đặt vấn đề cưỡng chế thi hành, nên bên đương sự nào không chấp nhận phán quyết của trọng tài thì có thể kiện ra Tòa kinh tế theo thủ tục giải quyết các vụ án. Phân loại trọng tài thương mại Trọng tài vụ việc (Ad-hoc) là loại hình xuất hiện sớm nhất và rất phổ biến trên thế giới. Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tại được lập ra để giải quyết những tranh chấp cụ thể khi có yêu cầu và tự giải thể khi giải quyết xong những tranh chấp đó. Theo khái niệm tại trọng tài và các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn do Trung tâm Thương mại Quốc tế UNCTAD/WTO – Geneva: ITC thì: “Trọng tài vụ việc có nghĩa là trọng tài không được tiến hành theo quy tắc của một tổ chức Trọng tài thường trực.
Do các bên không bắt buộc phải tiến hành Trọng tài theo quy tắc của một tổ chức Trọng tài thường trực nên họ có thể tự do quy định quy tắc tố tụng riêng. Nói cách khác, Trọng tài vụ việc là trọng tài tự tiến hành (do it yourself arbitration).” Trọng tài vụ việc là loại hình trọng tài chỉ có tính chất lâm thời, không có trụ sở và bộ máy cố định và không lệ thuộc vào bất cứ một quy tắc xét xử nào. Về nguyên tắc, các bên đương sự khi yêu cầu trọng tài Ad-hoc xét xử có quyền lựa chọn thủ tục, các phương thức tiến hành tố tụng. Tính chất của trọng tài vụ việc là hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên đương sự, do vậy, trọng tài vụ việc có một số đặc điểm sau: Một là, các bên có quyền lựa chọn TTV không bị giới hạn vào một danh sách trọng tài có sẵn như ở hình thức trọng tài quy chế.
TTV có thể là bất cứ ai mà các bên tín nhiệm. Thông thường đó là các luật gia, luật sư, giáo sư các trường đại học, các thương gia có uy tín, chuyên gia hàng đầu trong nhiều lĩnh vực như ngoại thương, đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xây dựng, công nghệ thông tin, sở hữu công lOMoARcPSD|15547689 nghiệp. Họ là những người vừa có kiến thức về pháp lý lại vừa có kinh nghiệm trong hoạt động thương mại. Hai là, các bên cũng có toàn quyền trong việc xác lập quy chế tố tụng như cách thiết lập HĐTT và thủ tục giải quyết thích hợp với từng vụ tranh chấp.
Các bên sẽ tự tổ chức HĐTT, tự thỏa thuận quá trình tố tụng. Hoạt động trọng tài không lệ thuộc vào bất cứ quy tắc xét xử nào miễn là bảo đảm được nguyên tắc xét xử khách quan, vô tư và đúng pháp luật. Trọng tài vụ việc là hình thức tổ chức đơn giản, khá linh hoạt và mềm dẻo về phương thức hoạt động nên nói chung phù hợp với những tranh chấp ít tình tiết phức tạp, có nhu cầu giải quyết nhanh chóng và nhất là các bên tranh chấp có kiến thức và hiểu biết pháp luật cũng như kinh nghiệm tranh tụng. Nhưng, trên thực tế, đây là một quá trình tốn thời gian nhằm thảo ra những quy định đặc biệt dành riêng cho trọng tài vụ việc.
Thông thường hình thức này được áp dụng với TTTM quốc tế, phù hợp với những trường hợp mà thiệt hại lớn, đặc biệt trong những vụ việc có liên quan tới chủ thể là một quốc gia hay một tổ chức quốc gia có liên quan và các vấn đề thuộc chính sách và quyền lực công có thể phát sinh. Thông qua trọng tài vụ việc, có thể tạo ra thủ tục về tố tụng có lợi cho cả hai bên, mà vẫn đạt được những yêu cầu đặt ra trong những vụ việc nhạy cảm có liên quan đến một bên chủ thể là quốc gia. Trước khi Pháp lệnh TTTM 2003 ra đời, ở Việt Nam, trọng tài vụ việc chỉ được thừa nhận để giải quyết các tranh chấp quốc tế. Điều này được quy định trong nhiều văn bản pháp lý khác nhau như: Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật hàng không dân dụng, Pháp lệnh chuyển giao công nghệ…Pháp lệnh TTTM 2003 lần đầu tiên quy định tương đối cụ thể về Trọng tài vụ việc, cho phép Trọng tài vụ việc giải quyết tất cả các tranh chấp phát sinh kể cả tranh chấp quốc tế và trong nước miễn là các bên đương sự thỏa thuận lựa chọn.
Pháp lệnh quy định về việc chọn TTV để thành lập HĐTT, thủ tục tố tụng, việc hủy quyết định trọng tài, việc thi hành quyết định của trọng tài vụ việc tương tự như trọng tài quy chế. Hiện nay, Luật TTTM 2010 được ban hành trên cơ sở kế thừa những quy định của Pháp lệnh TTTM 2003 và bổ sung thêm một số quy định mới về trọng tài vụ việc như việc lOMoARcPSD|15547689 đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc. Những quy định này là cơ sở vững chắc để Trọng tài vụ việc hoạt động song song với trọng tài quy chế và tòa án. Trọng tài quy chế là những trọng tài có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có trụ sở cố định, có danh sách TTV và hoạt động theo điều lệ riêng, được thành lập để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại.
Phần lớn các tổ chức trọng tài lớn, có uy tín riêng trên thế giới đều được thành lập theo mô hình này dưới các tên gọi như: Trung tâm trọng tài (như Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapo (SIAC), Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế của Australia, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Hồng Kông…), các Hiệp hội trọng tài (Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ (AAA), Hiệp hội Trọng tài Thương mại Nhật Bản) hay các Viện trọng tài (Viện Trọng tài Stockhom của Thụy Điển, Viện Trọng tài Singapo, Viện trọng tài Luân Đôn). Các tổ chức này tồn tại độc lập, không nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước và hoạt động một cách thường xuyên, sẵn sàng giải quyết các tranh chấp khi các đương sự yêu cầu. Tuy nhiên cũng có một số ngoại lệ tồn tại trong pháp luật trọng tài ở một số nước Châu Á như Trung Quốc và Thái Lan. Ở Trung Quốc, các Ủy ban Trọng tài Kinh tế là cơ quan nhà nước thuộc Cục Quản lý Hành chính Công thương các cấp.
Ở Thái Lan, Viện trọng tài trực thuộc Bộ Tư pháp, có quy tắc tố tụng riêng nhằm hỗ trợ, phát triển các hoạt động hòa giải và trọng tài. Ở Việt Nam, trọng tài thường trực hay trọng tài quy chế là hình thức được pháp luật ghi nhận trước. Ngay từ năm 1963, trọng tài thường trực đã ra đời. Đó là Hội đồng trọng tài ngoại thương được tổ chức theo Nghị định số 59/NĐ-CP ngày 30/04/1963 và Hội đồng trọng tài hàng hải được tổ chức theo NĐ 153 ngày 05/10/1964 của Hội đồng chính phủ.
Đến năm 1993, theo Quyết định số 204/QĐ-TTg ngày 28/04/1993 của thủ tướng chính phủ, cho phép thành lập Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, trên cơ sở hợp nhất Hội đồng Trọng tài Ngoại thương và Hội đồng Trọng tài Hàng hải. Đồng thời với việc ban hành nghị định 116/NĐ-CP ngày 05/09/1994 về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế cũng cho ra đời các trung tâm trọng tài là những tổ chức trọng tài thường trực. Các Trung tâm trọng tài kinh tế đã mang dáng dấp của một tổ chức phi chính phủ, có Điều lệ lOMoARcPSD|15547689 và con dấu nhưng vẫn chưa có tư cách pháp nhân. Điều lệ của các Trung tâm trọng tài kinh tế cần được sự chuẩn y của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, các TTV trong danh sách TTV phải do Hội đồng xét chọn TTV do Bộ Tư pháp thành lập, xét duyệt và được Bộ trưởng Bộ tư pháp công nhận và cấp thẻ TTV có thời hạn hai năm.
Đến Pháp lệnh TTTM 2003, TTTM được chính thức thừa nhận là tổ chức phi Chính phủ, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, danh sách TTV do tổ chức trọng tài tự lựa chọn. Quy định này tiếp tục được ghi nhận trong Luật TTTM năm 2010. Như vậy, Luật TTTM năm 2010 cũng phân loại TTTM thành hai hình thức, đó là trọng tài vụ việc và trọng tài quy chế. Đây cũng là một điểm mới của Luật TTTM năm 2010 khi không gọi trọng tài thường trực như trong Pháp lệnh TTTM năm 2003 mà thay bằng trọng tài quy chế.
Nhìn chung, sự thay đổi này chủ yếu là thay đổi về tên, còn về bản chất thì loại hình trọng tài này không khác biệt đáng kể. Tổng quan về phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài 1. Lịch sử hình thành và phát triển của phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, TTTM, với tư cách là một cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài toà án, đã và đang góp phần không nhỏ vào sự ổn định của hoạt động thương mại trên thế giới. Chế định trọng tài du nhập vào hệ thống pháp luật nước ta từ cuối thế kỷ XIX.
Trong một tranh chấp đất đai năm 1897, Tòa thượng thẩm Sài Gòn xét rằng “trọng tài được thừa nhận trong pháp luật An Nam”. Trong thời gian này, các bộ luật dân sự rồi toà án thương mại lần lượt ra đời. Như vậy, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chế định trọng tài đã là một phần trong pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bối cảnh xã hội đương thời không thuận lợi cho sự phát triển của mô hình trên.
Do đó, về cơ bản, trọng tài không có tác động đáng kể đến xã hội Việt Nam trong giai đoạn này. Những sự kiện lịch sử diễn ra vào giữa thế kỷ XX đã làm thay đổi vận mệnh quốc gia, trong đó có hệ thống pháp luật. Cùng với chế độ hợp đồng kinh tế, các tổ lOMoARcPSD|15547689 chức trọng tài kinh tế được hình thành tuy mang nét khác biệt cơ bản so với TTTM hiện đại. Bên cạnh đó, còn tồn tại trọng tài phi chính phủ, đó là Hội đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải Việt Nam.
Tuy nhiên, hai tổ chức trên chỉ thực sự hoạt động từ năm 1989 khi quan hệ ngoại thương bắt đầu phát triển. Sau đó chúng được sáp nhập thành Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam theo Quyết định số 204/TTg ngày 28/03/1993 của Thủ tướng Chính phủ. Bước vào thời kỳ hội nhập, diện mạo pháp luật nước ta có sự thay đổi. Lúc này tồn tại song song hai hệ thống cùng có chức năng giải quyết tranh chấp kinh tế là trung tâm trọng tài kinh tế và tòa án kinh tế.
Ngoài ra, tồn tại hai mô hình trọng tài phi Chính phủ khác nhau.