoạt động của mình trên thị trƣờng, ngƣợc lại những doanh nghiệp kém lợi thế trong cạnh tranh sẽ phải thu hẹp phạm vi kinh doanh, thậm chí còn có thể bị giải thể, phá sản.
Đề cập tới cạnh tranh trong điều kiện nền kinh tế TBCN, K. Mark đã đƣa ra khái niệm: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tƣ bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch”. Nhƣ vậy, khi nghiên cứu cạnh tranh trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, Mark đã coi cạnh tranh là cuộc giành giật các lợi thế để thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch. Tuy nhiên, cũng trong nền kinh tế TBCN, cuốn sách “Từ điển kinh doanh” (xuất bản năm 1992, Anh) lại đƣa ra khái niệm: “Cạnh tranh là sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình” để đề cập tới sự cạnh tranh ở thị trƣờng các yếu tố đầu vào của các doanh nghiệp.
Theo Mác: “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa (TBCN) là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Nghiên cứu sâu về nền sản xuất hàng hoá TBCN và cạnh tranh TBCN, Mác đã phát hiện ra quy luật cạnh tranh cơ bản là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành.( Theo triết học K.Mark – Lenin) Theo Michael Porter thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hƣớng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi (Porter 1980,1998).
Có rất nhiều khái niệm về cạnh tranh, song có thể hiểu một cách chung nhất về cạnh tranh nhƣ sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các doanh nghiệp ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, kể cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt đƣợc mục tiêu kinh tế của mình, thông thƣờng là chiếm lĩnh thị trƣờng, giành lấy khách hàng cũng nhƣ điều kiện sản xuất, thị trƣờng có lợi nhất. Nói tóm lại, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các ngành kinh tế, giữa các quốc gia trong việc giành giật các lợi thế để thực hiện các mục tiêu khác nhau trong từng giai đoạn cạnh tranh nhất định. Cạnh tranh là quy luật của nền kinh tế thị trƣờng, là động lực thúc đẩy sản xuất, lƣu thông hàng hóa phát triển. Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải nhận thức đúng đắn về cạnh tranh để từ đó luôn phát 5 Khoá luận tốt nghiệp Trƣờng Đại học Dân Lập Hải PHòng huy nội lực, tận dụng ngoại lực, nâng cao chất lƣợng phục vụ khách hàng.
Mặt khác tránh cạnh tranh bất hợp pháp làm tổn hại lợi ích của cộng đồng cũng nhƣ làm suy yếu chính mình.2 Khái niệm về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong từng điều kiện, bối cảnh và trình độ phát triển mà có những quan niệm khác nhau. Theo Michael Porter: KNCT đồng nghĩa với năng suất lao động, năng suất lao động là thƣớc đo duy nhất về khả năng cạnh tranh.( Porter 1985,1998) Theo tác giả Vũ Trọng Lâm: KNCT của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. (Vũ Trọng Lâm ,2015) Nhƣ vậy: “KNCT của doanh nghiệp là năng lực về mọi hoạt động của sản xuất kinh doanh của DN nhằm tạo ra những sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ chất lƣợng cao với chi phí thấp, đƣợc thị trƣờng chấp nhận.
Nhờ đó DN có thể tự suy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trƣờng, đảm bảo việc thu lợi nhuận và thực hiện đƣợc những mục tiêu mà DN đã đề ra”. Nếu một doanh nghiệp tham gia thị trƣờng mà không có khả năng cạnh tranh hay khả năng cạnh tranh yếu hơn các đối thủ của nó thì sẽ rất khó khăn để tồn tại và phát triển đƣợc, quá trình duy trì sức mạnh của doanh nghiệp phải là quá trình lâu dài và liên tục. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là cơ sở để đảm bảo khả năng duy trì lâu dài sức mạnh cạnh tranh đó. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đƣợc xác định dựa vào các ƣu thế cạnh tranh của nó.
Ƣu thế mạnh đƣợc hiểu là những đặc tính hoặc những thông số của sản phẩm nhờ đó sản phẩm có đƣợc ƣu việt, sự vƣợt trội hơn so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Các nhân tố tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm: Uy tín: Đánh giá sự tin tƣởng của khách hàng vào doanh nghiệp, tạo đƣợc uy tín tốt đối với khách hàng là cơ sở tạo nên sự quan tâm của khách hàng đến sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu: ảnh hƣởng đến một loại sản phẩm với nhãn hiệu cụ thể của doanh nghiệp. Khả năng thích ứng: Là khả năng thích nghi với sự thay đổi của mô trƣờng kinh doanh của doanh nghiệp để đảm bảo sự tồn tại và phát triển.
6 Khoá luận tốt nghiệp Trƣờng Đại học Dân Lập Hải PHòng Sự linh hoạt, nhạy bén của những người quản lý doanh nghiệp: Sự nhạy bén của những ngƣời quản lý doanh nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nắm bắt đƣợc các cơ hội sản xuất kinh doanh, cơ hội phát triển trên thị trƣờng. Kinh nghiệm kinh doanh trên thương trường: Bao gồm những phƣơng pháp chiến thuật, chiến lƣợc trong kinh doanh. Đây là một tài sản vô hình tạo nên lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Vị thế của doanh nghiệp trên thương trường: Đƣợc đánh giá trên cơ sở uy tín, hình ảnh, thị phần… Những doanh nghiệp có vị thế cao trên thƣơng trƣờng rất thuận lợi trong cạnh tranh.
Những công ty này có khả năng đa dạng hoá sản phẩm, phát triển thị trƣờng để nâng cao khả năng cạnh tranh. Hệ thống đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ: Tiêu chuẩn chất lƣợng mà doanh nghiệp áp dụng nhằm đảm bảo cho chất lƣợng sản phẩm của mình. Qua việc áp dụng các tiêu chuẩn, hệ thống quản lý chất lƣợng sản phẩm, dịch vụ làm cho khách hàng tin tƣởng khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ. Lợi thế về vốn và chi phí: Đây là một nhân tố rất quan trọng khi sản phẩm của các doanh nghiệp trên thị trƣờng là tƣơng đối đồng nhất thì việc giảm giá bán là một biện pháp rất có hiệu quả để tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Các nội dung của nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Cạnh tranh bằng giá cả Giá cả là biểu hiện bằng tiền giá trị của hàng hóa mà ngƣời bán hay doanh nghiệp dự định có thể nhận đƣợc từ ngƣời mua thông qua việc trao đổi hàng hóa đó trên thị trƣờng. Giá cả của một sản phẩm trên thị trƣờng đƣợc hình thành thông qua quan hệ cung cầu.