phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của khóa luận đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển khu công nghiệp Chƣơng 2: Đánh giá phát triển các khu công nghiệp tỉnh Hải Dƣơng Chƣơng 3: Một số giải pháp phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1:CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP 1. Khái quát về khu công nghiệp và vai trò của khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 1. Khái niệm về khu công nghiệp Vào những năm cuối thế kỉ XIX, KCN đã đƣợc hình thành ở một số nƣớc tƣ bản phát triển.
Năm 1896, xuất hiện KCN đầu tiên ở Traffort Park thành phố Manchester nƣớc Anh. Sau đó, KCN lần lƣợt đƣợc thành lập ở các nƣớc khác nhƣ Mỹ năm 1899, Italia 1940. Đối với nƣớc đang phát triển, thời gian đầu, do thiếu vốn, các cơ sở công nghiệp, phần lớn có quy mô vừa và nhỏ, phân bố phân tán, khả năng xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trƣờng kém. Dân số tăng, đất đai ngày càng hạn chế, thêm vào nữa là Chính phủ cần chi tiêu đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng để đáp ứng nhu cầu xây dựng phát triển của các doanh nghiệp đi đầu tƣ, làm sao có đƣợc cơ sở hạ tầng hiện đại để phát triển công nghiệp, hạn chế ô nhiễm môi trƣờng, xử lý tốt chất thải công nghiệp, tập trung quản lý, tiết kiệm đất đai, chi phí.
Đảm bảo đƣợc các yêu cầu trên, KCN ra đời nhƣ một tất yếu khách quan. Và kể từ những năm 50 thế kỷ XX thì KCN thực sự đƣợc bùng nổ, trở thành phổ biến ở các nƣớc. Tùy điều kiện từng nƣớc mà KCN có những nội dung hoạt động kinh tế khác nhau và có những tên gọi khác nhau nhƣng chúng đều mang tính chất và đặc trƣng của KCN [14, tr15]. Hiện nay trên thế giới có hai mô hình phát triển KCN, cũng từ đó hình thành hai định nghĩa khác nhau về KCN.
- Định nghĩa 1: Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ rộng lớn, có ranh giới địa lý xác định, trong đó chủ yếu là phát triển các hoạt động sản xuất công nghiệp và có đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ đa dạng; có dân cƣ sinh sống trong khu. Ngoài chức năng quản lý kinh tế, bộ máy quản lý các khu này còn có chức năng quản lý hành chính, quản lý lãnh thổ. KCN theo quan điểm này về thực chất là khu hành chính – kinh tế đặc biệt nhƣ các công viên công nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nƣớc Tây Âu. - Định nghĩa 2: Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tập trung các doanh nghiệp công nghệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không có dân cƣ sinh sống và đƣợc tổ chức hoạt động theo cơ chế ƣu đãi cao hơn so với các khu vực lãnh thổ khác Theo quan điểm này, ở một số nƣớc và vùng lãnh thổ nhƣ Malaysia, Indonesia, ….đã hình thành nhiều KCN với qui mô khác nhau và đây cũng là loại hình KCN nƣớc ta đang áp dụng hiện nay [15, tr18].
Những khái niệm về KCN còn đang gây nhiều tranh luận, chƣa có sự thống nhất và còn những quan niệm khác nhau về KCN. Ở Việt Nam khái niệm về KCN đã đƣợc trình bày tại nhiều văn bản pháp luật nhƣ Quy chế Khu công nghiệp ban hành theo Nghị định số 192-CP ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ; Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài năm 1996; Quy chế Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao ban hành theo Nghị định số 36/CP ngày 24 tháng 2 năm 1997 của Chính phủ, Luật đầu tƣ năm 2005. Định nghĩa ban đầu về KCN đƣợc nêu trong Quy chế Khu công nghiệp ban hành theo Nghị định số 192-CP ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ thì KCN đƣợc hiểu là KCN tập trung do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cƣ sinh sống. Nghị định của Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm 2008 quy định về KCN, KCX và KKT thì khái niệm về khu công nghiệp đƣợc hiểu nhƣ sau: Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ.
Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp theo quy định của Chính phủ. Có thể coi khái niệm mà chúng ta sử dụng là khái niệm hẹp và chỉ quan tâm chủ yếu đến phần diện tích dành cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng để cho thuê, còn việc xây dựng các công trình phúc lợi xã hội không nằm trong phạm vi quy định. Quan niệm này dẫn đến một thực tế là khi xây dựng KCN, ngƣời ta không quan tâm đến tính đồng bộ của nó theo nghĩa rộng nên ảnh hƣởng lớn đến 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiệu quả KT - XH của KCN. Cho nên việc quy hoạch phát triển sản xuất nhất thiết phải đi kèm quy hoạch phát triển hạ tầng xã hội.
Mặc dù có một số đặc điểm đặc thù nhƣ quy mô thƣờng nhỏ hơn, ảnh hƣởng thƣờng hẹp hơn nhƣng về bản chất không có sự khác biệt so với các KCN của Trung ƣơng. Trong đề tài, khái niệm KCN đƣợc hiểu bao gồm cả KCN do Trung ƣơng thành lập, quản lý và cả các cụm CN do chính quyền địa phƣơng thành lập 1. Đặc điểm của khu công nghiệp Việt Nam Dựa trên các định nghĩa về khu công nghiệp, có thể xác định khu công nghiệp ở Việt Nam có 4 đặc điểm sau Thứ nhất, KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp có đủ cơ sở pháp lý, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Thứ hai, KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, không có dân cƣ sinh sống, xây dựng theo quy hoạch tổng thể đã đƣợc chính phủ phê duyệt.
Thứ ba, KCN phải do chính phủ hoặc do Thủ tƣớng chính phủ quyết định thành lập. Khi muốn hình thành KCN đã có trong quy hoạch tổng thể do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng chỉ đạo việc lập báo cáo nghiên cứu khả thi thành lập KCN và trình Thủ tƣớng chính phủ xem xét quyết định thành lập. Thứ tư, trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất. Đó là các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu.
Vai trò của khu công nghiệp Việt Nam Việc phát triển các KCN, KCN cao có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo ra những điều kiện, thể chế, môi trƣờng thuận lợi cho quá trình thu hút, sử dụng nguồn lực từ bên ngoài nhƣ vốn đầu tƣ, công nghệ tiên tiến, phƣơng thức quản lý hiện đại, trên cơ sở đó đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH. Một số vai trò quan trọng của khu công nghiệp Việt Nam nhƣ sau: Một là, KCN là một địa điểm quan trọng để thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài, tập trung các doanh nghiệp công nghiệp vào một khu vực địa lý. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong điều kiện kết cấu hạ tầng của nền kinh tế còn thấp kém đầu tƣ chƣa hoàn thiện thì việc xây dựng, phát triển KCN là phƣơng thức phù hợp nhằm tập trung đầu tƣ cho một số khu vực có ƣu thế hơn, giảm một cách đáng kể chi phí về vốn và khó khăn cho nhà đầu tƣ. KCN với những ƣu đãi đặc biệt về thủ tục hành chính, cơ chế quản lý, tài chính, thuế quan.
so với sản xuất ở bên ngoài, nên nó trở thành môi trƣờng hấp dẫn các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, thu hút đƣợc nguồn vốn đầu tƣ cả trong và ngoài nƣớc. Kết cấu hạ tầng trong KCN sẵn có và những chính sách ƣu đãi cùng với cơ chế quản lý đặc biệt, thủ tục đầu tƣ ngày càng đơn giản, thuận tiện hơn so với bên ngoài KCN sẽ giúp nhà đầu tƣ nhanh chóng triển khai dự án, tránh bỏ lỡ cơ hội kinh doanh. Hai là, tạo việc làm, tăng thu nhập và tăng kỹ năng cho người lao động Việc xây dựng KCN sản xuất cũng nhƣ các dịch vụ hỗ trợ bên ngoài KCN đã giải quyết đƣợc một số lƣợng lao động khá lớn. Số lao động này đƣợc tiếp xúc với công nghệ sản xuất hiện đại, phƣơng thức quản lý tiên tiến.
Đây là điều kiện quan trọng để xây dựng đội ngũ lao động có kỷ luật, có kỹ năng và có năng suất lao động cao đáp ứng nhu cầu của công cuộc CNH, HĐH đất nƣớc. Ở các địa phƣơng có KCN, tỷ lệ thất nghiệp giảm rõ rệt. Điều đó tác động tích cực đến việc xoá đói, giảm nghèo, đồng thời góp phần giảm các tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây ra. Ba là, KCN là địa bàn để tiếp nhận chuyển giao công nghệ hiện đại và phương pháp quản lý tiên tiến của các nước phát triển.
Việc tiếp thu công nghệ và kỹ năng quản lý hiện đại một cách nhanh chóng và hiệu quả không chỉ là nhiệm vụ trƣớc mắt mà còn là mục tiêu chiến lƣợc. Muốn phát triển kinh tế thì không thể thiếu khoa học công nghệ. Mà ở các nƣớc đang phát triển thì trình độ khoa học công nghệ là chậm phát triển hơn nhiều so với các nƣớc phát triển. Cần thấy rằng, bản thân công nghệ tiên tiến đã đƣợc phát triển là để đáp ứng các điều kiện đặc biệt của các nƣớc phát triển nhƣ lƣơng cao, tƣ bản dồi dào so với lao động và có nhiều kỹ sƣ lành nghề, trong khi đó thì điều kiện này không có ở các nƣớc nghèo.
Chính vì vậy 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có một giải pháp đó là thu hút các doanh nghiệp nƣớc ngoài, với việc hình thành các KCNTT sẽ là nơi để thu hút sự đầu tƣ này. Qua đó, ngƣời nƣớc ngoài sẽ đƣa vào KCN những thiết bị kỹ thuật tiên tiến, quy trình công nghệ hiện đại để sản xuất ra các sản phẩm có chất lƣợng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế có đủ sức cạnh tranh trên thị trƣờng.