Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Tư tưởng giáo dục về học qua trải nghiệm (experiential education) đã xuất hiện sơ khai từ thời cổ đại, song nó chỉ thực sự phát triển và trở thành một tư tưởng giáo dục chính thống và phát triển thành học thuyết khi có những công trình nghiên cứu của các nhà tâm lí học, giáo dục học nổi tiếng trên thế giới. Với triết lí giáo dục đề cao vai trò kinh nghiệm, từ giữa thế kỉ XX, ông đã đưa ra được quan điểm về vai trò của kinh nghiệm trong giáo dục.
Ông cũng chỉ ra rằng, kinh nghiệm giúp nâng cao hiệu quả của giáo dục bằng cách kết nối người học, kiến thức học với thực tiễn cuộc sống, vì thế cần đưa các loại bài tập như nghề làm vườn, dệt, mộc. vào nhà trường [4,12]. David Kolb nghiên cứu chu trình học từ trải nghiệm. Theo ông, các bước của học tập trải nghiệm bao gồm kinh nghiệm cụ thể, quan sát phản chiếu, khái niệm hóa và thử nghiệm tích cực.
Ngoài ra, còn phải kể đến rất nhiều các nhà giáo dục học hiện đại như Willingham, Conrad và Hedin, Druism, Owens và Owens, Karen Warren. Đối với các nước có nền giáo dục phát triển, đặc biệt là các nước tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực, HĐTN được quan tâm và triển khai dưới nhiều góc độ. Trong khu vực châu Á, từ năm 1973, học tập trải nghiệm đã được Hồng Kông áp dụng thông qua việc dạy học qua hoạt động tham quan, dã ngoại. Tư tưởng này tiếp tục phát triển ở các nước châu Á khác như Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc.
Dạy học trải nghiệm có một bước tiến quan trọng hơn khi vào năm 2002, chương trình “Dạy học vì một tương lai bền vững” đã được UNESCO thông qua. Trong chương trình này có phần quan trọng về học qua trải nghiệm.2 Tình hình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, từ thời kì đầu của nền giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội.” Mặc dù cũng đã được vận dụng trong nhiều loại hình trường, song lí thuyết về hoạt động trải nghiệm sáng tạo vẫn còn vô cùng mới mẻ. Dự thảo chương trình giáo dục 4 download by : skknchat@gmail.com phổ thông tổng thể ra đời, trong đó xuất hiện khái niệm mới “Hoạt động trải nghiệm”. Trong dự thảo nêu rõ, theo định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông sau 2015 thì các môn học, chuyên đề học tập và hoạt động trải nghiệm được cấu trúc thành một hệ thống chỉnh thể, thống nhất từ cấp tiểu học đến cấp trung học phổ thông.
HĐTN dành cho tất cả các học sinh từ lớp 1 đến lớp 12 giúp HS vận dụng những tri thức, kiến thức, kĩ năng, thái độ đã học từ nhà trường và những kinh nghiệm bản thân vào thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo [15]. Đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu, các tác giả luận văn, luận án cũng đưa ra những kết quả nghiên cứu về HĐTN trong thời gian gần đây theo hướng tổng hợp lí thuyết, vận dụng HĐTN trong dạy học một số môn học ở THPT, THCS hay tiểu học. Có thể kể đến các tác giả như Nguyễn Thị Chi, Nguyễn Thị Liên, Tưởng Duy Hải, Đinh Thị Kim Thoa. Trong việc đổi mới phương pháp dạy học thì cũng đã có nhiều nghiên cứu nói về việc dạy học nhằm phát triển năng lực GQVĐ như: Đề tài “Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh trong dạy học chương Khúc xạ ánh sáng Vật lí 11 THPT” của tác giả Vũ Văn Thư.
Đề tài “Tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh khi học chương Dòng điện qua các môi trường Vật lí 11” của tác giả Hà Phúc Hậu. Đề tài “Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo về chủ đề Sử dụng an toàn và tiết kiệm điện trong chương điện học Vật lí 9” của tác giả Nguyễn Thị Phượng. Hoạt động trải nghiệm 1. Khái niệm hoạt động trải nghiệm [4,12] Theo Wikipedia, trải nghiệm là tiến trình hay là quá trình hoạt động năng động để thu thập kinh nghiệm, trên tiến trình đó có thể thu thập được những kinh nghiệm tốt hoặc xấu, thu thập được những bình luận, nhận định, rút tỉa tích cực hay tiêu cực, không rõ ràng, còn tùy theo nhiều yếu tố khác như môi trường sống và tâm địa mỗi người.
Trong Từ điển Tiếng Việt, tác giả Hoàng Phê định nghĩa: Trải nghiệm được hiểu đơn giản nhất là những gì con người từng kinh qua thực tế, từng biết, từng chịu. Trải nghiệm mang lại cho con người kinh nghiệm phong phú bởi khi trải nghiệm, ta đã trải qua con đường “thử” và “sai”. Người trải nghiệm nhiều sẽ có nhiều kiến thức, kinh nghiệm sống cho bản thân, giúp con người hình thành năng lực, phẩm chất sống. 5 download by : skknchat@gmail.
Các loại trải nghiệm [4,12] Người ta phân biệt các trải nghiệm khác nhau như trải nghiệm vật chất, trí truệ, tình cảm, tinh thần, gián tiếp và mô phỏng. - Trải nghiệm vật chất (Physical Experiences) Trải nghiệm vật chất xảy ra bất cứ khi nào đối tượng hay môi trường thay đổi. Nói cách khác, trải nghiệm vật chất liên quan đến những trải nghiệm có thể quan sát được. Nó là hình thức bên ngoài của hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng.
Triết lí “trăm nghe không bằng một thấy” hay “Đi một đàng học một sàng khôn” theo chúng tôi là đề cao trải nghiệm của con người và có thể xếp vào loại Trải nghiệm vật chất…. - Trải nghiệm tinh thần (Mental Experiences) Trải nghiệm tinh thần liên quan đến các khía cạnh trí tuệ và ý thức, là sự kết hợp giữa tư duy, nhận thức, trí nhớ, cảm xúc, ý chí và tưởng tượng. Nó bao gồm cả các quá trình nhận thức vô thức. - Trải nghiệm tình cảm (Emotional Experiences) Trải nghiệm tình cảm được diễn ra khi yêu hay kết bạn.
Yêu là trải nghiệm tình cảm. Khái niệm trải nghiệm tình cảm cũng xuất hiện trong khái niệm đồng cảm. Theo tôi, học các môn học thuộc các lĩnh vực giáo dục nghệ thuật, giáo dục đạo đức, lối sống, trẻ cần được trải nghiệm tình cảm thì hiệu quả mới tốt. - Trải nghiệm tâm thần (Spiritual Experiences) - Trải nghiệm xã hội (Social Experiences) - Trải nghiệm mô phỏng (Virtual and Simulation Experiences) Sử dụng máy tính cũng có thể giúp con người có trải nghiệm.
Đóng vai cũng giúp ta trải nghiệm. Sử dụng trò chơi video cũng giúp trải nghiệm, trải nghiệm có tính chất mô phỏng cuộc sống thực. Loại trải nghiệm này thể hiện phương thức trải nghiệm, còn nội dung trải nghiệm là các tình huống giả định với cuộc sống thực nhằm giúp trẻ giải quyết các vấn đề đặt ra. - Trải nghiệm chủ quan (Subjective Experiences) 1.
Một số đặc điểm của hoạt động trải nghiệm [12] Hoạt động trải nghiệm có những đặc điểm cơ bản sau: Hoạt động trải nghiệm là một hoạt động giáo dục như các môn học khác trong chương trình giáo dục phổ thông được thực hiện một cách có tổ chức trong hoặc ngoài 6 download by : skknchat@gmail.com nhà trường. Thông qua việc tham gia vào các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, học sinh được phát huy vai trò chủ thể, tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo của bản thân. Nội dung của hoạt động trải nghiệm: Nội dung giáo dục của hoạt động trải nghiệm thiết thực và gần gũi với cuộc sống thực tế, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của học sinh, giúp các em vận dụng những hiểu biết của mình vào trong thực tiễn cuộc sống một cách thuận lợi. Về quy mô tổ chức: Hoạt động trải nghiệm có thể tổ chức theo những quy mô khác nhau như theo nhóm, theo lớp, theo trường… Về địa điểm: Hoạt động trải nghiệm có thể tổ chức tại nhiều địa điểm khác nhau ở trong hoặc ngoài nhà trường như: lớp học, thư viện, vườn trường, công viên, viện bảo tàng, khu di tích… hút sự tham gia, phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường.
Hình thức tổ chức: Cùng một chủ đề, một nội dung giáo dục nhưng hoạt động trải nghiệm có thể tổ chức theo nhiều hình thức hoạt động khác nhau, tùy theo lứa tuổi và nhu cầu của học sinh, tùy theo điều kiện cụ thể của từng lớp, từng trường, từng địa phương. Lực lượng tham gia: Hoạt động trải nghiệm có khả năng thu hút sự tham gia, phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. Hình thức tổ chức: Cùng một chủ đề, một nội dung giáo dục nhưng hoạt động trải nghiệm có thể tổ chức theo nhiều hình thức hoạt động khác nhau, tùy theo lứa tuổi và nhu cầu của học sinh, tùy theo điều kiện cụ thể của từng lớp, từng trường, từng địa phương.1: Sự khác nhau giữa hoạt động dạy học và HĐTN [1] Hoạt động dạy học Hoạt động trải nghiệm Mục đích Chủ yếu hình thành: NL trí tuệ, kĩ Chủ yếu hình thành phẩm chất, giá trị năng trí tuệ và kĩ năng sống Chức năng - Nhằm thực hiện giáo dục trí tuệ. - Nhằm thực hiện giáo dục đạo đức, nhiệm vụ - Có thế mạnh về mặt phát triển trí thẩm mĩ.
tuệ, nhận thức. Hình thành niềm tin, - Có thế mạnh về mặt xúc cảm, thái chuẩn mực lí tưởng, động cơ, độ. Hình thành niềm tin, chuẩn mực lí nguyên tắc hành vi, lối sống. tưởng, động cơ, nguyên tắc hành vi, lối sống.
Đối tượng - Hệ thống khái niệm. - Hệ thống giá trị chuẩn mực. 7 download by : skknchat@gmail.com - Hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo - Hệ thống các chuẩn mực xã hội (các được quy định chặt chẽ, phù hợp định hướng giá trị về đạo đức, văn hóa logic nhận thức, tuân theo một thẩm mĩ.), có tính không chắc chắn, chương trình, kế hoạch dạy học chủ yếu dựa theo nhu cầu xã hội, nằm đạt được mục tiêu giáo dục xác nguyện vọng và hứng thú của đối định tượng. Lĩnh vực Môn học/khoa học Chủ đề, chủ điểm, nội dung giáo dục đa dạng và phong phú.
Thời gian Chiếm lĩnh nhanh hơn. Lâu dài hơn, bền bỉ hơn. Không gian Phòng học là chủ yếu Ngoài lớp học thông thường, trong nhà máy, trong cuộc sống xã hội. Phương - Truyền đạt, phân tích, giảng giải.
- Trải nghiệm, biểu diễn, kinh qua. thức/Hình - Hình thức: chủ yếu hoạt động cá - Hình thức: chủ yếu hoạt động tập thức nhân.