Chương 1: Giới thiệu ñề tài. Trong chương này, tác giả giới thiệu tổng quát về ñề tài nghiên cứu, bao gồm lý do chọn ñề tài, mục tiêu, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa ñề tài và kết cấu luận văn. - Chương 2: Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Trong chương này, tác giả tóm tắt các nghiên cứu trước ñó về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trong chương này, tác giả trình bày phương pháp thu thập, phương pháp xử lý và nguồn dữ liệu ñể thực kiểm ñịnh mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng trong dài hạn, trong ngắn hạn. - Chương 4: Kiểm ñịnh thực nghiệm mối quan hệ lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Trong chương này, tác giả trình bày thực trạng tình hình lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong gian ñoạn từ năm 1995 ñến quý 2 năm 2013.
ðồng thời, bằng cách sử dụng các phương pháp xử lý số liệu, phương pháp kiểm ñịnh ñã trình bày trong chương 3 ñể kết luận về mối quan hệ này. 4 - Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Ở chương này, tác giả tổng kết lại vấn ñề nghiên cứu, các hạn chế của ñề tài và ñưa ra một số khuyến nghị cho việc ñiều hành chính sách vĩ mô của chính phủ. 5 CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 2.
Tổng quan về lạm phát và tăng trưởng kinh tế 2. Lạm phát Lạm phát là sự tăng lên của mức giá chung theo thời gian trong nền kinh tế (Mankiw, 2010). Theo quan ñiểm này thì lạm phát không phải là hiện tượng giá của một vài hàng hoá nào ñó tăng lên, cũng không phải giá cả chung tăng lên một lần. Như vậy, lạm phát là sự tăng giá liên tục theo thời gian.
Hay nói cách khác, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của ñồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá của một loại tiền tệ này so với các loại tiền tệ khác. Ngược lại với lạm phát là giảm phát. Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì ñược người ta gọi là sự "ổn ñịnh giá cả".
Về mặt tính toán, lạm phát là phần trăm thay ñổi của chỉ số giá chung trong nền kinh tế theo từng giai ñoạn. Có hai chỉ số ñược dùng ñể ño lường lạm phát, ñó là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số GDP ñiều chỉnh. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là tỷ số phản ánh giá cả của một rổ hàng hoá trong nhiều năm so với năm gốc. Nghĩa là, rổ hàng hoá ñược lựa chọn không thay ñổi qua nhiều năm.
Chỉ số GDP ñiều chỉnh phản ánh giá của một ñơn vị sản lượng ñiển hình so với giá trong năm cơ sở. Chỉ số này còn ñược gọi là chỉ số ñiều chỉnh giá ngầm ñịnh của GDP, là tỷ lệ giữa GDP danh nghĩa và GDP thực tế. Trong ñó, GDP danh nghĩa phản ánh giá trị của hàng hoá và dịch vụ tính theo giá hiện hành và GDP thực tế phản ánh giá trị của hàng hoá, dịch vụ tính theo giá cố ñịnh của năm cơ sở. Tuỳ vào tình hình cụ thể của mỗi quốc gia mà sử dụng chỉ tiêu ño lường lạm phát cho thích hợp.
Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thực tế tổng sản phẩm quốc nội (GDP-Gross Domestic Product) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP-Gross National Product) 6 hoặc sản phẩm quốc dân ròng (NNP –Net national Product) trong một thời gian nhất ñịnh. Các nhà kinh tế thường sử dụng chỉ tiêu GDP ñể ño lường tăng trưởng kinh tế. Trong ñó, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng ñược sản xuất ra trong phạm vi quốc gia trong một thời kỳ nhất ñịnh. GDP phản ánh năng lực sản xuất của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất ñịnh.
ðể ño lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt ñối, tốc ñộ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc ñộ tăng trưởng bình quân hằng năm trong một giai ñoạn. Theo ñó, mức tăng trưởng tuyệt ñối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai thời kỳ cần so sánh. Tốc ñộ tăng trưởng kinh tế ñược tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế thời trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước. Tốc ñộ tăng trưởng kinh tế ñược thể hiện bằng ñơn vị %.
Nếu quy mô kinh tế ñược ño lường bằng GDP danh nghĩa thì sẽ có tốc ñộ tăng trưởng GDP danh nghĩa. Còn nếu quy mô kinh tế ñược ño lường bằng GDP thực tế thì sẽ có tốc ñộ tăng trưởng GDP thực tế. Thông thường, tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩa. Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế vẫn là một tranh cãi về lý thuyết lẫn những nghiên cứu thực nghiệm.
Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu cho thấy lạm phát và tăng trưởng kinh tế không phải là quan hệ một chiều, mà có tác ñộng qua lại lẫn nhau. Theo lý thuyết tăng trưởng cổ ñiển, trong ñó, Adam Smith là người ñặt nền tảng cho mô hình tăng trưởng cổ ñiển, lý thuyết này dựa vào bên Cung của nền kinh tế với hàm sản xuất có biến phụ thuộc là sản lượng (Y) và các biến ñộc lập bao gồm lao ñộng (L); máy móc thiết bị (K) và ñất ñai (T). Hàm sản xuất có dạng: Y = f (L, K, T). Các yếu tố dẫn tới tăng trưởng trong mô hình Cổ ñiển ñó là tăng dân số, tăng ñầu tư và tăng ñất ñai sử dụng vào sản xuất.
Adam Smith cho rằng tăng trưởng là quá trình tự củng cố bởi nền kinh tế vận hành theo quy luật lợi nhuận tăng theo quy 7 mô và xác ñịnh tiết kiệm như “người tạo lập” của ñầu tư, từ ñó dẫn tới tăng trưởng. Phân phối thu nhập là yếu tố quan trọng nhất quyết ñịnh tốc ñộ tăng trưởng nhanh hay chậm của nền kinh tế. Các nhà kinh tế theo Trường phái Cổ ñiển cho rằng lợi nhuận của các nhà sản xuất suy giảm không phải do suy giảm năng xuất cận biên mà do sự cạnh tranh giữa tư bản và người lao ñộng dẫn tới tăng tiền lương người lao ñộng. Lý thuyết tăng trưởng cổ ñiển không xác ñịnh rõ mối liên hệ giữa lạm phát với ảnh hưởng của thuế tới lợi nhuận và tăng trưởng.
Tuy vậy mối liên hệ giữa lạm phát và tăng trưởng ñược ngầm hiểu là mối quan hệ tỷ lệ nghịch:tăng chi phí trả lương làm giảm lợi nhuận của nhà sản xuất và dẫn tới giảm sản lượng. Lý thuyết tổng quát của Keynes ra ñời từ thực tế cuộc ðại suy thoái kết hợp với kết quả của hơn nửa thế kỷ phát triển ý tưởng cân bằng tổng thể. Lý thuyết của John M. Trong ngắn hạn, ñường Tổng cung AS có hệ số góc dương và nhỏ hơn 900, vì vậy khi có những thay ñổi bên cầu sẽ tác ñộng vào lạm phát và sản lượng GDP.
Cơ chế ñiều chỉnh trong ngắn hạn của lý thuyết Keynes chia làm hai giai ñoạn: giai ñoạn ñầu, lạm phát và sản lượng ñều tăng – lạm phát và sản lượng có mối quan hệ ñồng biến. Giai ñoạn hai, lạm phát tiếp tục tăng nhưng sản lượng GDP không tăng, thậm chí giảm và sau ñó lạm phát cũng sẽ giảm. Theo mô hình này, trong ngắn hạn sẽ có sự ñánh ñổi giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên sự ñánh ñổi này không diễn ra thường xuyên vì khi sản lượng giảm xuống dưới mức sản lượng tiềm năng, lạm phát cũng sẽ giảm. Trong dài hạn, ñường Tổng cung (AS) là ñường thẳng ñứng với hệ số góc bằng 900, vì vậy những thay ñổi bên Cầu của nền kinh tế chỉ tác ñộng vào giá cả và gây nên lạm phát.
Còn các nhà kinh tế theo Trường phái Trọng tiền, ñi ñầu là Milton Friedman, quan tâm ñến nét ñặc trưng bên Cung của nền kinh tế trong dài hạn. Những người theo trường phái này tin rằng trong ngắn hạn, bất kỳ một tác ñộng nào qua chính sách tài khóa và tiền tệ làm thay ñổi tổng cầu, thay ñổi sản lượng và việc làm là không thực tế, những lợi ích trong dài hạn phải ñược ưu tiên hơn trong ngắn hạn, Trường phái này dựa vào Lý thuyết lượng tiền ñể giải thích nguyên nhân gây nên lạm phát. Có 8 một số dạng mô tả Lý thuyết lượng tiền, chúng có bản chất giống nhau, chỉ khác nhau về cách thức thể hiện, dạng thức ñơn giản là phương trình Cambridge mô tả thị trường tiền tệ cân bằng khi cung tiền (Ms) bằng Cầu tiền (Md), phương trình Cambridge ñược viết như sau: Ms = k. Bên phải của phương trình biểu thị nhu cầu về tiền của nền kinh tế, với biến P biểu thị mức giá chung của toàn bộ nền kinh tế; Y là tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá so sánh và k là hằng số, Cung tiền là biến ngoại sinh, ñược xác ñịnh qua chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương.
Trong lý thuyết lượng tiền, các nhà kinh tế theo trường phái này giả sử Y không ñổi và nhu cầu về tiền của nền kinh tế là một tỷ lệ cố ñịnh của GDP theo giá hiện hành. Lý thuyết về lượng tiền chỉ rõ khi Cung tiền tăng sẽ dẫn tới tăng giá của nền kinh tế, nói cách khác, lạm phát là sản phẩm của cung tiền tăng cao hơn tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế. Nghĩa là, trong dài hạn, giá cả bị ảnh hưởng bởi cung tiền chứ không thực sự tác ñộng lên tăng trưởng kinh tế. Nếu cung tiền tăng nhanh hơn tốc ñộ tăng trưởng kinh tế thì lạm phát tất yếu sẽ xảy ra.
Nếu giữ cung tiền và hệ số tạo tiền ổn ñịnh thì tăng trưởng cao sẽ làm giảm lạm phát. Trong tác phẩm bất hủ: “Lịch sử tiền tệ của Hợp chủng quốc Hoa kỳ 1817-1960” Milton Friedman và Anna Schwart ñã viết: “Vấn ñề tiền tệ và giải thích những biến ñộng về giá cả, sản lượng, việc làm luôn tìm thấy từ biến ñộng của tiền tệ, Chính phủ chịu trách nhiệm về những biến ñộng tiền tệ này”.