Luận văn thạc sĩ kinh tế: Những nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu hệ thống thông tin kế toán tại doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bến Tre - Nguyễn Thị Thanh Thảo, ĐH Kinh tế TP.HCM, 2019

Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu hệ thống thông tin kế toán tại doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bến Tre, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

159
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tính hữu hiệu HTTTKT tại DNNVV Bến Tre

Hệ thống thông tin kế toán (HTTTKT) là tập hợp các thành phần liên kết thu thập, lưu trữ, xử lý và cung cấp thông tin kế toán phục vụ quản lý doanh nghiệp. Tính hữu hiệu HTTTKT là mức độ hệ thống đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, hỗ trợ ra quyết định và tuân thủ quy định pháp luật. Tại tỉnh Bến Tre, DNNVV chiếm hơn 95% tổng số doanh nghiệp, chủ yếu hoạt động trong nông nghiệp, thương mại và dịch vụ, có quy mô nhỏ, nguồn lực hạn chế. Nhiều doanh nghiệp chưa đầu tư đúng mức vào HTTTKT, dẫn đến thông tin kế toán chậm trễ, sai lệch, không hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động quản lý.

1.1. Khái niệm tính hữu hiệu HTTTKT

Tính hữu hiệu HTTTKT được đánh giá qua 3 tiêu chí chính: độ chính xác của thông tin, tính kịp thời khi cung cấp thông tin và mức độ hỗ trợ ra quyết định quản lý. Đối với DNNVV, tính hữu hiệu còn phụ thuộc vào sự phù hợp của hệ thống với quy mô hoạt động, nguồn lực tài chính và năng lực nhân sự của doanh nghiệp. Một HTTTKT hữu hiệu giúp giảm chi phí hoạt động, kiểm soát rủi ro và nâng cao hiệu quả quản lý tổng thể.

1.2. Đặc điểm DNNVV và tầm quan trọng HTTTKT tại Bến Tre

DNNVV Bến Tre có đặc điểm chủ yếu là quy mô vốn nhỏ, số lượng nhân viên ít, nhà quản lý thường đồng thời đảm nhiệm nhiều vai trò. HTTTKT hữu hiệu giúp các doanh nghiệp này theo dõi dòng tiền, kiểm soát chi phí sản xuất kinh doanh, tuân thủ quy định kế toán và thuế, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường. Nhiều DNNVV Bến Tre hiện chỉ sử dụng phần mềm kế toán cơ bản hoặc ghi chép thủ công, chưa khai thác hết chức năng của HTTTKT.

II. Phân tích nhân tố ảnh hưởng HTTTKT tại DNNVV Bến Tre

Dựa trên nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Thảo (2019), có 4 nhân tố chính ảnh hưởng đến tính hữu hiệu HTTTKT tại DNNVV Bến Tre: sự tham gia của người sử dụng hệ thống, kiến thức của nhà quản lý, sự hỗ trợ của nhà quản lý và sự hỗ trợ của chuyên gia bên ngoài. Kết quả khảo sát thực tế cho thấy các nhân tố này đều ở mức trung bình đến thấp, là nguyên nhân chính khiến HTTTKT của nhiều DNNVV chưa đạt hiệu quả cao. Nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn khi vận hành hệ thống, không khai thác hết tính năng của phần mềm kế toán.

2.1. Nhân tố nội bộ ảnh hưởng đến HTTTKT

Nhân tố nội bộ bao gồm sự tham gia của người sử dụng hệ thống, kiến thức của nhà quản lý về kế toán và công nghệ thông tin, mức độ hỗ trợ của nhà quản lý cấp cao. Tại DNNVV Bến Tre, nhiều chủ doanh nghiệp thiếu kiến thức về lợi ích của HTTTKT, không ủng hộ đầu tư nâng cấp hệ thống. Nhân sự kế toán thường có kiến thức chuyên môn kế toán nhưng thiếu kỹ năng sử dụng công nghệ, ngại thay đổi quy trình làm việc cũ.

2.2. Nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến HTTTKT

Nhân tố bên ngoài chủ yếu là sự hỗ trợ của nhà cung cấp phần mềm kế toán và chuyên gia tư vấn bên ngoài. Nhiều DNNVV Bến Tre lựa chọn phần mềm kế toán không phù hợp với quy mô hoạt động, không có dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật kịp thời khi gặp sự cố. Thiếu sự tư vấn từ chuyên gia khiến nhiều doanh nghiệp không biết cách tùy chỉnh hệ thống phù hợp với quy trình hoạt động riêng, dẫn đến hiệu quả sử dụng thấp.

III. Giải pháp nâng cao tính hữu hiệu HTTTKT tại DNNVV Bến Tre

Để nâng cao tính hữu hiệu HTTTKT, các DNNVV Bến Tre cần áp dụng các giải pháp phù hợp với đặc điểm nguồn lực hạn chế của mình. Các giải pháp bao gồm nâng cao năng lực nhân sự nội bộ, tăng cường sự hỗ trợ từ nhà quản lý, lựa chọn giải pháp HTTTKT phù hợp và tận dụng nguồn lực tư vấn bên ngoài. Các giải pháp cần tập trung vào tính khả thi, chi phí hợp lý, không yêu cầu đầu tư quá lớn so với năng lực tài chính của DNNVV.

3.1. Giải pháp nâng cao năng lực nội bộ doanh nghiệp

Doanh nghiệp cần tổ chức các buổi đào tạo cơ bản về sử dụng phần mềm kế toán và quy trình ghi nhận thông tin kế toán cho nhân sự phụ trách. Nhà quản lý cần tham gia trực tiếp vào quá trình lựa chọn và vận hành HTTTKT, xây dựng quy định rõ ràng về trách nhiệm sử dụng hệ thống của từng nhân viên. Việc tăng cường sự tham gia của người dùng cuối sẽ giúp giảm kháng cự khi thay đổi quy trình làm việc.

3.2. Giải pháp tận dụng nguồn lực bên ngoài

DNNVV có thể thuê chuyên gia tư vấn độc lập để lựa chọn phần mềm kế toán phù hợp với quy mô hoạt động và ngành nghề kinh doanh. Nên lựa chọn nhà cung cấp phần mềm có dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo lâu dài, chi phí hợp lý. Các đơn vị tư vấn cũng có thể hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng quy trình kế toán phù hợp với hệ thống thông tin, giảm thiểu sai sót trong quá trình ghi nhận giao dịch.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn cho DNNVV Bến Tre

Tính hữu hiệu HTTTKT tại DNNVV Bến Tre phụ thuộc chủ yếu vào 4 nhân tố: sự tham gia của người sử dụng, kiến thức nhà quản lý, sự hỗ trợ của nhà quản lý và sự hỗ trợ của chuyên gia bên ngoài. Việc nâng cao tính hữu hiệu HTTTKT giúp DNNVV cải thiện hiệu quả quản lý, giảm chi phí hoạt động, nâng cao khả năng tuân thủ quy định pháp luật và tăng khả năng cạnh tranh. Các giải pháp đề xuất trong nghiên cứu có thể áp dụng thực tiễn với chi phí hợp lý, phù hợp với đặc điểm của DNNVV trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

4.1. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho các chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa Bến Tre hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của HTTTKT, từ đó có kế hoạch cải thiện phù hợp. Nghiên cứu cũng là tài liệu tham khảo cho các đơn vị tư vấn, nhà cung cấp giải pháp kế toán công nghệ khi triển khai dịch vụ cho DNNVV trên địa bàn, giúp đưa ra giải pháp phù hợp với nguồn lực của doanh nghiệp.

4.2. Hướng phát triển HTTTKT cho DNNVV Bến Tre trong tương lai

Trong thời gian tới, DNNVV Bến Tre có thể áp dụng các công nghệ mới như phần mềm kế toán trên nền điện toán đám mây, tích hợp với hệ thống quản lý bán hàng và quản lý kho để nâng cao hiệu quả hoạt động. Chính quyền tỉnh có thể hỗ trợ thông qua các chương trình đào tạo miễn phí kiến thức kế toán và công nghệ thông tin cho chủ DNNVV, hỗ trợ một phần chi phí đầu tư vào giải pháp HTTTKT chuyên nghiệp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/05/2026
Luận văn kinh tế những nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh bến tre

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 bao gồm: (1) Nghiên cứu trên thế giới, (2) Nghiên cứu tại Việt Nam, (3) Đánh giá các nghiên cứu trước và xác định khe hổng nghiên cứu và hướng nghiên cứu của đề tài. NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI 1. Các nghiên cứu về hệ thống thông tin Mô hình về hệ thống thông tin thành công được được đề xuất đầu tiên trong nghiên cứu của DeLone và Mclean (1992) được công bố trên tạp chí Information Systems Research. Tác giả đã hệ thống 180 nghiên cứu được công bố trước đó để đưa ra các thành phần của hệ thống thông tin thành công bao gồm: chất lượng hệ thống, chất lượng thông tin, sử dụng hệ thống, sự hài lòng của người dùng, tác động cá nhân và tác động tổ chức.

Tiếp tục kế thừa và phát triển mô hình DeLone và Mclean (1992) vào năm 2003 tác giả DeLone và Mclean đã bổ sung các chiều của hệ thống thông tin thành công trong nghiên cứu được công bố trên tạp chí Journal of Management Information Systems. Trong nghiên cứu này, tác giả phân tích từ 285 nghiên cứu trước đó để chỉ ra chiều tác động của thành phần trong hệ thống thông tin thành công: hệ thống thông tin được đánh giá qua chất lượng hệ thống, chất lượng thông tin và chất lượng dịch vụ. Ba nhân tố này có ảnh hưởng trực tiếp đến sử dụng/ ý định sử dụng và sự hài lòng của người dùng. Bên cạnh đó sử dụng/ ý định sử dụng và sự hài lòng của người dùng có mối tác động qua lại với nhau.

Khi sự hài lòng người dùng tăng lên, ý định sử dụng cũng sẽ tăng lên và do đó cũng sẽ ảnh hưởng đến việc sử dụng. Kết quả từ sử dụng và sự hài lòng của người dùng là lợi ích đạt được. Lợi ích ròng sẽ có tác động ngược lại đối với sự hài lòng của người dùng và sử dụng/ ý định sử dụng nhiều hơn đối với hệ thống thông tin. Ngoài ra kết quả 6 nghiên cứu còn cho thấy đo lường lợi ích ròng của cá nhân người dùng và của tổ chức là thang đo lường sự thành công của hệ thống thông tin.

Nghiên cứu của Andrew Burton Jones, Detmar W. Jr (2006) dựa trên việc phân tích 48 nghiên cứu công bố trước đó để thực hiện nghiên cứu “Khái quát hóa việc sử dụng hệ thống: Cách tiếp cận và kiểm tra thực nghiệm” được công bố trên Information Systems Research. Trong nghiên cứu này, tác giả đã kết luận việc sử dụng hệ thống thông tin khác với việc sử dụng thông tin, sử dụng hệ thống là một loạt các công việc xử lý phức tạp gắn liền với người sử dụng bao gồm: nhận thức của người dùng về sự hấp dẫn công nghệ, mức độ sử dụng chuyên sâu của người dùng và hai yếu tố này tác động đến hiệu quả công việc ở mức độ cá nhân. Trong nghiên cứu này tác giả còn chỉ ra yếu tố năng lực của người dùng như: kiến thức kế toán, kiến thức về công việc đảm nhận, sự tự lập khi giải quyết công việc, kinh nghiệm với hệ thống và công việc sẽ tác động đến hiệu quả công việc của người dùng hệ thống.

Các nghiên cứu về vai trò của hệ thống thông tin kế toán Theo các nghiên cứu của Sajady và cộng sự (2008) và Soudani (2012) đã khẳng định hệ thống thông tin kế toán có tác động đến việc cải thiện quá trình ra quyết định, chất lượng thông tin kế toán, kiểm soát nội bộ và tạo điều kiện cho các giao dịch của tổ chức nên nó là một trong những nhân tố quan trọng có tác động đến thành quả của tổ chức. Hệ thống thông tin kế toán đóng một vai trò quan trọng không thể thay thế trong việc nâng cao tính hữu hiệu và hiệu quả các hoạt động trong tổ chức doanh nghiệp đồng thời nó cũng là kênh cung cấp thông tin để hỗ trợ nhà quản lý của tổ chức ra quyết định. Mitchell và cộng sự (2000) cho rằng hệ thống thông tin kế toán được sử dụng như là một công cụ quản lý kiểm soát ngắn hạn và dài hạn của tổ chức, vì thế các nguồn thông tin được cung cấp từ hệ thống thông tin kế toán sẽ giúp nhà quản lý tổ chức đạt được mục tiêu chiến lược của tổ chức cũng như việc vận hành hoạt động của tổ chức thành công. Vai trò của hệ thống thông tin kế toán ngày càng được khẳng định trong các nghiên cứu đã được công bố vì thế muốn tổ chức doanh nghiệp phát triển tốt ta cần xây dựng một hệ thống thông tin kế toán hữu hiệu.

Vì vậy việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống thông tin kế toán đang được nhiều nhà nghiên cứu kinh 7 tế phân tích, thảo luận nhằm tìm ra hướng xây dựng hệ thống thông tin kế toán hữu hiệu. Các nghiên cứu về tính hữu hiệu hệ thống thông tin kế toán Yap và cộng sự (1992) đã thực hiện một nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống thông tin dựa trên máy tính trong các doanh nghiệp nhỏ và tiến hành khảo sát tại 96 doanh nghiệp nhỏ. Trong nghiên cứu này thang đo sự thành công của hệ thống thông tin kế toán là sự hài lòng của người sử dụng thông tin của hệ thống thông tin kế toán. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy: các nhân tố như sự hỗ trợ hữu hiệu của nhà tư vấn, mức độ hỗ trợ của nhà cung cấp, thời gian kinh nghiệm, nguồn lực tài chính đầy đủ, sự hỗ trợ của giám đốc điều hành, sự tham gia của người sử dụng hệ thống có tác động tích cực đến sự thành công của hệ thống thông tin kế toán, mặt khác nhân tố số lượng ứng dụng quản lý và sự hiện diện của chương trình phân tích hệ thống không có sự ảnh hưởng đến sự thành công của hệ thống thông tin kế toán tại doanh nghiệp.

Nicolaou đã thực hiện nghiên cứu “Mô hình ngẫu nhiên về nhận thức tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán: sự phối hợp và kiểm soát của tổ chức”. Mục tiêu nghiên cứu đề ra là xác định mức độ ảnh hưởng của sự phối hợp và kiểm soát của tổ chức đến mức độ tích hợp của hệ thống thông tin kế toán. Trong nghiên cứu này tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán được đo lường bởi sự hài lòng của ngưởi sử dụng hệ thống và chất lượng thông tin đầu ra được kiểm soát hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ phù hợp của hệ thống tích hợp với yêu cầu sự phối hợp và kiểm soát của tổ chức có tác động tích cực đến tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán.

Trong nghiên cứu “Hạn chế về nguồn lực và triển khai hệ thống thông tin trong các doanh nghiệp nhỏ ở Singapore” của Thong (2001), thực hiện khảo sát tại 114 doanh nghiệp nhỏ ở Singapore. Tác giả đã phát triển mô hình triển khai hệ thống thông tin dựa trên lý thuyết nguồn tài nguyên bị hạn chế của Welsh và White và lý thuyết rào cản kiến thức của Attewwell. Kết quả nghiên cứu cho thấy tại doanh nghiệp nhỏ nếu có sự hỗ trợ hiệu quả của chuyên gia bên ngoài, được đầu tư hệ thống thông tin đầy đủ, sự tham gia của người sử dụng cao và sự hỗ trợ cao của nhà quản lý thì sẽ thường có hệ thống thông tin thành công. Trong đó nhân tố sự hỗ 8 trợ hiệu quả của chuyên gia bên ngoài là nhân tố chính ảnh hưởng đến sự thành công của hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp nhỏ.

Trong nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng việc thực hiện hệ thống thông tin kế toán thành công” trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ashari (2008) đã xác định các nhân tố: người dùng hệ thống, sự hỗ trợ của nhà quản lý, sự hỗ trợ của chuyên gia bên ngoài, bối cảnh môi trường hoạt động của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến việc thực hiện hệ thống thông tin kế toán thành công. Kết quả nghiên cứu đã chỉ rõ: nhân tố sự hỗ trợ của chuyên gia bên ngoài có tác động mạnh nhất, kế đến là nhân tố sự hỗ trợ của nhà quản lý còn hai nhân tố người dùng hệ thống và bối cảnh môi trường của doanh nghiệp không có tác động đến việc thực hiện hệ thống thông tin kế toán thành công. Mặt khác trong nghiên cứu còn cho thấy nhân tố sự hỗ trợ của nhà quản lý và nhân tố bối cảnh môi trường có tác động tích cực đến nhân tố người dùng hệ thống. Nghiên cứu thực nghiệm của Ismail (2009) về những nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa ở Malaysia được thực hiện thông qua việc khảo sát bảng câu hỏi được gửi đến 232 doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa.

Ismail dựa vào lý thuyết hạn chế nguồn lực, mô hình chấp nhận công nghệ và kế thừa mô hình hệ thống thông tin thành công của DeLone và Mclean để xây dựng mô hình gồm 8 biến: độ phức tạp của hệ thống thông tin kế toán, sự tham gia của người quản lý, kiến thức hệ thống thông tin kế toán của nhà quản lý, kiến thức kế toán của nhà quản lý, sự hỗ trợ của nhà tư vấn, sự hỗ trợ của nhà cung cấp, sự hỗ trợ của chính phủ và sự hỗ trợ của công ty kế toán. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy kiến thức kế toán của nhà quản lý, sự hỗ trợ của nhà cung cấp và sự hỗ trợ của công ty kế toán có tác động mạnh đến tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán. Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu hệ thống thông tin kế toán 1.1 Nhóm các nghiên cứu về sự tham gia của người sử dụng hệ thống: Jong Min Choe (1996) đã thực hiện một cuộc nghiên cứu ở Hàn Quốc năm 1996 về mối quan hệ của các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu suất hệ thống thông tin kế toán và đánh giá tác động của cấp độ hệ thống thông tin đến mối quan hệ này. Trong nghiên cứu này tác giả đã dùng phương pháp định lượng để kiểm định mô 9 hình nghiên cứu gồm 8 biến là: sự hỗ trợ của nhà quản lý cấp cao, năng lực kỹ thuật của nhân viên hệ thống thông tin, sự tham gia của người sử dụng, việc đào tạo và huấn luyện người sử dụng hệ thống, sự có mặt của ban lãnh đạo, vị trí bộ phận hệ thống thông tin, hình thức hóa phát triển hệ thống, quy mô công ty.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ