CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ GIÁ THÀNH TRONG DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ 1. Một số vấn đề chung về chi phí và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp dịch vụ 1. Khái niệm, phân loại chi phí 1. Khái niệm Trong doanh nghiệp, chi phí kinh doanh là một phạm trù rất rộng bao gồm các loại chi phí phát sinh liên quan đến các hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, và các hoạt động khác.
Theo giáo trình Kế toán tài chính (tái bản năm 2010) của Học viện tài chính do GS. TS Ngô Thế Chi và TS. Trương Thị Thủy chủ biên, “chi phí của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, và tính cho một kỳ nhất định”. Trong đó hao phí lao động sống được biểu hiện như tiền lương, các khoản trích theo lương của người lao động phát sinh ghi vào chi phí sản xuất.
Hao phí lao động vật hoá biểu hiện của nó là giá trị nguyên vật liệu sử dụng, công cụ dụng cụ xuất dùng, khấu hao tài sản cố định phục vụ cho sản xuất. Đây là các tư liệu lao động và đối tượng lao động được người lao động tác động và chuyển hóa thành sản phẩm. Theo giáo trình Kế toán tài chính (năm 2010) của trường Đại học Thương mại do TS. Nguyễn Tuấn Duy và TS.
Đặng Thị Hòa làm chủ biên đưa ra khái niệm: “Chi phí sản xuất là những chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm và cung ứng dịch vụ bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung”. 9 Theo giáo trình Kế toán chi phí giá thành của T.S Phan Đức Dũng, Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh (2009): “Chi phí là những hao phí lao động xã hội được biểu hiện bằng tiền trong quá trình hoạt động kinh doanh. Chi phí của doanh nghiệp là tất cả những chi phí phát sinh gắn liền với doanh nghiệp trong quá trình hình thành, tồn tại và hoạt động từ khâu mua nguyên vật liệu, tạo ra sản phẩm đến khi tiêu thụ.” Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 01 – “Chuẩn mực chung” thì “Chi phí là tổng giá trị khoản làm giảm lợi ích trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”.
Theo Thông tư 200/2014/TT-BTC – Hướng dẫn Chế độ kế toán Doanh nghiệp thì “Chi phí là những khoản làm giảm lợi ích kinh tế, được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh hoặc khi có khả năng tương đối chắc chắn sẽ phát sinh trong tương lai không phân biệt đã chi tiền hay chưa". Như vậy, từ các khái niệm về chi phí trên ta có thể thấy bản chất chi phí của doanh nghiệp là những tiêu hao về nguồn lực như tài nguyên, vật chất, sức lao động… đã hoặc có khả năng tương đối chắc chắn sẽ được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh và được biểu hiện bằng thước đo tiền tệ. Bất kỳ một doanh nghiệp nào để tiến hành hoạt động cũng đều phải có đủ 3 yếu tố: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Sự tiêu hao các yếu tố này trong quá trính sản xuất kinh doanh đã tạo ra các chi phí tương ứng.
Các loại chi phí này phát sinh một cách thường xuyên trong quá trình sản xuất kinh doanh, nó luôn vận động, thay đổi trong quá trình tái sản xuất. Tính đa dạng của nó gắn liền với sự đa dạng, phức tạp của các loại hình sản 10 xuất kinh doanh khác nhau, các công nghệ sản xuất khác nhau và sự phát triển không ngừng của tiến bộ khoa học kỹ thuật. Chẳng hạn như đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ thì chi phí tiền lương, tiền công luôn chiếm tỉ trọng cao vì đặc thù lao động trí óc là chủ yếu. Quá trình tiêu hao các nguồn lực để tiến hành sản xuất kinh doanh cũng chính là quá trình phát sinh các chi phí hay nói cách khác đó là quá trình chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào các đối tượng tính giá nhất định trong suốt quá trình tồn tại của doanh nghiệp.
Khi nghiên cứu về chi phí chúng ta cũng cần phải xem xét và phân biệt được sự khác nhau giữa khái niệm chi phí và chi tiêu của doanh nghiệp. Chi tiêu của doanh nghiệp là các khoản tiền chi ra không kể các khoản đã dùng vào việc gì và dùng như thế nào. Trong khi đó chi phí bao gồm những hao phí về tài sản và lao động có liên quan đến việc tạo ra doanh thu và thu nhập để hình thành nên lợi nhuận của kỳ hạch toán chứ không phải mọi khoản chi ra trong kỳ. Do có sự không phù hợp giữa thời gian phát sinh các khoản chi tiêu và thời gian phát huy tác dụng của nó đối với thu nhập của doanh nghiệp như các khoản chi phí trả trước (khoản chi tiêu ở kỳ này nhưng còn chờ phân bổ ở kỳ sau) và chi phí phải trả (khoản được tính vào chi phí ở kỳ này nhưng chưa chi mà sẽ chi ở kỳ sau).
Phân loại chi phí Chi phí của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại và vô cùng đa dạng tùy vào từng lĩnh vực cũng như từng doanh nghiệp cụ thể. Để thuận tiện cho công tác quản lý, kiểm tra và cung cấp thông tin về chi phí phục vụ cho việc ra các quyết định kinh doanh, chi phí cần phải được phân loại. Tùy thuộc vào mục đích và yêu cầu của nhà quản lý mà các chi phí sẽ được phân loại theo các tiêu thức khác nhau. 11 Phân loại theo chức năng hoạt động kinh doanh: Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh là những chi phí liên quan đến các hoạt động tạo ra doanh thu chính của doanh nghiệp.
Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm chí phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất. Chi phí sản xuất: Chi phí sản xuất là những chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất liên quan đến việc chế tạo sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trong một thời kỳ nhất định. Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là toàn bộ chi phí nguyên vật liệu được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm hàng hóa và dịch vụ. Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương và các khoản phải trả trực tiếp cho công nhân sản xuất, các khoản trích theo tiền lương của công nhân sản xuất như kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, đội sản xuất như: Chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, chi phí công cụ, dụng cụ, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền dùng chung cho phân xưởng sản xuất với mục đích là phục vụ và quản lý sản xuất ở phân xưởng sản xuất. Chi phí ngoài sản xuất: các chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất như hoạt động tiêu thụ sản phẩm, quản lý doanh nghiệp và các hoạt động khác. Chi phí bán hàng: là chi phí lưu thông và chi phí tiếp thị phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, lao vụ, dịch vụ. Loại chi phí này có: chi phí quảng cáo, giao hàng, giao dịch, hoa hồng bán hàng, chi phí nhân 12 viên bán hàng và chi phí khác gắn liền đến bảo quản và tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa.
Chi phí quản lý doanh nghiệp: là các khoản chi phí liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất kinh doanh có tính chất chung toàn doanh nghiệp. Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm: chi phí nhân viên quản lý, chi phí vật liệu quản lý, chi phí đồ dùng văn phòng, khấu hao TSCĐ dùng chung toàn doanh nghiệp, các loại thuế, phí có tính chất chi phí, chi phí khánh tiết, hội nghị. Chi phí khác: là các chi phí và các khoản lỗ do các sự kiện hay các nghiệp vụ bất thường mà doanh nghiệp không thể dự kiến trước được, như: chi phí thanh lý, nhượng bán TSCĐ, tiền phạt do vi phạm hợp đồng, các khoản phạt, truy thu thuế … Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động: Nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu lập kế hoạch, kiểm soát và chủ động điều tiết chi phí của nhà quản trị DN, có thể phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí, nghĩa là khi mức độ hoạt động biến động chì chi phí sẽ biến động như thế nào. Theo cách phân loại này có tể chia thành: Biến phí: Biến phí là những khoản mục chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với biến động về mức độ hoạt động ví dụ như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp.
Định phí: Định phí là những khoản chi phí không thay đổi hoặc gần như không thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi trong phạm vi phù hợp ví dụ như chi phí khấu hao tài sản cố định theo phương pháp đường thẳng… Chi phí hỗn hợp: Đây là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố của định phí và biến phí. Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thể 13 hiện các đặc điểm của định phí, quá mức đó nó lại thể hiện đặc tính của biến phí ví dụ như chi phí tiền điện, tiền điện thoại… Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí: Chi phí trực tiếp: là chi phí có thể tách biệt phát sinh một cách riêng biệt cho một hoạt động cụ thể của doanh nghiệp như một sản phẩm ở doanh nghiệp sản xuất. Chi phí gián tiếp: là chi phí chung hay chi phí kết hợp không có liên quan tới hoạt động cụ thể nào mà liên quan cùng lúc tới nhiều hoạt động, nhiều công việc. Cách phân loại này có ý nghĩa đối với việc xác định các phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng một cách đúng đắn, hợp lý và cũng qua đó cung cấp thông tin cho các nhà quản trị để có những quyết sách kịp thời và đúng đắn có hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.