chương 1 đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về ODA và hiệu quả sử dụng vốn ODA. Tiếp theo em xin trình bày sâu hơn về vốn ODA của Nhật Bản cho lĩnh vực giao thông đường bộ của thành phố Hồ Chí Minh ở chương 2. Học Viện Tài Chính 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com SV: Nguyễn Thị Uyên Lớp CQ 45/08.01 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN ODA NHẬT BẢN CHO LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2. Giới thiệu về nhà tài trợ Nhật Bản và ODA Nhật Bản cho Việt Nam 2.
Nhà tài trợ Nhật Bản và mối quan hệ với Việt Nam Kể từ năm 1986, với chính sách Đổi mới, Việt Nam đã có những bước tiến lớn và đang chuyển dần theo hướng nền kinh tế thị trường. Năm 1995,Việt Nam gia nhập ASEAN và năm 1998 trở thành thành viên của APEC,cuối năm 2006 Việt Nam gia nhập WTO. Điều đó chứng tỏ Việt Nam tích cực thúc đẩy và mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới, trong đó có Nhật Bản. Việt Nam và Nhật Bản là hai nước đều nằm trong vùng “ khí hậu gió mùa” có lịch sử phát triển hàng nghìn năm và cùng thuộc trong vùng nông nghiệp trồng lúa nước của châu Á, có nhiều điểm tương đồng về phong tục, tập quán, tín ngưỡng.
Kể từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới (1986) đến nay, quan hệ Việt Nam - Nhật Bản đã phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn trên tất cả mọi lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là trong các lĩnh vực kinh tế và văn hoá. Về hợp tác phát triển thương mại, Nhật Bản luôn là bạn hàng lớn nhất của Việt Nam. Các hoạt động xuất nhập khẩu đã đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của cả hai nước, đặc biệt là với Việt Nam.Trong quan hệ song phương hai nước đã dành cho nhau ưu đãi tối huệ quốc về thuế năm 1999. Về hợp tác đầu tư ( FDI ), Nhật Bản là nước đứng thứ 3 có dự án đầu tư vào Việt Nam với khoảng 900 dự án được cấp phép đăng ký đạt 7.
Tuy Nhật Bản đứng thứ 3 về vốn đăng ký tại Việt Nam nhưng lại là nước đứng đầu về vốn thực hiện. Vì vậy đầu tư của Nhật Bản có nhiều đóng góp Học Viện Tài Chính 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com SV: Nguyễn Thị Uyên Lớp CQ 45/08.01 trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của cả hai nước, đặc biệt là đối với Việt Nam. Về hỗ trợ phát triển chính thức (ODA ) , Nhật Bản chính thức tuyên bố nối lại ODA cho Việt Nam ngày 6/11/1992. Tổng vốn ODA mà Nhật Bản cam kết cho Việt Nam giai đoạn 1992 – 2010 đã lên tới 1.
Nhờ nguồn vốn ODA của Nhật Bản mà nhiều dự án của Việt Nam đã được triển khai và mang lại nhiều lợi ích cả về kinh tế và xã hội. Về hợp tác giao lưu văn hóa, hai nước thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu, trao đổi văn hóa giữa hai nước Việt – Nhật như các cuộc triển lãm được tổ chức tại Việt Nam và Nhật Bản để giới thiệu về đất nước con người, các sản phẩm truyền thống. của mỗi nước. Thông qua hoạt động hợp tác của Việt Nam – Nhật Bản trên các phương diện làm cho quan hệ giữa hai nước càng trở nên gắn bó khăng khít.
Từ đó thúc đẩy kinh tế giữa hai nước ngày càng phát triển mạnh mẽ. ODA của Nhật Bản cho Việt Nam 2.Tổng mức cam kết và giải ngân ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam giai đoạn 1998 – 2009 Kể từ khi nối lại viện trợ với Việt Nam vào năm 1992, Nhật Bản đã tích cực hỗ trợ phát triển tài chính để góp phần khai thông mối quan hệ của Việt Nam với các tổ chức quốc tế. Từ đó đến nay, mặc dù kinh tế Nhật Bản còn đang gặp nhiều khó khăn nhưng Chính phủ Nhật Bản luôn là nhà tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 40% tổng nguồn ODA của các nước và các tổ chức quốc tế cung cấp cho Việt Nam. Tính đến nay, tổng số ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam đã vượt qua con số 16 tỷ USD, trong đó trên 10% là viện trợ không hoàn lại, phần còn lại là các khoản tín dụng ưu đãi với lãi suất thấp và thời gian tài trợ dài.
Tại hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam (CG) những năm vừa qua, Nhật Bản đều tiếp tục khẳng định vị trí vẫn là nhà tài trợ đứng đầu ở Việt Nam. Học Viện Tài Chính 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com SV: Nguyễn Thị Uyên Lớp CQ 45/08.01 Nguồn vốn viện trợ phát triển của Nhật Bản cam kết và giải ngân cho Việt Nam giai đoạn 1998 – 2009 thể hiện qua bảng sau : Bảng 2.1 : Tình hình cam kết và giải ngân viện trợ phát triển của Nhật Bản trong giai đoạn 1998 – 2009 Đơn vị : Tỷ Yên Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 Tổng số 100.4 ODA Viện trợ 12.8 KHL ODA cam 88 101.6 kết ODA giải 29.1: Tình hình cam kết và giải ngân viện trợ phát triển của Nhật Bản dành cho Việt Nam giai đoạn 1992 – 2008 (Tỷ Yên) ( Nguồn : Cơ sở dữ liệu bộ Kế hoạch – Đầu tư ) Học Viện Tài Chính 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com SV: Nguyễn Thị Uyên Lớp CQ 45/08.Cơ cấu viện trợ ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam Theo số liệu từ Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, tổng vốn ODA mà Nhật cung cấp cho Việt Nam từ năm 1993 - 2008 là 1.435,7 tỷ Yên (khoảng 15,5 tỷ USD), trong đó vốn cho vay ưu đãi là 1.267,8 tỷ Yên, chiếm 89% tổng vốn ODA; viện trợ không hoàn lại là 90,9 tỷ Yên (6%); hợp tác kỹ thuật là 76,1 tỷ Yên (5%).2: Cơ cấu vốn ODA được Nhật Bản cung cấp cho Việt Nam từ 1993-2008 ( Nguồn : Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam ) Hỗ trợ kỹ thuật : Một số loại dự án hỗ trợ kỹ thuật tập trung vào chuyển giao công nghệ thông qua việc cử chuyên gia Nhật Bản cùng với việc cung cấp trang thiết bị thiết yếu; cử người Việt Nam sang đào tạo tại Nhật Bản. Học Viện Tài Chính 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com SV: Nguyễn Thị Uyên Lớp CQ 45/08.01 Viện trợ không hoàn lại: Từ khi nối lại viện trợ phát triển năm 1992 đến nay, Chính phủ Nhật Bản thực hiện nhiều loại hình viện trợ không hoàn lại khác nhau cho Việt Nam như : Viện trợ không hoàn lại chung, hợp tác kỹ thuật dạng dự án, nghiên cứu phát triển, cử chuyên gia, viện trợ phi dự án. với tổng trị giá hơn 1,2 tỷ USD.
Tín dụng ưu đãi : Nhiều dự án sử dụng vốn vay ưu đãi của Nhật Bản đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, góp phần tích cực cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Ưu điểm và nhược điểm khi nhận ODA của Nhật Bản * Ưu điểm - Chính sách cung cấp ODA của Nhật Bản phù hợp với những ưu tiên của Việt Nam trong việc tập trung nguồn lực này cho các dự án thuộc cơ sở hạ tầng xã hội. Hiện nay, cơ sở hạ tầng của Việt Nam chất lượng còn đang kém và thiếu vốn đầu tư, để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước thì tất yếu phải nâng cấp và xây mới các dự án cơ sở hạ tầng. Nhưng thực tế cho thấy nguồn vốn từ NSNN còn hạn hẹp do đó thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, trong đó có ODA từ Nhật Bản là chủ trương của Chính phủ.
- Thông qua ODA Nhật Bản, Việt Nam có thể tiếp thu công nghệ, kỹ năng, quản lý hiện đại, kinh nghiệm nghiên cứu và xây dựng chính sách kinh tế, đào tạo nguồn nhân lực. Nhật Bản thường cung cấp các công nghệ hiện đại của mình cho các dự án ODA mà Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam bởi thế các dự án đó sẽ mang lại nhiều lợi ích lâu dài cho đất nước. Không những vậy, Nhật Bản luôn quan tâm giúp đỡ Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực bằng cách cử chuyên gia sang Việt Nam hoặc nhận đào tạo nhân lực Việt Nam tại Nhật Bản. Học Viện Tài Chính 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com SV: Nguyễn Thị Uyên Lớp CQ 45/08.01 - ODA Nhật Bản cải thiện đáng kể kết cấu hạ tầng, góp phần tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có Nhật Bản.
Nhờ sự giúp đỡ của ODA Nhật Bản mà nhiều dự án trọng điểm đã đi vào sử dụng. Kết cấu hạ tầng phát triển sẽ giúp đầu tư thuận lợi, khả năng sinh lời của đồng vốn cao hơn mà các nhà đầu tư luôn tìm kiếm những nơi mang lại lợi nhuận cao vì vậy ODA Nhật Bản đã góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế ở Việt Nam. * Nhược điểm - Cơ cấu ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam chưa cân xứng giữa phần viện trợ không hoàn lại và phần cho vay, có phần nặng về cho vay. Viện trợ không hoàn lại của Nhật Bản dành cho Việt Nam chỉ dưới 10% do đó nếu không có kế hoạch quản lý và sử dụng hiệu quả để tạo nguồn trả nợ thì sẽ làm gia tăng gánh nặng nợ nần quốc gia.
- Quy định của Nhật Bản là cho vay bằng đồng Yên đối với tất cả các nước. Vay bằng đồng Yên là rất khó dự báo tỷ giá giữa đồng Yên và đô la Mỹ trong thời gian dài làm cho số tiền vay thực tế so với USD có thể giảm xuống do vậy cần phải tính toán thật kỹ lưỡng. - Các hiệp định vay ODA Nhật Bản chỉ kí kết cho từng giai đoạn của công trình, điều kiện cho vay như lãi suất lại thay đổi. Đây là một khó khăn cho Việt Nam trong việc xác định chủ trương và tính toán hiệu quả đầu tư cho toàn bộ công trình.
- Chính phủ Nhật Bản thường đưa ra các điều kiện ràng buộc đối với Việt Nam. Ví dụ như năm 1999 Chính phủ Nhật Bản cùng WB, IMF đòi kiểm toán 100 doanh nghiệp Nhà nước của Việt Nam. - Giá cả thiết bị, vật tư, dịch vụ tư vấn và chuyên gia thường là của Nhật Bản mà nhiều khi không phù hợp hoặc quá cao so với chi phí thực tế trên thị Học Viện Tài Chính 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com SV: Nguyễn Thị Uyên Lớp CQ 45/08.01 trường lao động thế giới.