Chương 1: Phố cổ Hà Nội và cơ sở lý luận về quản lý và khai thác phố cỗ Hà Nội trong phát triển du lịch Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch tại phố cỗ [14 NGi. Chương 3: Các định hưởng và giải pháp nhằm khai thác hiệu quá việc khai thác du lịch tại phố cỗ Hà Nội đinh alin: ®Đằng (Gh- Giưực - 0áp: (003,0 101 2 Khai thie tuyin phi ob Wa Udi phue vg phat trién du lick CHIƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ QUẢN LÝ VÀ KIIAI THÁC PIHỎ CÔ HÀ NỘI PHỤC VỤ PHAT TRIEN DU LICH 1. Khái niệm phố cố Theo Bán quy ước về việc đặt lên đường, phế, ngõ sũa Tp Hà Nội được UBND Tp Hà Nội ban hành từ năm 1998, việc đặt tên phổ, tên đường được dựa trên vào quy mô, vị trí, tính chất của từng trường hợp.
Cụ thể là: Đặt à phố đối với những đường có quy mô nhỏ và hai bên có những công trình kiển trúc liền tiếp (nhà ở, cửa hàng, của hiệu, trụ sở cơ quan,. ) Theo Bách khoa toàn thư, có viết khu phố cổ Hả Nội la tan gọi thông thường của một khu vực đô thị có từ lâu đời của Hả Nội nằm ở ngoài hoàng thành Thăng Long. Khu đô thị này tập trung dân cư hoạt động tiểu thủ công nghiệp và buôn bán giao thương, hình thành lên những phố nghề đặc trưng, mang những nét truyền thống riêng biết của cư dân thành thị, kinh đô Theo Nha ITà Nội học Nguyễn Vinh Phúc cho rằng: Danh từ Thế cỗ mới xuất hiện từ sau năm 1980, trước đó khi người ta nói dến các khu phố cỗ thì người ta gọi đơn giản là "Phố” hoặc "TIà Nội 36 phố phường”. “Thực ra cách gọi là phố cô cũng không đúng lãm, vỉ trong khu phố ấy nhà cửa cũng chỉ trên 100 năm tuôi, nhưng vị trí thì đã có trên 1000 năm rồi, nên gọi thế để dễ phân biết với khu phd do người Tây xây dựng”.
Trong diễn đàn “ Đi tìm Lên mới cho phố cỗ Hà Nội” trên báo Lao Động năm 2006, nhiều nhà nghiên cứu vê Hà Nội cũng nói đến ý nghĩa của cụm từ “ phổ cổ”. Nhiều kiến trúc sư cho rằng tên “phố cổ” đã không phản ánh đúng hiện thực vì giá trị của phố cổ không chỉ nằm ở œ; ậL thể hữu hình mả cỏn được tau nên bởi các truyền thông sinh hoạt của người đân. Quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu cũng cho rằng tên gọi phố cổ chỉ mang tính ước lệ nhưng đã được ding quen va duoc nhiều người thửa nhận từ nhiễu năm nay. Như vậy, tên gọi “phố cỗ” được hiểu chỉnh xác và đầy đủ nhất phải bảo gồm cã giá trị hữu hình và các giả trị vô hình.
Có nghĩa lả tại phố cỗ phải bảo tổn được các công trinh kiên trúc cố như đình, chia, nha & truyền thống. Và đinh alin: ®Đằng (Gh- Giưực - 0áp: (003,0 101 3 Khai thie tuyin phi ob Wa Udi phue vg phat trién du lick baa lưu được mét truyền thống sinh hoal, văn hóa, lối sống của người dân nơi đây. Nói đến “Phố cố” Hà Nội là nói đến một khu vực pm nhiễu cơn phố, phan ánh những đặc thu lich sử, văn hoá của lIà Nội có từ xa xưa, thể hiện được nét độc đáo riêng bit, đặc thù không thê trộn lẫn của Thũ đô ngàn tuổi 1. Vị trí, giới hạn của khu nhỗ cỗ Hà Nội Theo Quyết định số 70 BXD/KT-QH ngày 30/3/1995 của Bộ Xây dựng, khu phố cổ Hà Nội có phạm vì dược xác định - Phía Bắc: Phố Hàng Đậu - Phía Tây: Phố Phong Hung - Phia Nam: Cac phé Hang Bong, Hang Gai, Cầu Gỗ và Hàng Thing - Phía Đông: Các phố Trần Quang Khải và Trần Nhật Duật.
Toan bộ khu vực trên thuộc địa bản quận Hoàn Kiếm, cỏ tổng điện tích quy hoạch khu phố cỗ khoảng 100ha với 76 tuyển phổ thuộc 10 phường với khoảng 84 ngàn dân (là nơi có mật độ dân số đồng nhất nước). Mười phường có phạm vi thuộc khu phố cổ Hà Nội là: Hàng Đảo, Hang Bac, Hang Budm, Hang Bd, Hàng Béng, [lang Gai, [lang Ma, Đồng Xuân, Cửa Đông, Lý Thái TẾ. Pham vi nghiên cứu quy hoạch được phân chia 2 khu vực bão vệ, tôn tạo đặc trưng như sau: ! Khu bảo vệ tôn tạo cấp 1: giới hạn bởi các phế Ilàng Chiếu,TIàng Đường, Hang Ngang, Hang Bac, Hang Mim va Tran Nhat Duat + Khu bảo vệ tôn tạo cấp 2: phần còn lại trong gianh giới Phố cổ. Đặc trưng nổi tiếng nhất của khu phố cổ là các phố nghề với chính sin phẩm dược buôn bản trớ thành tên phố, bắt dầu bằng chữ "Hàng" dằng trước và kién tric nha cỗ trong khu phố buôn bản.
Năm 2004, khu phổ cổ Hà Nội được xếp hang là di tích lịch sứ cấp quốc gia đinh alin: ®Đằng (Gh- Giưực - 0áp: (003,0 101 4 Khai thie tuyin phi ob Wa Udi phue vg phat trién du lick 1.Phô Cô - tài nguyên du lịch quan trọng của thủ đô ITà Nội 1.Sự hình thành và phát triển của phố cỗ Hà Nội e Thếkỷ XI- XIV Phổ cố Hà Nội bắt đầu hình thành từ thời Lý - lrần. Vào thời kỷ nảy, dân cư ở phố cỗ là đân bản địa và dân di cư từ các làng quanh đồng bằng Bắc Bộ ty tập về khu vực này sinh sống. Khi di cư ra Kinh thành lập nghiệp, người đân đã mang theo nghề nghiệp và bản sắc văn hỏa của làng x3 minh. Bằng chứng lả một số ngôi đền, miếu côn tho phụng các vị tổ nghề cỏn tồn tại như: "Châu Khê vợng tù” - ngôi đền của những người dân Châu khê làm nghề kim hoàn và vàng bạc, đỉnh Phả Trúc Lâm (số 40 Ilàng Hành), đỉnh Hài Tượng (sé l6 ngõ Hải Tượng) thử Tiến sĩ Nguyễn Thời Trung - tổ nghề da, dóng ha hài ø Thếkỹ XV — cuối thế kỹ XIX "thời kỉ này, phố cỗ Hà Nội đã có sự phát triển nhanh với sự xuất hiện ngày cảng nhiền các phố xá có cửa hàng, cửa hiệu với những ngôi nhà ống.
Lúc này cũng xuất hiện những ngôi dình, chủa của cư dân. Ở khu phố cổ Hà Nội cũng đang dần dần hình thành một lỗi sống thị dân và một khiểu thẫm mỹ đô thị Những người đân phố phường Kê Chợ qua vai ba thế hệ, đã khẳng định được một bản sắc dô thị của minh. Đó là một nép sống thanh lịch, tao nhã. Các phố hang đã được hình thành chuyển sân xuất hoặc bán một loại hàng hóa nảo đó.
* Cudi thé ky XIX — đầu thé ky XX Sau khi bị thực dân Pháp đánh chiếm, thành cổ bị phá, khu phố Tây được hinh thanh, khu phé cd c6 nhiễu biên đổi mạnh mẽ. Đường phố được nắn lu, có hệ thống thoát nước, có hè phố, đường được lát trải nhựa và được chiếu. hà cửa hai bên đường phổ được xây gach lợp ngói để đề phòng hoả hoạn. Bén cạnh những nhà cỗ mái ngỏi với các gờ đấu, bở nóc giật tam cắp, xuất hiển các ngôi nhà có mặt tiền được làm theo kiểu cách Châu Âu với các loại cột, vỏm cuốn, ban công, lỗgia và các hoa văn trang trí v.Cho tới 1954 cdc 6 phd cd đã được phủ kín các lô nhà; mỗi lỗ nhà là một gia đình.
Mỗi lô nhà tuỳ theo sâu nông mà có một hay vài ba sân nhỏ bên trong để lấy ánh sáng và thông thoáng, đinh alin: ®Đằng (Gh- Giưực - 0áp: (003,0 101 3 Khai thie tuyin phi ob Wa Udi phue vg phat trién du lick Khu phố cễ dưới thời Pháp thuộc vẫn là khu vực buôn ban stm ual trong cả nước. Hàng ngày từng đoàn tầu hoá từ hướng bắc của Hà Nội đừng lại phía ga đầu cầu bờ nam sông IIỗồng dé dan buôn bán đỗ xuống chợ Bắc Qua, Đồng Xuân với biết bao sẵn vật dưng uấp cho Hà Nội và cho các địa phương khác ở phía nam Hà Nội, đồng thời cũng lại chở đi các hàng hoá từ Hà Nội cung cấp cho các tỉnh phía Bắc. Phương tiện giao thông trên phổ cỗ có xích lễ, người đi xe đạp, đi bộ. đặc biệt là tầu điện đi Lừ ga ở phổ Thuy Khuê qua phố Quán Thánh qua phố Hàng Giấy, chợ Dỗng Xuân, Hàng Dường, Hàng Ngang, Hàng Dào qua phố Đình Tiên Hoàng, đường Hàng Bài, Phố Huế, Bạch Mai.
ø Từ năm 1986 đến nay Khu phố cổ từ 1986 đến nay với dường lối chỉnh sách mới từ nền kinh tổ bao cấp chuyển sang kinh tế thị trường; mở rộng sự giao lưu kinh tế và quan hệ với quốc tế, mở rộng các thành phần kinh tế trong nước, kích lệ mọi tầng lớp nhân dân xây dựng mở mang phát triển kinh tế văn hoá xã hội, buôn bán ở khu Phế Cễ dần dần được phục hồi, phát triển và sầm uất hơn xưa. Các mặt tiền nha được cải tạo đổi mới - nhiều nhà xuống cấp, bị hỏng đã được xây dựng lại với nhiều kiểu cách. Nhiều đình dan chia được tu sửa, không khí tâm linh đã trở lại với khu Phô Cô. Góp phần vào không khí hoạt dồng của khu phổ cễ trong hơn thập kỷ nay là sự qua lại tấp nập của dòng người du lich đến từ các nước Âu, Á và từ các địa phương khác trong nước.
Du lịch phát triển là nhân tế tích cực thúc đấy hoạt đông thương mại, dịch vụ, văn hoá ở nơi đây. l3o vậy, một số nhà ở trang khu phố cễ được cải tạo thành khách sạn mini; thành các quản ăn đặc sản; các cửa hang ở Lằng 1 được trang trí nội thất khang trang hấp dẫn 'Tuy nhiên, nhìn chung khu phế cổ từ tầng 2 trở lên và nhất là các nếp nhà phía bên trong các cửa hang đa sô là xuống cập, ô nhiễm môi trường, đe doạ tới an toàn cuộc sống của dân cư. Củng với sự phát triển chung của phố số Hả Nội, kiến trúc nhà cũng cỏ nhiều thay đổi - Nhà xây trước năm 1890 : Là loại nhà hình ống - nhà ở cễ truyền thẳng đinh alin: ®Đằng (Gh- Giưực - 0áp: (003,0 101 6 Khai thie tuyin phi ob Wa Udi phue vg phat trién du lick của khu Phố cỗ T1à Nội với các đặc điểm chung sau: nhà phát triển theo chiều sâu, tường nhà nọ liễn kể với tưởng nhà kia. Mặt tiền hướng ra phố bề ngang chỉ khoảng 2 mét đến 5 mét và sâu từ 20 mét đến 60 mét.
Bên trong nhả có các sân trong để lấy ánh sáng thông thoáng. Số sân phục thuộc vào chiều sâu nhà thường có phế biến từ 1 đến 2 sân trong. Hinh dáng kiến trúc phố biến là nhả lợp mái. TIai đầu đỉnh mái ngói của ngôi nhà là hai khối nhô lên hình chữ nhật, xây bằng gach gọi là trụ dấu mái.