Luận văn: Hoạt động giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa

Luận văn nghiên cứu thực trạng hoạt động giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa, đưa ra phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2021

78
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa

Hoạt động giám sát là một trong những chức năng cốt lõi, thể hiện vai trò quyền lực nhà nước cao nhất của Quốc hội. Theo Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015, giám sát được định nghĩa là "việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát". Đây là một quá trình chủ động, liên tục nhằm đảm bảo việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ lợi ích của nhân dân. Luận văn "Hoạt động giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa" của tác giả Mai Việt Hà (2021) đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về giám sát quyền lực nhà nước, khẳng định đây không chỉ là việc theo dõi mà còn bao gồm cả việc tác động bằng các biện pháp tích cực để hướng đối tượng bị giám sát đi đúng quỹ đạo. Trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền, chức năng giám sát của Quốc hội càng trở nên quan trọng, đặc biệt ở cấp địa phương thông qua các Đoàn Đại biểu Quốc hội (ĐBQH). Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa, với vai trò là cầu nối giữa Quốc hội và cử tri, thực hiện nhiệm vụ giám sát việc thi hành pháp luật, nghị quyết của Quốc hội trên địa bàn. Hoạt động này góp phần làm cho bộ máy nhà nước hoạt động hiệu quả, minh bạch và có trách nhiệm hơn. Việc nghiên cứu thực tiễn tại Thanh Hóa cung cấp cái nhìn sâu sắc về những thành tựu và thách thức, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi để nâng cao chất lượng giám sát, tăng cường lòng tin của nhân dân.

1.1. Khám phá cơ sở lý luận về giám sát quyền lực nhà nước

Cơ sở lý luận về giám sát quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nguyên tắc "tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân". Nhân dân ủy thác quyền lực cho các cơ quan nhà nước thông qua bầu cử, do đó, cần có một cơ chế để kiểm soát việc thực thi quyền lực đó. Giám sát của Quốc hội và các cơ quan dân cử là hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước mang tính chính trị, đại diện cao nhất. Luận văn nhấn mạnh, giám sát không chỉ dừng lại ở việc phát hiện sai phạm mà còn nhằm mục đích phòng ngừa, bảo đảm các cơ quan nhà nước hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ. Các hình thức giám sát rất đa dạng, bao gồm hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, giám sát chuyên đề, xem xét báo cáo, và lấy phiếu tín nhiệm. Mỗi hình thức đều có những ưu điểm riêng, góp phần tạo nên một hệ thống giám sát toàn diện, từ tầm vĩ mô của Quốc hội đến thực tiễn tại địa phương của Đoàn ĐBQH.

1.2. Phân tích vai trò giám sát của đại biểu Quốc hội và Đoàn

Đại biểu Quốc hội và Đoàn ĐBQH đóng vai trò then chốt trong việc thực thi chức năng giám sát tại địa phương. Theo Luật Tổ chức Quốc hội 2014, ĐBQH có quyền chất vấn, giám sát văn bản quy phạm pháp luật, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động này, đồng thời xây dựng chương trình giám sát hàng năm dựa trên đề nghị của cử tri và tình hình thực tế. Vai trò giám sát của đại biểu Quốc hội thể hiện rõ nhất qua sự tương tác với cử tri Thanh Hóa, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và những bức xúc để đưa ra nghị trường hoặc tiến hành giám sát trực tiếp. Hoạt động này giúp pháp luật đi vào cuộc sống, đồng thời phát hiện những bất cập trong chính sách để kiến nghị sửa đổi, bổ sung kịp thời, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

II. Phân tích thực trạng giám sát của Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa

Thực tiễn hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2015-2020 đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Luận văn của Mai Việt Hà chỉ ra rằng, Đoàn đã chủ động xây dựng chương trình giám sát hàng năm, bám sát các vấn đề nóng, được cử tri quan tâm. Các cuộc giám sát chuyên đề được tổ chức bài bản, tập trung vào các lĩnh vực quan trọng như quản lý đất đai, giảm nghèo bền vững, oan sai trong tố tụng hình sự. Công tác phối hợp với Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Ủy ban MTTQ và các cơ quan hữu quan ngày càng chặt chẽ, tránh chồng chéo và nâng cao hiệu quả. Các kiến nghị sau giám sát đã được nhiều cơ quan tiếp thu, giải quyết, tạo ra những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, thực trạng hoạt động giám sát vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Chất lượng một số cuộc giám sát chưa cao, đôi khi còn hình thức và phụ thuộc nhiều vào báo cáo của đơn vị chịu sự giám sát. Việc theo dõi, đôn đốc thực hiện các kiến nghị sau giám sát có lúc chưa quyết liệt, dẫn đến hiệu quả chưa như mong đợi. Năng lực và điều kiện hoạt động của một số đại biểu, đặc biệt là đại biểu kiêm nhiệm, còn hạn chế, ảnh hưởng đến chiều sâu của hoạt động giám sát.

2.1. Đánh giá những kết quả đạt được trong công tác giám sát

Trong giai đoạn 2015-2020, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa đã triển khai hàng loạt cuộc giám sát quan trọng. Điển hình là giám sát "Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh" và "Tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự". Các báo cáo kết quả giám sát được xây dựng công phu, chỉ ra cụ thể những thành tựu, hạn chế và kiến nghị các giải pháp xác đáng. Hoạt động chất vấn tại các kỳ họp cũng được các đại biểu trong Đoàn tham gia tích cực, phản ánh nhiều vấn đề bức xúc của cử tri. Sự phối hợp nhịp nhàng trong hoạt động giám sát đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, giúp giải quyết nhiều vụ việc phức tạp, kéo dài, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương.

2.2. Nhận diện các hạn chế và bất cập còn tồn tại trong thực tiễn

Bên cạnh những kết quả tích cực, hoạt động giám sát vẫn còn một số điểm yếu. Luận văn chỉ rõ, một số báo cáo của đơn vị chịu giám sát còn sơ sài, thiếu số liệu minh chứng, gây khó khăn cho việc đánh giá khách quan. Hoạt động giám sát của từng đại biểu riêng lẻ còn hạn chế, chủ yếu vẫn là hoạt động chung của Đoàn. Một thách thức lớn là việc giám sát văn bản quy phạm pháp luật, đòi hỏi kiến thức chuyên sâu và toàn diện. Thêm vào đó, cơ chế theo dõi và xử lý sau giám sát chưa đủ mạnh, một số kiến nghị của Đoàn chưa được các cơ quan chức năng phản hồi hoặc thực hiện triệt để, làm giảm hiệu lực của hoạt động giám sát.

III. Bí quyết nâng cao hiệu quả giám sát của Đoàn ĐBQH Thanh Hóa

Để nâng cao hiệu quả giám sát, luận văn đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ, tập trung vào cả yếu tố con người, thể chế và phương pháp thực hiện. Trước hết, cần tiếp tục đổi mới trong việc lựa chọn, bồi dưỡng đại biểu Quốc hội, tăng tỷ lệ đại biểu chuyên trách có đủ năng lực và thời gian để chuyên tâm vào hoạt động giám sát. Việc xây dựng chương trình giám sát cần có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên những vấn đề gây bức xúc trong dư luận và có tác động lớn đến đời sống người dân. Phương pháp tiến hành giám sát cần được đa dạng hóa, không chỉ dựa vào báo cáo mà cần tăng cường khảo sát thực tế, đối thoại trực tiếp với người dân và thu thập thông tin từ nhiều nguồn độc lập. Đặc biệt, cần phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của các chuyên gia, các nhà khoa học trong việc tư vấn, cung cấp luận cứ cho các kết luận giám sát. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, theo dõi và công khai kết quả giám sát cũng là một giải pháp quan trọng để tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Thực hiện tốt những giải pháp này sẽ tạo ra bước đột phá trong hoạt động giám sát của cơ quan dân cử.

3.1. Đổi mới phương pháp giám sát và tăng cường tiếp xúc cử tri

Thay vì các phương pháp truyền thống, Đoàn ĐBQH cần chủ động áp dụng các cách tiếp cận mới. Ví dụ, tổ chức các phiên điều trần công khai về những vấn đề cụ thể, mời đại diện các bên liên quan và chuyên gia tham gia. Tăng cường các cuộc giám sát đột xuất, không báo trước để nắm bắt tình hình thực chất. Hoạt động tiếp xúc cử tri cần được đổi mới theo hướng đa dạng về hình thức, đi vào chiều sâu, không chỉ lắng nghe mà còn tổ chức đối thoại, tranh luận để làm rõ vấn đề. Việc xây dựng các kênh tương tác trực tuyến với cử tri cũng giúp thu thập thông tin nhanh chóng và rộng rãi, phục vụ hiệu quả cho kinh nghiệm giám sát của Đoàn ĐBQH.

3.2. Phát huy vai trò cá nhân của từng đại biểu Quốc hội

Mỗi đại biểu Quốc hội cần xây dựng chương trình giám sát cá nhân hàng năm, phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và địa bàn ứng cử. Đoàn ĐBQH có vai trò hỗ trợ, điều phối để các chương trình này được thực hiện hiệu quả. Cần có cơ chế khuyến khích và bảo vệ đại biểu khi thực hiện quyền giám sát, đặc biệt là khi giám sát những vụ việc phức tạp, nhạy cảm. Việc nâng cao kỹ năng thu thập, phân tích thông tin, kỹ năng chất vấn và tranh luận cho đại biểu là yếu tố then chốt để mỗi đại biểu thực sự trở thành một chủ thể giám sát sắc bén, hiệu quả, đóng góp vào thành công chung của hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa.

IV. Giải pháp hoàn thiện cơ chế phối hợp trong giám sát quyền lực

Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan là yếu tố quyết định hiệu quả của hoạt động giám sát. Giải pháp hoàn thiện cơ chế giám sát không chỉ nằm ở bản thân Đoàn ĐBQH mà còn phụ thuộc vào sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị tại địa phương. Luận văn đề xuất cần xây dựng quy chế phối hợp cụ thể giữa Đoàn ĐBQH với Thường trực HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ tỉnh Thanh Hóa. Quy chế này cần phân định rõ trách nhiệm, nội dung, và cơ chế trao đổi thông tin, xử lý kết quả giám sát. Việc chia sẻ thông tin giữa các cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán với Đoàn ĐBQH cần được thể chế hóa để tránh lãng phí nguồn lực và tận dụng được kết quả của nhau. Một giải pháp quan trọng khác là tăng cường vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, cũng như của báo chí và nhân dân. Việc công khai hóa các kết luận, kiến nghị giám sát và kết quả thực hiện sẽ tạo ra áp lực xã hội cần thiết, buộc các cơ quan chịu sự giám sát phải nghiêm túc thực hiện, qua đó nâng cao hiệu lực của giám sát việc thi hành pháp luật.

4.1. Tối ưu hóa sự phối hợp với Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa

Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh là hai cơ quan dân cử tại địa phương, có nhiều điểm tương đồng về chức năng giám sát. Cần xây dựng kế hoạch giám sát chung hàng năm cho những nội dung trùng lặp để tránh phiền hà cho cơ sở. Có thể thành lập các đoàn giám sát liên tịch cho những chuyên đề lớn, phức tạp. Kết quả giám sát của HĐND là nguồn thông tin đầu vào quan trọng cho hoạt động của Đoàn ĐBQH và ngược lại. Sự phối hợp này không chỉ nâng cao hiệu quả mà còn khẳng định vị thế, vai trò của các hoạt động giám sát của cơ quan dân cử tại địa phương.

4.2. Hoàn thiện pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội

Từ thực tiễn tại Thanh Hóa, luận văn đưa ra kiến nghị cần tiếp tục hoàn thiện Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND. Cần quy định rõ hơn về chế tài xử lý đối với các cơ quan, cá nhân không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các kết luận, kiến nghị sau giám sát. Cần bổ sung các quy định cụ thể về trình tự, thủ tục để một đại biểu Quốc hội có thể tự mình tiến hành một cuộc giám sát độc lập. Việc hoàn thiện hành lang pháp lý sẽ tạo cơ sở vững chắc để hoạt động giám sát đi vào thực chất, hiệu quả và có tính răn đe cao hơn, góp phần xây dựng một bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh.

04/10/2025
Luận văn hoạt động giám sát của đoàn đại biểu quốc hội từ thực tiễn tỉnh thanh hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI 1. Chức năng giám sát của Quốc hội và hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu quốc hội tỉnh. Khái niệm giám sát Theo từ điển Tiếng Việt, giám sát được hiểu là “theo dõi việc thực hiện những điều đã cam kết, quy định”, hay là "sự theo dõi, xem xét làm đúng hoặc sai những điều đã quy định”. Dưới góc độ nghiên cứu, có ý kiến cho rằng, giám sát được hiểu là việc “theo dõi, xem xét, đánh giá”, bao gồm hành vi quan sát (theo dõi, xem xét, cân nhắc) và hành vi phán quyết (đánh giá) đối với hoạt động (hành vi) của đối tượng chịu sự giám sát.

Tuy nhiên, nếu hiểu đơn giản theo quan điểm này thì giám sát chỉ đơn thuần được xem là các hoạt động diễn ra trong nội tại của chủ thể giám sát mà không cho thấy mối liên hệ tác động qua lại mang tính tích cực, chủ động giữa chủ thể giám sát và đối tượng giám sát, không thể hiện được mục đích, vai trò của hoạt động giám sát là nhằm bảo đảm các đối tượng giám sát thực hiện đúng theo các cam kết, quy định. Giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được những mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước; giám sát không chỉ dừng lại ở việc chủ thể giám sát quan sát, phán quyết mà còn bao gồm cả việc chủ thể giám sát bày tỏ thái độ, thực hiện các hành động để tác động lên hành vi của đối tượng bị giám sát. Phù hợp với quan điểm này, khoản 1 Điều 2 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 đã quy định: “Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý”. Nội hàm có thể hiểu “Giám 11 sát” là việc một chủ thể có thẩm quyền (chủ thể giám sát) nhất định theo dõi một cách chủ động, theo trình tự, thủ tục do luật định đối với hoạt động của đối tượng đã được xác định (chủ thể chịu sự giám sát), qua đó xem xét, đánh giá hiệu lực, hiệu quả hoạt động cũng như việc tuân thủ pháp luật của các đối tượng, xem có vi phạm hay không, những hạn chế, bất cập và nếu có thì đưa ra biện pháp cần thiết để bảo đảm hoạt động của đối tượng đó tuân thủ các quy định và mục đích đã đặt ra.

Các biện pháp đưa ra thường dưới hình thức các yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý; một số chủ thể có thể trực tiếp quyết định xử lý theo thẩm quyền luật định. Như vậy, giám sát là sự theo dõi, quan sát mang tính chủ động, thường xuyên của cơ quan, tổ chức hoặc nhân dân đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát và hướng các hoạt động đó đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã xác định từ trước, bảo đảm Hiến pháp và pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh. Đồng thời, giám sát còn là quyền của nhân dân, của tổ chức xã hội xem xét đối với hoạt động của bộ máy nhà nước, của cán bộ, công chức nhà nước trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Khái niệm hoạt động giám sát Quốc gia độc lập và thịnh vượng là khát vọng ngàn đời của dân tộc.

Nếu như cha ông ta thuở trước đã thực hiện tốt nhiệm vụ thứ nhất, thì xây dựng đất nước giàu mạnh đang là vấn đề đặt ra đối với thế hệ hôm nay. Để thúc đẩy sự phát triển đòi hỏi mỗi cá nhân phải là một chủ thể năng động, đầy quyết tâm và phải có những “sợi dây” liên kết họ lại, tạo thành một hợp lực mạnh mẽ hướng về phía trước. Sự giàu có và thịnh vượng được tạo ra từ sức lao động và trí tuệ của nhân dân, nó không thể là vật phẩm do ai đó ban tặng. Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung được xây dựng trong giai đoạn đầu của nền cộng hoà và tồn tại trong suốt thời kỳ chiến tranh đã có những đóng góp quan trọng trong việc đáp ứng các nhu cầu của cuộc kháng chiến giành độc lập, thống nhất đất nước, về cơ bản phù hợp với quy luật của kinh tế thời chiến.

Tuy nhiên khi đất nước ra khỏi chiến tranh, cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trungđã không còn phù hợp và trở thành vật cản bước tiến của xã hội. 12 Để mở đường cho sự phát triển xã hội, Đảng ta đã phát động công cuộc đổi mới từ năm 1986 với dung quan là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung sang nền kinh tế theo cơ chế thị trường; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã và đang có sự thay đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Người dân ngày càng tin tưởng vào nền kinh tế thị trường và triển vọng phát triển kinh tế đất nước.

Nhưng con đường tiến bộ xây dựng nền kinh tế thị trường, thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, hội nhập vào thế giới văn minh đang bị cản trở bởi sự đổi mới chậm chạp trong bộ máy nhà nước. Mô hình Nhà nước pháp quyền không những chưa được định hình mà những đổi mới trong bộ máy nhà nước hiện nay chỉ phản ánh sự thay đổi về lượng, chưa thực sự thay đổi về chất. Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, trách nhiệm cá nhân chưa được đề cao, cơ chế xin - cho vẫn còn tồn tại, thói quen quản lý và hành động theo pháp luật chưa hình thành, nguyên tắc dân chủ còn bị vi phạm, tính công khai, minh bạch thấp, tham nhũng, nhận hối lộ tràn lan. Nếu tiếp tục duy trì một bộ máy nhà nước như vậy thì nền kinh tế thị trường năng động, hiện đại không thể xây dựng được.

Hoạt động của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội và mối liên hệ giữa đại biểu với cử tri đang là một vấn đề bức xúc hiện nay. Hầu hết mọi người dân đều không nhớ và không biết mình có người đại diện. Những cơ chế, quan niệm, giá trị cũ kỹ và cả những mâu thuẫn nội tại của pháp luật đang cản trở sự vận hành và phát triển của nền dân chủ đại diện.Giám sát được hiểu rộng hơn bởi để thực hiện được hoạt động giám sát thì không chỉ có chủ thể tiến hành và đối tượng chịu giám sát, nhất là giám sát mang tính chất quyền lực nhà nước như giám sát của Quốc hội và giám sát của ĐĐBQH, ĐBQH. Đối tượng tác động còn gồm cả các đối tượng khác như công dân, cơ quan, tổ chức có liên quan như người được mời tham gia hoạt động giám sát, cơ quan, tổ chức phải cung cấp thông tin liên quan… Do đó, việc đánh giá hoạt động giám sát có ý nghĩa chính trị pháp lý, theo Cuốn Từ điển Quản lý công, thì hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản 13 phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người (chủ thể).

Đây là quá trình mà tâm lí của con người (của chủ thể) được bộc lộ, được khách quan hoá trong quá trình làm ra sản phẩm. Như vậy, hoạt động là quá trình tác động qua lại tích cực giữa con người với thế giới khách quan mà qua đó mối quan hệ thực tiễn giữa con người với thế giới khách quan được thiết lập. Trong mối quan hệ đó có hai quá trình diễn ra đồng thời và bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau là quá trình đối tượng hoá và quá trình chủ thể hoá. Dưới góc độ trình tự thì hoạt động giám sát điều chỉnh từ giai đoạn chuẩn bị, tiến hành giám sát và sau khi hành vi giám sát kết thúc (việc đưa ra hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát).

Hoạt động về giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội trước đây, khi mà vai trò của cơ quan dân cử chưa được coi trọng, thường chỉ dừng ở quy định Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội giám sát ai và bằng hình thức nào, vì vậy trong thực tế, Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội khó thực hiện quyền giám sát. Với sự phát triển của xã hội, sự phát triển hình thức dân chủ, vị trí cơ quan đại diện của nhân dân được đề cao, theo đó, hoạt động quy định về hoạt động giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội càng chặt chẽ, đầy đủ, từ quy định về quyền giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội, trình tự, thủ tục tiến hành giám sát, hậu quả pháp lý hoạt động giám sát đến việc điều chỉnh các mối quan hệ giữa chủ thể giám sát và các đối tượng có liên quan. Từ quan điểm đó, có thể hiểu khái niệm hoạt động về giám sát của Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội như sau: Hoạt động về giám sát là quá trình pháp lý chính đáng thực hiện các quy phạm do nhà nước ban hành vào các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình Đoàn Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội giám sát; bao gồm các hoạt động: dự kiến chương trình giám sát, triển khai hoạt động giám sát và quyết định hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát. Chức năng giám sát của Quốc hội Giám sát là một hình thức để Quốc hội thể hiện tính đại diện cao nhất của Nhân dân, nó có mối liên hệ chặt chẽ với hoạt động lập pháp.

Để pháp luật được 14 thực thi trong đời sống, không thể thiếu hoạt động giám sát, hay nói cách khác, tính hiệu quả của pháp luật trong một chừng mực nhất định phụ thuộc vào hiệu quả của hoạt động giám sát. Đây được hiểu là việc theo dõi các hoạt động của hành pháp có hiệu quả, minh bạch và trung thực hay không, để đảm bảo các quyết định phê duyệt ngân sách của Quốc hội được thực hiện đúng mục đích đề ra và có hiệu quả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ