chương 1 Từ những công trình nghiên cứu mà tác giả đã nêu ra ở trên, chúng ta có thể nhận thấy: Kế toán quản trị có lịch sử phát triển lâu đời trên toàn thế giới, được hình thành dựa trên nhu cầu phục vụ cho việc cung cấp thông tin cho bộ phận quản lý của doanh nghiệp. Thực trạng của thị trường hiện nay rất cạnh tranh khiến cho doanh nghiệp luôn luôn tìm cách phát triển mở rộng thị trường, quy mô, tìm cách tăng doanh thu, tăng lợi nhuận. Kế toán quản trị ngày càng trở thành một công cụ hỗ trợ quản trị hiệu quả và tối ưu. Một số bài nghiên cứu đã đề cập đến việc vận dụng kế toán quản trị phụ thuộc và ảnh hưởng bởi các nhân tố như: nhận thức của chủ doanh nghiệp, cách thức tổ chức, đặc điểm kinh doanh…song những đặc điểm này vẫn còn mang tính đặc thù của mỗi doanh nghiệp, loại hình doanh nghiệp.
Những yếu tố này cũng ít nhiều góp phần làm nền tảng nghiên cứu, dần trở thành một công vụ hữu ích phối hợp mới mục tiêu quản trị. Những bài nghiên cứu này cũng ít nhiều vạch ra được một số lý luận cơ bản về kế toán quản trị nói chung, vài rõ vai trò của nó và có xu hướng đi sâu vào loại hình kinh doanh đặc thù. Tuy nhiên những mô hình trước đây về các nhân tố cảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT liệu có phù hợp với đặc điểm kinh doanh và hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TP.HCM hay không là vấn đề này mà tác giả hướng tới trong những phần trình bày dưới đây. 123doc 13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Tổng quan về kế toán quản trị 2. Khái niệm Theo luật kế toán Việt Nam, KTQT là việc cung cấp thông tin trong nội bộ của doanh nghiệp, thông tin cung cấp cho đội ngũ quản trị doanh nghiệp được thực hiện thông qua các bước thu thập, tổng hợp, phân tích, báo cáo dựa theo nhu cầu của nhà quản lý và bản chất cốt lõi của thông tin kinh tế. Theo định nghĩa của Viện kế toán viên quản trị Hoa Kỳ, kế toán quản trị được ứng dụng nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho đội ngũ quản lý, thông tin thu thập, đo lường, phân tích, soạn thảo, diễn giải và chỉ sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp đồng thời đòi hỏi đội ngũ quản lý có những động thái tích cực tác động dựa trên nguồn thông tin này, sử dụng khôn ngoan và mang lại hiệu quả cao.Hilton, 1991, Kế toán quản trị là phần không thể thiếu của quản trị doanh nghiệp, có chức năng là một phần không thể thiếu và rất cần thiết cho quản lý của tổ chức để điều hành hoặc đề xuất chiến lược kinh doanh phù hợp. Như vậy, Kế toán quản trị là công việc thu thập, tổng hợp, phân tích sau đó lập báo cáo cho đội ngũ quản lý nhằm cung cấp thông tin hữu ích để đội ngũ quản lý đưa ra quyết định kinh doanh tối ưu, phù hợp với bối cảnh kinh tế hoặc tình hình của doanh nghiệp.
Trong quá trình thu thập, phân tích, tổng hợp thông tin, người làm kế toán quản trị sẽ xem xét tất cả các khía cạnh mà doanh nghiệp có khả năng gặp phải, những khó khăn trong tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, cung cấp thông tin về tình hình nội bộ, sức khỏe doanh nghiệp, khả năng huy động vốn, tài sản hiện có, nợ phải trả ngắn hạn, doanh thu, nợ phải trả, nợ phải thu, báo cáo kinh doanh cùng kì, báo cáo tài chính năm, tình hình quản lý tài sản, công nợ, lợi nhuận, dự đoán vốn huy động được, báo cáo khả năng linh động vốn…lọc và kiểm định những thông tin 123doc 14 cung cấp để cảnh báo hoặc hỗ trợ đội ngũ quản lý trong quá trình vận hành doanh nghiệp. Ở góc độ vai trò thông tin, kỹ thuật trình bày thông tin kế toán cho các cấp quản lý khác nhau để thực hiện các chức năng của chúng trong lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định hiệu quả hơn chính là điểm mấu chốt trong chức năng của kế toán quản trị. Bằng cách truyền đạt dữ liệu kế toán thích hợp trong thời gian nhanh hơn và chi phí ít hơn, chức năng của kế toán quản trị hỗ trợ việc quản lý trong việc xây dựng chính sách và hiệu quả thực hiện là như nhau, đề xuất phương án quản trị và quá trình lập quyết định kinh doanh (Iyengar, 2000). Trong quá khứ, kế toán quản trị đa phần tập trung nhiệm vụ tập hợp chi phí kế toán và báo cáo chi phí quản lý.
Gần đây, vai trò của nó đã thay đổi đáng kể. Kế toán quản trị đang hướng đến thông tin trách nhiệm và quản trị về chiến lược hoạt động, chi phí chiến lược cũng như mức hiệu quả sử dụng nguồn lực trong doanh nghiệp (Weygandt et al, 2008). Chức năng Kế toán quản trị phản ánh, quản lý toàn diện các đối tượng nguồn lực tại doanh nghiệp, vậy nên nó vừa có chức năng chung của kế toán, vừa có chức năng riêng của mình. Kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống kế toán nên nó có những chức năng chung của kế toán là phản ảnh và cung cấp dữ liệu kinh tế, tài chính hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cho đội ngũ quản lý hoặc những phòng ban khác thực hiện mục tiêu kinh doanh.
Kế tiếp, để đảm bảo được chức năng là hỗ trợ đội ngũ quản trị trong quá trình vận hành doanh nghiệp, kế toán quản trị cung cấp cấp thông tin có tính chất đặc thù cho quản trị của từng doanh nghiệp. Về cơ bản, chức năng kế toán quản trị phác thảo bằng hình 2. 123doc 15 Nhà quản trị Kế toán quản trị Thông tin chứng minh quyết định Ra quyết định Thông tin Hoạch định dự toán Thông tin Tổ chức thực hiện kết quả Kiểm tra, đánh giá Thông tin biến động và nguyên nhân Hình 2.1: Các chức năng kế toán quản trị Nguồn: Tác giả tự tổng hợp 2. Lập kế hoạch và dự toán Theo lý thuyết căn bản trong kinh doanh, nhà quản trị cần có những kế hoạch kinh doanh phù hợp với kế hoạch dài hạn, kế hoạch kinh doanh ngắn hạn, cách tiếp cận tác nghiệp kinh doanh, và tất cả những kế hoạch này được định trước trong những buổi họp hội đồng quản trị mang tính nội bộ.
Đây chính là cơ sở của thông tin khi tiến hành đưa ra đề xuất dự toán vốn, báo cáo tình hình kinh doanh, tài liệu cốt lõi xác định đối tượng kinh doanh cũng như hướng đi của tổ chức. Việc tổ chức 123doc 16 và xác định nhiệm vụ cho kế toán quản trị nhằm xác định được các yếu tố trên là cực kì cấp thiết. Tùy theo kế hoạch được phát thảo trước, kế toán quản trị cần tổng hợp thông tin và phân tích dựa theo định hướng phát triển kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn thông tin mà kế toán quản trị cung cấp là cơ sở để cán bộ quản lý nhìn lại tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, xem xét sức khỏe của doanh nghiệp và dự đoán được tình hình tài chính kinh doanh, vừa mang yếu tố thực tiễn vừa mang chức năng dự báo.
Thông thường các đơn vị thường lập ra các bảng dự toán ngân sách, nó giúp nhà nhà quản trị trong việc lập kế hoạch, sau đó là triển khai kế hoạch. Kế toán quản trị sẽ đóng một vai trò là ghi chép, phân tích các số liệu liên quan để làm nguồn dữ liệu hữu ích giúp cán bộ quản lý đưa ra những kế hoạch, dự toán có tính khả thi, hiệu quả nhất. Trong quá trình tổ chức thực hiện Nhà quản trị chủ yếu dựa trên nguồn dữ liệu mà bộ phận kế toán cung cấp, lập kế hoạch kinh doanh, lên kế hoạch phân công cho phù hợp giữa các cá nhân, bộ phận, khâu sản xuất, liên kết các giữa tổ chức với cá nhân tạo thành một thực thể hoạt động thống nhất, nhịp nhàng để đơn vị có thể thuận lợi trong việc thực hiện mục tiêu đã đề ra. Trong quá trình kiểm tra, đánh giá Chức năng lưu trữ thông tin, cung cấp thông tin của kế toán quản trị thể hiện qua việc thống kê hoạt động kinh doanh, những vấn đề phát sinh trong quá trình kinh doanh và vận hành doanh nghiệp.
Nền tảng để vận hành kế toán quản trị chính là những kế hoạch, những chiến lược mà bộ phận quản lý vạch ra. Khi kế hoạch được đưa vào quá trình kinh doanh, những đề xuất ban đầu cần được theo dõi để bám sát với hiệu quả kinh doanh vận hành doanh nghiệp thực tế. Đây sẽ là nguồn cung cấp thông tin, là những thông tin mang tính cơ sở để kế toán cung cấp cho đội ngũ quản lý, từ những báo cáo và dự đoán, đội ngũ quản lý cần có những điều chỉnh nếu tình hình thực tế kinh doanh có sự sai lệch với kế hoạch, đề xuất hướng giải quyết phát sinh để đảm bảo sự hiệu quả của kế hoạch kinh doanh. Bên cạnh đó, việc lựa chọn đánh giá là quan trọng, nếu nhà quản trị có cách đánh giá thích hợp thì sẽ 123doc 17 đuổi nhanh tiến độ thực hiện, thúc đẩy cho các cá nhân, bộ phận cấp dưới hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Vì vậy, chức năng thông tin, chức năng dự đoán của kế toán quản trị là hết sức quan trọng, nếu các thông tin không chính xác hoặc chưa qua kiểm định, chưa qua phân tích sẽ có khả năng ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh, thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Trong quá trình ra quyết định Trước tiên cần xem xét sự liên hệ bổ trợ giữa kế toán quản trị và đội ngũ lãnh đạo cấp cao. Các nhà lãnh đạo cấp cao của doanh nghiệp sẽ yêu cầu bộ phận kế toán cung cấp thông tin về tình hình sức khỏe của doanh nghiệp, báo cáo tất cả hoạt động kinh doanh trong giai đoạn cùng kỳ, hoặc báo cáo kết quả hằng năm nhằm phục vụ công tác định hình đường lối chính sách của doanh nghiệp trong thời gian sắp đến. Nắm rõ được sự tương quan, tính khả thi của từng kế hoạch dựa trên sổ sách cũng như thực tiễn để có phương án điều chỉnh nếu có vấn đề phát sinh hay nắm rõ tiến độ.
Những thông tin cần được cung cấp vừa mang tính khái quát, vừa mang tính chi tiết về tất cả các mảng, tất cả các bộ phận trong nội bộ doanh nghiệp. Cấp quản lý bậc trung cũng là đối tượng thường xuyên sử dụng thông tin mà bộ phận kế toán quản trị cung cấp.