phần mở đầu, kết luận, luận văn bao gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận chung về kế toán quản trị doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng kế toán quản trị doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH sản xuất và thương mại Việt Anh. Chƣơng 3: Hoàn thiện kế toán quản trị doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH sản xuất và thương mại Việt Anh. 8 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ DOANH THU CHI PHÍ VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP.
Doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp. Khái niệm, bản chất của doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh Khái niệm doanh thu: Theo Chuẩn mực kế toán quốc tế “Doanh thu” số 18 –IAS18 thì “Doanh thu là giá trị gộp của các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đạt được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động thông thường của doanh nghiệp, tạo nên sự gia tăng lên của vốn chủ sở hữu, ngoài phần tăng lên từ các khoản đóng góp thêm của các cổ đông”. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 (VAS14- Doanh thu và thu nhập khác) ban hành theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của BTC qui định: “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế của doanh nghiệp đã thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu”. Như vậy, có thể hiểu bản chất của doanh thu là tổng giá trị được thực hiện do việc bán sản phẩm, hàng hóa hay cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
Theo điều 78 thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014, doanh thu được định nghĩa là “lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đông. Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh, khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu được tiền”. Có thể xem xét và ghi nhận những khoản được coi là doanh thu của doanh nghiệp dưới dạng sự gia tăng của các dòng vốn vận động, có thể coi doanh thu là lợi tức hay là các luồng tiền vào hoặc tiết kiệm luồng tiền ra hoặc là những lợi ích tương lai dưới hình thức gia tăng giá trị tài sản là tổng hợp sự gia tăng của tài sản hay nguồn vốn nghĩa là doanh thu là tổng số tiền và khoản phải thu có được từ hàng hoá, dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng trong suốt thời kỳ đó. Tuy nhiên, phải hiểu rằng không phải tất cả nghiệp vụ làm tăng tiền và tăng những tài sản khác đều liên quan đến tăng doanh thu và không chỉ có doanh thu làm thay đổi vốn chủ sở hữu.
Liên quan đến doanh thu còn có các khoản giảm trừ doanh thu gồm: Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp bán giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn. 9 Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu. Giá trị hàng bán bị trả lại: Là khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán. Trên thực tế có rất nhiều khái niệm về doanh thu, tuy nhiên về bản chất thì doanh thu chính là tổng lợi ích phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp đã thu được trong kỳ kế toán.
Việc nhận thức rõ bản chất của doanh thu và xác định đúng đắn phạm vi, thời điểm, cơ sở ghi nhận doanh thu có tính chất quyết định đến tính khách quan, trung thực của chỉ tiêu doanh thu trong báo cáo tài chính. Góp phần mang lại thắng lợi trong các quyết định kinh doanh. Khái niệm về chi phí: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chi phí luôn gắn liền với các phát sinh kinh tế mà ở đó các khoản thu nhập được sinh ra thường có nguồn gốc từ một khoản chi phí nhất định. Tối thiểu hóa chi phí luôn là mục tiêu của phần lớn các dự án đầu tư, các kế hoạch sản xuất kinh doanh nhằm mang lại lợi nhuận cao hơn.
Vì vậy, để phục vụ cho việc quản lý chi phí và ra các quyết định kinh doanh có hiệu quả cần nhận diện chi phí trên nhiều góc độ khác nhau. Theo điều 82 thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014, “Chi phí là những khoản làm giảm lợi ích kinh tế, được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh hoặc khi có khả năng tương đối chắc chắn sẽ phát sinh trong tương lai không phân biệt đã chi tiền hay chưa”. Theo chuẩn mực kế toán 01 “Chuẩn mực chung”- Ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Chi phí được định nghĩa là “tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”.
Chi phí bao gồm các chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp và các chi phí khác. Chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp như: giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí lãi tiền vay, và những chi phí liên quan đến hoạt động cho các bên khác sử dụng tài sản sinh ra lợi tức, tiền bản quyền,. Những chi phí 10 này phát sinh dưới dạng tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, khấu hao máy móc, thiết bị. Chi phí khác bao gồm các chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp như: chi phí về thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, các khoản tiền bị khách hàng phạt do vi phạm hợp đồng.
Theo KTQT, chi phí không đơn thuần được nhận thức như trong KTTC mà còn được nhận thức theo khía cạnh thông tin thích hợp để phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị, nhằm thực hiện các chức năng quản trị và theo đuổi những mục tiêu quản trị. Do đó, chi phí có thể là giá trị của nguồn lực đã hoặc sẽ được các bộ phận tiêu dùng trong quá trình thực hiện các hoạt động, nhằm đạt được một kết quả, mục tiêu của nhà quản trị hay của đơn vị; hoặc chi phí cũng có thể là chi phí cơ hội, là những lợi ích tiềm tàng phải từ bỏ khi nhà quản trị lựa chọn quyết định này thay vì quyết định khác. Dưới góc độ KTQT, khái niệu chi phí khác nhau cho các mục đích khác nhau, thể hiện tính thích hợp, linh hoạt của thông tin về chi phí phục vụ cho việc ra các quyết định của nhà quản trị. Mặc dù, chi phí phát sinh môt cách khachs quan trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, tuy nhiên thuật ngữ chi phí chỉ có ý nghĩa khi có được dùng trong một bối cảnh cụ thể nào đó (tính lịch sử) và gắn với mục đích, cách thức của người sử dụng thông tin về chi phí ( tính mục đích).
Chính đặc điểm về tính lịch sử và tính mục đích tạo nên tính thích hợp, linh hoạt của thông tin về chi phí dưới góc độ của KTQT. Khái niệm kết quả kinh doanh: Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và kết quả thu nhập khác. Theo thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014, kết quả kinh doanh được định nghĩa như sau: “Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là số chênh lệch giữa doanh thu thuần và trị giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là số chênh lệch giữa thu nhập của hoạt động tài chính và chi phí hoạt động tài chính.
Kết quả hoạt động khác là số chênh lệch giữa các khoản thu nhập khác và các khoản chi phí khác, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp. 11 Kết quả hoạt động kinh doanh phải được hạch toán được xác định chi tiết theo từng loại hoạt động (hoạt động sản xuất, chế biến, hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ, hoạt động tài chính. Trong từng loại hoạt động kinh doanh, kết quả kinh doanh có thể xác định chi tiết cho từng loại sản phẩm, từng ngành hàng, từng loại dịch vụ”. Ý nghĩa, nội dung của doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh Ý nghĩa và nội dung doanh thu: Trong cơ chế thị trường để đứng vững doanh nghiệp tồn tại và phát triển là một điều không dễ đối với doanh nghiệp.
Kế toán quản trị doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý kinh tế tài chính tại các doanh nghiệp. Việc hạch toán và xác định chính xác các khoản doanh thu, chi phí để xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp luôn là vấn đề hàng đầu trong mỗi doanh nghiệp. Doanh thu là nguồn tài chính quan trọng giúp doanh nghiệp trang trải các khoản chi phí trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh góp phần đảm bảo cho quá trình kinh doanh tiếp theo được tiến hành liên tục. Doanh thu của doanh nghiệp gồm: doanh thu hoạt động kinh doanh thông thường và doanh thu hoạt động tài chính, thu nhập khác.
Doanh thu hoạt động kinh doanh thông thường: Là toàn bộ số tiền phải thu phát sinh trong kỳ từ việc bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp thực hiện cung cấp dịch vụ công ích, doanh thu bao gồm cả các khoản trợ cấp của nhà nước cho doanh nghiệp khi thực hiện cung cấp dịch vụ theo nhiệm vụ nhà nước giao mà không thu đủ bù đắp chi. Doanh thu từ hoạt động tài chính: Bao gồm các khoản thu phát sinh từ tiền bản quyền, cho các bên khác sử dụng tài sản của doanh nghiệp, tiền lãi từ việc cho vay vốn, lãi tiền gửi, lãi bán hàng trả chậm, trả góp, lãi cho thuê tài chính, chênh lệch lãi do bán ngoại tệ, chênh lệch tỷ giá ngoại tệ, chênh lệch lãi chuyển nhượng vốn và lợi nhuận được chia từ việc đầu tư ra ngoài doanh nghiệp.