CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NHÂN SỰ TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm 1.1 Nguồn nhân lực Thuật ngữ “Nguồn nhân lực” xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động. Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, một địa phương, một ngành, một vùng. Theo cách hiệu này, nguồn nhân lực được coi là nguồn lực con người với các yếu tố thể chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Câu nói này đã trở thành tư tưởng xuyên suốt trong sự nghiệp cách mạng của Đảng. Theo Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XI (2011): “Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt với nước ta khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp, đó là người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo và bồi dưỡng bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại.” Ở nước ta, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới. Điều này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực.
Theo giáo sư viện sỹ Phạm Minh Hạc: Nguồn lực con người được thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất). Còn theo PGS TS Phạm Văn Đức: Nguồn lực con người chỉ khả năng và phẩm chất của lực lượng lao động. Đó không chỉ là số lượng và khả năng chuyên môn mà còn gồm cả trình độ văn hóa, thái độ đối với công việc và mong muốn tự hoàn thiện của lực lượng lao động. Như vậy, nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai, trình 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com độ văn hóa, thái độ đối với công việc.
Theo David Begg- Giáo sư kinh tế học trường Tổng hợp London, Anh: “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai”. Theo như Nicolas HeTy trong cuốn Public Administration and Public affaiss (Quản trị công và vấn đề công ): Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau, có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới. Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố thể chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức.
Báo cáo đánh giá về những tác động của toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực của Liên hợp quốc đã đưa ra định nghĩa: Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực có thực tế củng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người. Quan niệm về nguồn nhân lực theo hướng tiếp cận này có phần thiên về chất lượng của nguồn nhân lực. Trong quan niệm này, điểm được đánh giá cao là coi các tiềm năng của con người cũng là năng lực, khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong quản lý, sử dụng. Theo Ngân hàng thế giới: Nguồn lực con người cũng được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác như vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
Có thể nói nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đánh giá: nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: theo nghĩa hẹp, nó là khả năng lao động của toàn xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, có 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghĩa là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Nếu hiểu theo nghĩa rộng hơn thì nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển.
Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Trong phạm vi doanh nghiệp thì nguồn nhân lực được hiểu là những người có quan hệ lao động hay tham gia vào quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Nhân lực là nguồn lực có trong con người. Nhân lực bao gồm các yếu tố về thể lực và trí lực của con người được sử dụng vào quá trình lao động.
Thể lực chính là sức khỏe, nó phụ thuộc vào tuổi tác, giới tính, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế của từng cá nhân.Còn trí lực là mức độ suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, đạo đức của cá nhân. Trong sản xuất kinh doanh truyền thống thì thể lực được tập trung tối đa còn trí lực thường ưu tiên cho những vị trí quản lý. Tuy nhiên, hiện nay trong nền kinh tế trí thức thì các doanh nghiệp đang khai thác trí lực để sử dụng thể lực một cách hiệu quả hơn. Trí lực của con người là vô tận và giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nếu được đầu tư khai thác.
Vậy nên doanh nghiệp cần đẩy mạnh công tác quản trị nguồn nhân lực để phát triển nguồn lao động chất lượng cao đáp ứng nhu cầu trong thời đại khoa học công nghệ. Tóm lại, nguồn nhân lực là bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những tận tâm, nỗ lực hay bất cứ đặc điểm nào khác tạo giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp của đội ngũ nhân viên.2Quản trị nhân lực a. Khái niệm quản trị nhân lực Vào năm 1990, thay vì gọi là Quản trị nhân viên ( Personnel Management ) như trước đó, các công ty trên thế giới thường dùng khái niệm Quản trị tài nguyên con người ( Human Resource Management ) gọi tắt là Quản trị nhân sự hay Quản trị nhân lực vì nó bao quát hơn. Quản trị nhân lực 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là sự phối hợp một cách tổng thể các hoạt động hoạch định, tuyển mộ tuyển chọn duy trì, phát triển động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nhân viên thông qua tô chức, nhằm đạt được mục tiêu chiến lược và định hướng của tổ chức.
Với tư cách là một trong các chức năng cơ bản của quá trình quản trị: Quản trị nhân lực bao gồm các việc từ hoạch định, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát các hoạt động liên quan đến việc thu hút, sử dụng và phát triển nhân sự trong các tổ chức. Đi sâu vào chính nội dung hoạt động của quản trị nhân lực thì quản trị nhân lực là việc tuyển dụng, sử dụng, duy trì và phát triển cũng như cung cấp các tiện nghi cho nhân sự trong các tổ chức. Một phần nhỏ của quản trị nhân lực là cơ quan quản lý làm những việc cụ thể như: tuyển người, bình xét, giao công việc, giải quyết tiền lương, bồi dưỡng, đánh giá chất lượng cán bộ công nhân viên nhằm chấp hành tốt mục tiêu, kế hoạch của tổ chức. Xét trên góc độ quản lý, việc khai thác và quản lý nhân lực lấy giá trị con người làm trọng tâm, vận dụng hoạt động khai thác và quản lý nhằm giải quyết những tác động lẫn nhau giữa người với công việc, giữa người với người và giữa người với tổ chức.
Nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng đa dạng, nhiều xu hướng khoa học kỹ thuật hiện đại xuất hiện ngày càng nhiều. Các doanh nghiệp để cạnh tranh thì buộc phải cải tiến tổ chức của mình trong đó yếu tố con người mang tính quyết định. Quản trị nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập các tổ chức và giúp cho tổ chức tồn tại và phát triển trên thị trường. Con người với kỹ năng và trình độ riêng của mình sử dụng công cụ lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội.
Con người thiết kế và sản xuất ra sản phẩm, kiểm tra chất lượng, đưa sản phẩm trên thị trường, xác định các chiến lược và các mục tiêu cho tổ chức. Mặt khác, quản lý nguồn nhân lực tốt sẽ tạo nền tảng để quản lý các nguồn lực khác bởi vì mọi hoạt động đều thực hiện bởi con người. Trong những yếu tố nguồn nhân lực, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất - kỹ thuật, khoa học - công nghệ. thì nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trí tuệ có ưu thế nổi bật là 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng và khai thác hợp lý.
Các nguồn lực khác chỉ hữu hạn và phát huy được khi kết hợp với nguồn nhân lực một cách có hiệu quả. Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định việc sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác; trong đó nguồn nhân lực chất lượng cao quyết định quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Nghiên cứu quản trị nguồn nhân lực giúp doanh nghiệp phát huy tiềm năng của nhân viên, nâng cao năng suất lao động, đạt lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Hơn nữa, nhà quản lý có thể rèn luyện kỹ năng giao tiếp, hài hoà mối quan hệ lợi ích giữa nhà quản lý và người lao động để cùng thực hiện mục tiêu chung của tổ chức.