Luận văn Thạc sĩ: Hà Nội trong tản văn Nguyễn Trương Quý (Trịnh Thị Hào)

Luận văn thạc sĩ phân tích sâu sắc hình tượng Hà Nội trong tản văn của Nguyễn Trương Quý, khám phá những giá trị văn hóa và con người thủ đô.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2018

112
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề

0.2.1. Những bài viết và công trình nghiên cứu văn chương Nguyễn Trương Qúy

0.2.2. Những công trình nghiên cứu tản văn Nguyễn Trương Qúy

0.3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

0.3.1. Đối tượng nghiên cứu

0.3.2. Mục tiêu nghiên cứu

0.4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

0.4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.4.2. Phương pháp nghiên cứu

0.4.2.1. Phương pháp phân tích - tổng hợp
0.4.2.2. Phương pháp nghiên cứu tiểu sử
0.4.2.3. Phương pháp so sánh - thống kê
0.4.2.4. Phương pháp cấu trúc
0.4.2.5. Phương pháp liên ngành

0.5. Phạm vi nghiên cứu

0.6. Đóng góp của luận văn

0.7. Cấu trúc của luận văn

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THỂ LOẠI TẢN VĂN VÀ TẢN VĂN CỦA NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ

1.1. Khát quát về thể loại Tản văn

1.1.1. Khái niệm tản văn

1.1.2. Đặc trưng thể loại tản văn

1.1.3. Phân loại tản văn

1.1.4. Mối liên hệ tản văn và kí

1.2. Đề tài Hà Nội trong văn chương Việt Nam

1.2.1. Đề tài Hà Nội trong văn chương Việt Nam hiện đại

1.2.2. Hà Nội qua những cuốn tiểu thuyết, tản văn, và khảo cứu viết về Hà Nội

1.3. Tản văn của một kiến trúc sư – Nguyễn Trương Qúy

1.3.1. Nguyễn Trương Quý – nghiệp đời, nghiệp văn

1.3.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến ngòi bút Nguyễn Trương Qúy

1.3.3. Hà Nội đối tượng nghệ thuật trong sáng tác Nguyễn Trương Quý

1.3.4. Tấm căn cước của không gian sống trong tản văn Nguyễn Trương Qúy

2. CHƯƠNG 2: BỨC TRANH HÀ NỘI NHÌN TỪ GÓC NHÌN: KIẾN TRÚC - VĂN HÓA - ÂM NHẠC

2.1. Bức tranh Hà Nội từ góc nhìn của một Kiến trúc sư Nguyễn Trương Qúy

2.1.1. Bức tranh Hà Nội từ góc nhìn kiến trúc

2.1.2. Đời sống thị dân Hà Nội nhìn từ góc nhìn của một kiến trúc sư

2.2. Bức tranh Hà Nội từ góc nhìn văn hóa

2.2.1. Đời sống văn hóa Hà Nội trong phạm vi trung tâm Hà Nội

2.2.2. Đời sống văn hóa Hà Nội khi ra khỏi phạm vi trung tâm Hà Nội

2.2.3. Đời sống văn hóa Hà Nội ở cự li 1000 cây số và xa hơn thế

2.3. Bức tranh Hà Nội từ góc nhìn âm nhạc

2.3.1. Từ trong ca khúc Hà Nội diễm lệ và kì ảo

2.3.2. Từ trong ca khúc người Hà Nội lịch lãm, duyên dáng

2.3.3. Nhạc sĩ, nhạc sư và ca sĩ hát về Hà Nội tài hoa, lãng mạn

3. CHƯƠNG 3: VĂN PHONG CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ TRONG TẢN VĂN VIẾT VỀ HÀ NỘI

3.1. Cách đặt “tựa” cho từng bài tản văn viết về Hà Nội

3.2. Giọng văn dí dỏm và trần trụi trong tản văn viết về Hà Nội của Nguyễn Trương Qúy

3.3. Tính thời sự trong tản văn Nguyễn Trương Qúy

3.4. Kết cấu và “thủ thuật” trong tản văn viết về Hà Nội của Nguyễn Trương Qúy

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Hướng dẫn toàn diện luận văn Hà Nội trong tản văn Nguyễn Trương Quý

Việc nghiên cứu đề tài Hà Nội trong tản văn của Nguyễn Trương Quý mở ra một góc nhìn mới mẻ và sâu sắc về Thủ đô trong bối cảnh văn học đương đại Việt Nam. Nguyễn Trương Quý, một kiến trúc sư chuyển sang viết văn, mang đến một lăng kính độc đáo để quan sát và ghi chép lại những biến chuyển của Hà Nội. Các tác phẩm của ông không chỉ là những trang viết trữ tình mà còn là những lát cắt xã hội học, kiến trúc học và văn hóa học về một thành phố đang trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ. Luận văn này tập trung vào việc phân tích tản văn Nguyễn Trương Quý, làm rõ cách ông tái hiện hình tượng Hà Nội trong văn học một cách chân thực và đa chiều. Thông qua việc khảo sát các tác phẩm tiêu biểu như “Tự nhiên như người Hà Nội”, “Ăn phở rất khó thấy ngon”, và “Xe máy tiếu ngạo”, công trình nghiên cứu này chỉ ra những đóng góp quan trọng của tác giả đối với thể loại tản văn và mảng đề tài viết về Hà Nội. Đây là một nỗ lực nhằm hệ thống hóa và đánh giá những giá trị nội dung và nghệ thuật trong sáng tác của một cây bút tiêu biểu cho thế hệ 7X, người đã mang đến một “tấm căn cước” mới cho không gian sống đô thị Hà Nội. Việc tìm hiểu này không chỉ góp phần làm sáng tỏ tài năng văn chương của nhà văn mà còn cung cấp một tài liệu tham khảo giá trị cho những ai quan tâm đến văn hóa Hà Nội và sự phát triển của văn xuôi Việt Nam trong thế kỷ XXI.

1.1. Giới thiệu tác giả Nguyễn Trương Quý và nghiệp văn đặc biệt

Nguyễn Trương Quý (sinh năm 1977) là một trường hợp đặc biệt trong làng văn. Xuất thân là một kiến trúc sư được đào tạo bài bản, ông lại chọn văn chương làm sự nghiệp. Chính nền tảng kiến trúc đã mang lại cho ông một cảm thức về không gian đô thị sắc sảo và khác biệt. Thay vì hoài niệm về một Hà Nội cổ xưa, ông tập trung vào thực tại, mổ xẻ những vấn đề của một thành phố đang thay đổi từng ngày. Nhà văn Đỗ Bích Thúy nhận xét: “Người yêu Hà Nội thì rất nhiều, người viết về Hà Nội cũng nhiều, nhưng cách viết của Nguyễn Trương Quý hấp dẫn ở chỗ: Từ những điều dung dị nhất, ai cũng có thể hình dung ra một Hà Nội của thế kỉ 21”. Con đường văn chương của ông là một minh chứng cho thấy nghệ thuật không có ranh giới, chỉ cần có tâm hồn nghệ sĩ và một tấm lòng rộng mở với cuộc đời.

1.2. Tầm quan trọng của đề tài Hà Nội trong văn học đương đại

Hà Nội luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho các văn nghệ sĩ. Tuy nhiên, trong bối cảnh văn học đương đại Việt Nam, việc viết về một đề tài quen thuộc như Hà Nội là một thách thức lớn. Các tác phẩm của Nguyễn Trương Quý đã góp phần làm mới và làm phong phú thêm mảng đề tài này. Ông không thi vị hóa Hà Nội, mà nhìn thẳng vào những xô bồ, va đập của đời sống thị dân. Qua các tập tản văn, hình tượng Hà Nội trong văn học hiện lên không chỉ với vẻ đẹp ngàn năm văn hiến mà còn với những vấn đề nhức nhối của thời đại: quy hoạch đô thị, văn hóa ứng xử, lối sống của con người Hà thành mới. Các tác phẩm của ông trở thành một nguồn tư liệu quý giá để hiểu về Hà Nội trong giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ, một thành phố vừa quen thuộc vừa lạ lẫm.

II. Bí quyết làm mới đề tài Hà Nội trong tản văn Nguyễn Trương Quý

Viết về Hà Nội, một đề tài tưởng chừng đã được khai thác đến cạn kiệt, là một thách thức lớn đối với bất kỳ nhà văn nào. Nhiều tác phẩm đã đi vào lòng người, tạo nên những tượng đài khó vượt qua. Tuy nhiên, Nguyễn Trương Quý đã tìm ra lối đi riêng, làm mới thành công đề tài này bằng một cách tiếp cận độc đáo. Bí quyết của ông nằm ở việc từ bỏ lối viết hoài niệm, lãng mạn hóa quá khứ. Thay vào đó, ông sử dụng con mắt của một kiến trúc sư và một nhà quan sát xã hội sắc sảo để “giải phẫu” Hà Nội đương đại. Ông không né tránh những góc khuất, những sự thật trần trụi của một đô thị đang phát triển quá nhanh. Chính phong cách nghệ thuật Nguyễn Trương Quý đã tạo nên sự khác biệt: giọng văn thông minh, hóm hỉnh, pha chút giễu nhại nhưng đằng sau đó là những trăn trở sâu sắc. Ông tập trung vào những câu chuyện “nho nhỏ, be bé, rất đời thường”, từ chuyện “xe máy tiếu ngạo” đến “forum nước chè”. Từ những chi tiết vụn vặt đó, một bức tranh Hà Nội sống động, chân thực và đầy hơi thở thời đại hiện lên, khác biệt hoàn toàn với hình ảnh Hà Nội trong tác phẩm của các thế hệ đi trước. Đây chính là đóng góp quan trọng, khẳng định vị thế của ông trong dòng văn học viết về Hà Nội.

2.1. Phân tích sự bão hòa của đề tài văn học viết về Hà Nội

Đề tài Hà Nội trong văn chương Việt Nam có một lịch sử lâu đời và phong phú, từ Thạch Lam, Nguyễn Tuân đến Băng Sơn, Đỗ Phấn. Mỗi tác giả đều để lại dấu ấn riêng, góp phần tạo nên một hình tượng Hà Nội trong văn học đa dạng. Tuy nhiên, sự phong phú này cũng tạo ra một áp lực lớn, khiến đề tài dễ rơi vào lối mòn, lặp lại những cảm xúc hoài cổ về “Hà Nội xưa”. Thách thức đặt ra cho các nhà văn thế hệ sau là làm sao để tìm ra một tiếng nói mới, một góc nhìn mới, phản ánh được một Hà Nội đang vận động và thay đổi không ngừng. Nhiều tác phẩm chỉ dừng lại ở việc tiếc nuối những giá trị cũ đang phai nhạt mà chưa thực sự nắm bắt được tinh thần của Hà Nội thế kỷ XXI.

2.2. Cái nhìn độc đáo của Nguyễn Trương Quý về không gian đô thị

Nguyễn Trương Quý vượt qua thách thức bằng cách tiếp cận Hà Nội như một “sinh thể sống”. Ông không chỉ viết về phố phường, con người mà còn viết về mối quan hệ tương tác giữa họ. Cảm thức về không gian đô thị của ông rất mạnh mẽ. Ông nhìn thấy sự “vỡ vụn”, “nham nhở” trong quy hoạch kiến trúc, sự xô bồ trong thói quen sinh hoạt và cả những nét duyên ngầm ẩn sau cái vẻ ngoài lộn xộn đó. Tác phẩm của ông, đặc biệt là “Tự nhiên như người Hà Nội”, được xem như một loại “hồ sơ kiến trúc” bằng văn chương, ghi lại những biến đổi của không gian sống, từ những con ngõ nhỏ, vỉa hè cho đến những công trình lớn. Cái nhìn này vừa tỉnh táo, vừa giàu chất tư liệu, lại không thiếu sự chiêm nghiệm, tạo nên một lối viết riêng biệt và hấp dẫn.

III. Phương pháp khắc họa Hà Nội trong tản văn Nguyễn Trương Quý

Nguyễn Trương Quý sử dụng một phương pháp tiếp cận đa ngành để khắc họa Hà Nội, kết hợp giữa con mắt của kiến trúc sư, nhà báo và nhà văn hóa. Ông không miêu tả Hà Nội một cách đơn thuần mà luôn đặt nó trong sự đối sánh giữa quá khứ và hiện tại, giữa lý tưởng và thực tế. Phương pháp chủ đạo trong các tác phẩm là quan sát trực diện và ghi chép tỉ mỉ. Ông chú ý đến những chi tiết mà người khác có thể bỏ qua: kết cấu của một khu tập thể cũ, thói quen đi xe máy của người dân, hay sự biến đổi của một món ăn quen thuộc như phở. Từ những quan sát vi mô, ông khái quát lên những vấn đề vĩ mô của xã hội đô thị. Luận văn của Trịnh Thị Hào chỉ rõ, ông nhìn Hà Nội từ ba góc độ chính: kiến trúc, văn hóa và âm nhạc. Mỗi góc nhìn mở ra một chiều kích khác nhau của thành phố. Bằng việc phân tích sâu sắc các yếu tố này, việc phân tích tản văn Nguyễn Trương Quý cho thấy ông đã xây dựng một hình tượng Hà Nội trong văn học vừa gần gũi, đời thường, vừa phức tạp và đầy suy tư. Đây là cách ông kiến tạo nên một không gian Hà Nội của riêng mình, một không gian vừa có tính tư liệu, vừa đậm dấu ấn cá nhân.

3.1. Cảm thức về không gian đô thị qua góc nhìn của kiến trúc sư

Với nền tảng kiến trúc, Nguyễn Trương Quý có một cảm thức về không gian đô thị đặc biệt nhạy bén. Ông phân tích các vấn đề quy hoạch, kiến trúc của Hà Nội không phải bằng những thuật ngữ khô khan, mà bằng một ngôn ngữ văn chương giàu hình ảnh. Ông chỉ ra sự bất hợp lý trong việc “cài cắm kiến trúc mới” bên cạnh các di sản cũ, hay sự thiếu thốn không gian công cộng như công viên. Trong “Tự nhiên như người Hà Nội”, ông viết về quy hoạch Hồ Tây: “Ngôi chùa đẹp nhất Hà Nội là chùa Kim Liên… hiện bị kẹp giữa hai khách sạn… Đáng nói là sự thô thiển của hai khách sạn sau có để ở chỗ khác cũng khó chấp nhận”. Cách nhìn này lột tả một Hà Nội đang bị “xộc xệch”, “quá tải” về mặt vật chất, nơi các giá trị văn hóa, lịch sử đang bị đe dọa bởi lợi ích kinh tế.

3.2. Hình tượng Hồ Gươm và khu phố cổ 36 phố phường biến đổi

Hồ Gươm và Hà Nội 36 phố phường là linh hồn của Hà Nội, nhưng dưới ngòi bút Nguyễn Trương Quý, những không gian này không còn giữ vẻ nguyên sơ. Ông nhìn nhận chúng như những thực thể đang biến đổi từng ngày. Phố cổ không còn là nơi “bán nguyên trang” một mặt hàng như xưa, mà đã trở thành một không gian thương mại hỗn tạp. Ông chua chát nhận xét về việc bảo tồn phố cổ kiểu hình thức: “hình thức liêu xiêu với xô nghiêng chỉ để làm dáng cho các bác họa sĩ và nhạc sĩ tìm bút hứng, còn giá trị cổ hả?”. Ký ức và hoài niệm về Hà Nội chỉ là cái cớ để ông nói về sự thật phũ phàng của hiện tại, nơi “không còn một khu phố dân gian đầy ma lực nữa”.

IV. Phân tích hình tượng văn hóa Hà Nội trong tản văn Nguyễn Quý

Bên cạnh không gian kiến trúc, văn hóa Hà Nộicon người Hà thành là đối tượng trung tâm trong tản văn Nguyễn Trương Quý. Ông không lý tưởng hóa nét thanh lịch Tràng An mà tập trung khắc họa chân dung con người đô thị hiện đại với đầy đủ những thói quen, hành vi và cả những tật xấu. Tác phẩm của ông như một cuốn biên niên sử về đời sống thị dân thế kỷ XXI. Trong “Ăn phở rất khó thấy ngon”, ông phác họa một cách châm biếm nhưng sắc sảo thế giới công sở với “văn hóa phong bì”, “gameshow công sở”. Trong “Xe máy tiếu ngạo”, ông lại khám phá “văn hóa xe máy”, một nét đặc trưng không thể thiếu của Hà Nội. Đặc biệt, ông có những trang viết sâu sắc về văn hóa ẩm thực và âm nhạc. Việc phân tích tản văn Nguyễn Trương Quý cho thấy ông có khả năng kết nối những mảng văn hóa tưởng chừng riêng rẽ thành một bức tranh tổng thể, sống động. Qua đó, người đọc thấy được một Hà Nội đang trong cuộc giằng co giữa việc bảo tồn bản sắc và sự xâm nhập của các giá trị mới, một Hà Nội vừa đáng yêu, vừa đáng suy ngẫm.

4.1. Đặc tả đời sống thị dân và con người Hà thành hiện đại

Nguyễn Trương Quý dành nhiều trang viết để đặc tả con người Hà thành trong bối cảnh mới. Đó là giới viên chức văn phòng trong “Ăn phở rất khó thấy ngon”, những người “phức tạp về chuyện nghĩ ngợi nhất trong xã hội”. Đó cũng là những người dân bình thường với những hành vi ứng xử nơi công cộng, từ kiểu buôn bán “cháo quát, phở chửi” đến những thói quen tiêu dùng. Ông không phán xét mà chỉ quan sát và ghi lại, để lộ ra một thực tế rằng “một tấm hộ khẩu hành chính và một tấm hộ khẩu văn hóa không phải là hai thứ song hành”. Chân dung con người trong tản văn của ông rất chân thực, gần gũi và không tô hồng.

4.2. Ký ức và hoài niệm về Hà Nội trong các tác phẩm tiêu biểu

Dù tập trung vào hiện tại, yếu tố ký ức và hoài niệm về Hà Nội vẫn xuất hiện trong tản văn Nguyễn Trương Quý, nhưng không phải như một sự nuối tiếc. Ký ức được ông sử dụng như một điểm tựa, một hệ quy chiếu để làm nổi bật sự đổi thay của hiện tại. Trong “Mỗi góc phố một người đang sống”, ông nhắc về Hà Nội thời “vẫn còn quê” với nhiều ao hồ, ruộng vườn không phải để thoát ly thực tại, mà để cho thấy sự choáng ngợp trước tốc độ đô thị hóa. Với ông, quá khứ đã hoàn thành sứ mệnh và nhiệm vụ của người viết là “mang lại cho người đọc cái nhìn thẳng thắn và thực tế về bối cảnh sống của họ”.

4.3. Phản ánh văn hóa Hà Nội qua ẩm thực và âm nhạc đặc sắc

Ẩm thực và âm nhạc là hai cánh cửa quan trọng để Nguyễn Trương Quý tiếp cận văn hóa Hà Nội. Cuốn “Ăn phở rất khó thấy ngon” không chỉ nói về giới văn phòng mà còn là một suy ngẫm về sự biến đổi của món ăn “quốc hồn quốc túy”. Cuốn “Còn ai hát về Hà Nội” lại là một công trình khảo cứu công phu về các ca khúc viết về Hà Nội, từ tân nhạc sơ khai đến đương đại. Qua âm nhạc, một Hà Nội diễm lệ, kỳ ảo và lãng mạn hiện lên, đối lập với thực tại xô bồ. Đây là một cách tiếp cận độc đáo, cho thấy sự uyên bác và tình yêu sâu sắc của tác giả đối với văn hóa Thủ đô.

V. Giải mã phong cách nghệ thuật trong tản văn Nguyễn Trương Quý

Thành công của Nguyễn Trương Quý không chỉ đến từ nội dung mới mẻ mà còn từ một phong cách nghệ thuật độc đáo và nhất quán. Luận văn của Trịnh Thị Hào đã chỉ ra những đặc điểm tản văn Nguyễn Trương Quý một cách chi tiết. Trước hết, đó là một giọng điệu tản văn đặc trưng: thông minh, dí dỏm, tỉnh táo và đôi khi nhuốm màu giễu nhại. Ông sử dụng lối viết ngắn gọn, trực tiếp, đậm chất báo chí nhưng vẫn giàu sức gợi của văn chương. Phong cách này được ví như lối viết Hemingway, tập trung vào sự thật, tránh những miêu tả cảm tính, lan man. Một đặc điểm nổi bật khác là khả năng vận dụng kiến thức liên ngành. Các bài viết của ông luôn đầy ắp thông tin, từ kiến trúc, lịch sử, xã hội học đến âm nhạc, tạo nên một chiều sâu tri thức hiếm thấy ở thể loại tản văn. Cuối cùng, cái tôi trữ tình trong tản văn của ông không bộc lộ một cách ủy mị, mà ẩn sau những quan sát khách quan, những bình luận sắc sảo. Đó là cái tôi của một trí thức đô thị, yêu Hà Nội theo một cách riêng, vừa trăn trở, vừa tỉnh táo.

5.1. Phân tích giọng điệu tản văn Dí dỏm trần trụi và chiêm nghiệm

Nhà thơ Thụy Anh nhận xét về văn của Quý: “Đọc Quý, độc giả được thỏa mãn nhiều điều:… Và nữa là được cười. Mỉm cười, rồi cười phá lên”. Giọng điệu tản văn của ông là sự pha trộn giữa hài hước và cay đắng. Ông viết về những vấn đề nghiêm túc như quy hoạch đô thị hay sự xuống cấp văn hóa bằng một giọng văn nhẹ nhàng, tưng tửng. Sự dí dỏm ấy giúp những trang viết trần trụi về hiện thực không trở nên nặng nề, mà ngược lại, dễ tiếp nhận và thấm thía hơn. Đằng sau nụ cười là những suy ngẫm sâu sắc, những câu hỏi day dứt về tương lai của Hà Nội, đúng như Jacob O. Gold đã viết, đó là những “sáng tạo hài hước pha cay đắng”.

5.2. Đặc điểm kết cấu và thủ pháp nghệ thuật trong tản văn

Kết cấu tản văn của Nguyễn Trương Quý rất linh hoạt, thường được xây dựng dựa trên sự liên tưởng và đối sánh. Ông có thể bắt đầu từ một chi tiết rất nhỏ (một quán phở, một chiếc xe máy) để mở ra những vấn đề lớn hơn của xã hội. Thủ pháp đặt “tựa” cho mỗi bài viết cũng là một nét độc đáo, thường gây tò mò và mang tính thời sự cao. Ông vận dụng thành công các biện pháp tu từ, đặc biệt là lối nói giễu nhại, để tạo nên hiệu quả châm biếm. Những đặc điểm tản văn Nguyễn Trương Quý này cho thấy một tư duy nghệ thuật hiện đại, có ý thức cao về hình thức thể loại.

VI. Tổng kết luận văn Đóng góp của tản văn Nguyễn Trương Quý

Công trình luận văn văn học về Hà Nội trong tản văn Nguyễn Trương Quý đã khẳng định những đóng góp quan trọng của nhà văn đối với văn học đương đại Việt Nam. Nguyễn Trương Quý không chỉ làm mới một đề tài quen thuộc mà còn góp phần nâng cao vị thế của thể loại tản văn, vốn thường bị coi là “văn học loại hai”. Các tác phẩm của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy của một kiến trúc sư, sự sắc sảo của một nhà báo và sự tinh tế của một nghệ sĩ. Ông đã thành công trong việc “định dạng tấm căn cước của không gian sống đô thị Hà Nội”, vẽ nên một bức tranh chân thực, đa chiều và đầy trăn trở về Thủ đô trong thế kỷ XXI. Với một phong cách nghệ thuật độc đáo và một tư duy viết nghiêm túc, Nguyễn Trương Quý đã chứng tỏ mình là một trong những cây bút viết về Hà Nội đặc sắc nhất của thế hệ mình. Những trang viết của ông không chỉ có giá trị văn học mà còn là nguồn tư liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu về đô thị học, văn hóa học và xã hội học, mở ra những hướng tiếp cận mới và sâu sắc hơn về Hà Nội.

6.1. Khẳng định vị thế của Nguyễn Trương Quý trong văn học đương đại

Thông qua việc liên tục xuất bản 6 cuốn tản văn về Hà Nội và nhận được sự đón nhận nồng nhiệt của độc giả, Nguyễn Trương Quý đã khẳng định được vị trí vững chắc của mình trong nền văn học đương đại Việt Nam. Ông là đại diện tiêu biểu cho một thế hệ nhà văn mới, có khả năng quan sát tinh tế, tư duy mạch lạc và vốn kiến thức sâu rộng. Các tác phẩm của ông, như cuốn “Xe máy tiếu ngạo” được dịch sang tiếng Anh, đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia, giới thiệu một góc nhìn chân thực về văn hóa Hà Nội đến với bạn bè quốc tế. Ông đã góp phần chứng minh rằng tản văn hoàn toàn có thể là một thể loại chuyên chở những tư tưởng lớn và có sức nặng.

6.2. Mở ra hướng tiếp cận mới cho các luận văn văn học về Hà Nội

Việc nghiên cứu tản văn Nguyễn Trương Quý mở ra một hướng đi mới cho các luận văn văn học về đề tài Hà Nội. Thay vì chỉ tập trung vào các giá trị quá khứ, các công trình nghiên cứu có thể đi sâu vào phân tích những vấn đề đương đại mà ông đã đặt ra: mối quan hệ giữa quy hoạch và văn hóa, sự biến đổi trong lối sống thị dân, và cuộc đấu tranh giữa bản sắc và toàn cầu hóa. Sáng tác của ông là một gợi ý quan trọng cho việc tiếp cận văn học từ góc độ liên ngành, kết hợp văn học với kiến trúc, xã hội học và truyền thông. Đây là một đóng góp có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn, thúc đẩy sự quan tâm nghiên cứu về thể loại tản văn trong nhà trường.

03/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT VỀ THỂ LOẠI TẢN VĂN VÀ TẢN VĂN CỦA NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ 1. Khát quát về thể loại Tản văn 1. Khái niệm tản văn Tản văn – một thể loại tưởng như không có thời hưng thịnh, tưởng như người đọc chẳng có lúc nào phải đắn đo, và cũng chẳng đến nỗi có lúc phải đưa ra bàn tán, ấy thế mà đã đến lúc mọi việc đều đã thay đổi và người đọc đã phải tìm đến những cuốn tản văn, và những trang tản văn cũng đeo đuổi bám rễ và làm trắc ẩn những suy nghĩ trong tâm hồn người đọc. Tuy vậy, cho đến nay cách gọi tản văn vẫn chưa thống nhất về nội hàm ý nghĩa : Theo Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê định nghĩa: “Tản văn: 1.

Loại văn gồm các thể kí và các thể văn khác, ngoài truyện, thơ và kịch” [23,Tr. Theo Từ điển Hán Việt, Đào Duy Anh định nghĩa: “Tản văn, văn xuôi không có vần” [1,Tr. Từ điển thuật ngữ văn học – Nxb Đại học Quốc Gia, Hà Nội, năm 1997 là cuốn duy nhất đã xác định tản văn ngoài nghĩa là văn xuôi còn có nghĩa là một thể loại văn học có những đặc trưng riêng biệt: “Tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật, lối thể hiện đời sống mang tính chất khám phá, không nhất thiết đòi hỏi có cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh, điều cốt yếu là tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩ của tác giả”[11,Tr. Trong cuốn Năm bài giảng về thể loại, Hoàng Ngọc Hiến quan niệm “Tản văn là một tiểu loại kí ngắn gọn, hàm súc theo tùy hứng của tác giả có thể bộc lộ trữ tình, tự sự hoặc nghị luận, thường có mấy thứ đan quyện vào nhau”[14,Tr.

Trần Đình Sử trong bài viết “Tản văn hiện đại Việt Nam – Một thể loại bị lãng quên” - lời giới thiệu cuốn Tản văn hiện đại Việt Nam có viết: “Tản văn là một thể loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc. Nó không đòi hỏi phải có một cốt truyện đầy đủ hay phải sáng tạo những nhân vật hoàn chỉnh. Cấu tứ tác phẩm được triển khai từ một vài tín hiệu thẩm mỹ đóng vai trò trung tâm trong thế giới nghệ thuật. Đó có thể là những hình ảnh, chi tiết hoặc một hiện tượng đời sống cụ thể”[47].

download by : skknchat@gmail.com 11 Có rất nhiều các quan niệm xoay quanh khái niệm tản văn tuy nhiên các quan niệm trên đều thống nhất: tản văn là một thể loại văn xuôi có tính hàm súc, có thể là trữ tình, tự sự, nghị luận đan xen và đều bộc lộ trực tiếp dấu ấn riêng, cái tôi tác giả. Có lẽ cũng vì vậy, nhà văn trẻ Nguyễn Trương Qúy đã lựa chọn tản văn để chuyển tải những cái tứ của đời sống. Tản văn cho phép tác giả thoải mái mổ xẻ và đưa ra quan niệm riêng của mình. Đặc trưng thể loại tản văn Gần đây, Tiến sĩ Lê Trà My đã có những công trình nghiên cứu về thể loại tản văn.

Theo Tiến sĩ Lê Trà My thì tản văn có nhiều yếu tố tương đồng với những thể loại như tạp văn, tạp bút… nhưng về cơ bản, tản văn vẫn có những đặc trưng riêng để phân biệt với các thể loại khác của văn học. Tản văn là những tác phẩm văn xuôi có dung lượng ngắn, hàm súc và không có cốt truyện. Tản văn chủ yếu chú trọng vào chi tiết nên có thể coi đây là một thể loại văn xuôi không đòi hỏi cốt truyện. Người viết tản văn thường lựa chọn vài ba nét từ chất liệu cuộc sống, dựa vào đó để bày tỏ thế giới nội tâm cũng như cảm xúc của mình về thế giới.

Ví như từ một cành hoa mận mà gợi nhớ bao kí ức tuổi thơ êm đềm, đầy ắp những kỉ niệm ngọt ngào thời thơ ấu bên gia đình (Một loài hoa thương nhớ - Đỗ Bích Thúy);. chỉ là chuyện đi làm công sở cũng thành chuyện: “Tại sao khi mới đi làm chúng ta ai cũng hăm hở? “Tưởng như bầu nhiệt huyết đang sôi sục trong người chỉ chờ có cơ hội là được bộc lộ. Vậy mà chỉ sau vài ngày đi làm ở công sở, chúng ta cứ chuội dần đi…”[24] Và thấy cái gì cũng như ngày càng có vẻ chậm hơn… Tất cả những điều tưởng chừng như tủn mủn, lặt vặt ấy đều có thể là cái cớ cho một tản văn ra đời. “Vấn đề còn lại chỉ là sức cảm, sức nghĩ, là độ rộng và chiều sâu trong trường liên tưởng của người viết mà thôi.

Nói gọn lại, tản văn là phải tạo ra “một cái gì đó” có ý nghĩa tiếp sau cái cớ ban đầu kia; “một cái gì đó”, nói kiểu công thức “chạm vào trái tim và khối óc người đọc” theo một cách riêng của văn chương”[24,tr. Với công phu tinh lọc như vậy, các chi tiết xuất hiện trong tản văn thường rất hàm súc, giàu sức gợi. Có thể coi tản văn như là “thơ tứ tuyệt” của văn xuôi. Tản văn là loại tác phẩm được cấu tứ.

Về phương diện kết cấu, tản văn là loại tác phẩm trữ tình biểu lộ thế giới tinh thần của chủ thể. Nó không coi trọng download by : skknchat@gmail.com 12 thông tin, sự kiện mà cốt là ở cách nhìn, cách lí giải sự kiện. Kết cấu tác phẩm tản văn dựa trên sự liên tưởng kết nối các sự kiện, nhân vật, hình ảnh, chi tiết vào với nhau. Các chi tiết trong tản văn thường không gắn kết thành một bức tranh đời sống mang tính khách quan như trong các tác phẩm tự sự mà chúng chỉ là những tín hiệu bộc lộ chủ thể nhà văn bởi nghệ thuật tản văn như đã nói là nghệ thuật biểu hiện.

Giả Bình Ao nói nghệ thuật tản văn là “nghệ thuật của biểu hiện chứ không phải đòi bạn tái hiện”. Do vậy, quan hệ giữa các chi tiết thường là quan hệ liên tưởng nhờ sự tưởng tượng phóng túng, bay bổng của nhà văn tạo nên ý tưởng độc đáo cho tác phẩm. Cấu tứ trong tản văn chủ yếu dựa trên sự liên tưởng này. Tản văn có thể coi là thể loại có vẻ dễ viết nhưng khó hay.

Muốn tạo ra những tác phẩm tản văn hay đòi hỏi trình độ người viết phải tạo ra một cấu tứ, một tổ chức mang tính nghệ thuật cao, một vốn kiến thức đa ngành, liên ngành; cả nghệ thuật chơi chữ, mặc dù chỉ là tiểu xảo nhưng lại có khả năng điểm xuyến làm sinh động ý tưởng. Tản văn bộc lộ trực tiếp cái “tôi” của tác giả. Đây là đặc điểm nổi bật nhất của tản văn so với các thể loại khác. Xét một cách khách quan, ở thể loại văn học nào thì cái tôi nghệ sĩ của tác giả cũng ít nhiều in dấu trong tác phẩm.

Ở truyện ngắn, tiểu thuyết, cái tôi của nhà văn ẩn mình vào những hình tượng nhân vật. Ở thơ, cái tôi nhà thơ có phần bộc lộ rõ hơn so với truyện ngắn và tiểu thuyết, tuy nhiên vẫn ẩn mình dưới hình tượng nhân vật trữ tình. Ở tản văn, nhà văn trực tiếp cất lên tiếng nói, như nói trực tiếp câu chuyện, quan điểm của chính mình. Ở tản văn, người viết văn công khai với tư cách là chủ thể lời nói nghệ thuật và biến mình trở thành hình tượng nhân vật.

Nhà tản văn nổi tiếng người Trung Quốc Tiền Cốc Dung có từng viết về đặc trưng của tản văn như sau: “Vốn dĩ mọi tác phẩm văn học đều in dấu tính tình, phẩm cách của tác giả nhưng ở thơ, tiểu thuyết, kịch, tác giả thường ẩn mình đi, bọc mình lại khiến bạn đọc không dễ gì thấy ngay được diện mạo thật của họ. Còn tản văn thì không thế. Tác giả của chúng không hề tô điểm, trang sức mà cứ trần trụi ra trong mắt bạn đọc. Hễ điều gì nói ra đều là những điều phát tự lòng mình, không một chút giả dối, điểm tô.

Tác giả dường như thủ thỉ tự nói một mình, tự thổ lộ nỗi niềm, hoặc như trút bầu tâm sự với người quen cũ lâu ngày không gặp lại. Qua tác phẩm của họ, bạn đọc thấy ngay được con người họ, thấy ngay được bản sắc, bản tướng của họ. Cho nên download by : skknchat@gmail.com 13 tản văn là tác phẩm thấy được tính tình tác giả rõ nhất, do vậy dễ viết nhất mà cũng khó viết nhất. Những ai không thực sự có tính tình, hoặc không thực sự có lời muốn ngỏ thì tốt nhất là không nên viết tản văn”[17].

Dựa trên nguyên tắc tự biểu hiện, người viết tản văn thường có xu hướng lấy ngay chính cuộc sống của mình ra làm chất liệu để xây dựng tác phẩm. Do đó, sức mạnh của tản văn trước hết là nhân cách, bản lĩnh, tầm tư tưởng, cách nhìn, cách cảm và sự uyên bác của người cầm bút. Tản văn có cách thức biểu hiện đa dạng: Tản văn được xem là thể văn tự do và phóng túng nhất. Vì “Tất cả các yếu tố của thể loại, đối với tản văn đều hết sức tự do, bất luận là chọn đề tài, lập ý hay bố cục kết cấu, hay vận dụng thủ pháp biểu hiện”[47].

Có nhiều phong cách viết tản văn khác nhau có cách viết nghiêm túc, có khi là cười cợt,trữ tình, chính luận, triết lí. Cách viết tản văn cũng rất đa dạng: tự sự, trữ tình, hoặc nghị luận, hoặc pha xen các cách viết khác nhau. Giả Bình Ao từng nói: “Tản văn là nghệ thuật bay, nghệ thuật bơi, nó tự do thoải mái”. Tản văn là thể văn cho phép người viết thỏa sức khai thác đề tài ở mọi lĩnh vực đời sống, không hạn định bởi một khuôn mẫu nào.

Trần Đình Sử trong Tản văn Việt Nam hiện đại – một thể loại bị lãng quên có viết: “Tản văn nói được bao điều suy nghĩ, nung nấu, cảm xúc trong lòng về con người, thế sự, đạo lí, về thiên nhiên, môi trường, chính trị, văn nghệ. Tính tự do của tản văn khiến tản văn có thể kết hợp nhiều kiểu loại chi tiết từ chi tiết xác thực đến chi tiết hư ảo, hoang đường. Có thể nói, chưa có thể loại nào đạt tới sự ngẫu hứng, phong phú và đa dạng như tản văn. Giọng điệu tản văn: Tản văn được coi là thể loại văn ngẫu hứng, văn chơi nên giọng điệu thường nhẩn nha, trò chuyện, tâm sự.

Có người nói đọc tản văn như “nghe những lời nhỏ nhẹ của mẹ, của vợ, của bạn thân quanh bàn trà, điếu thuốc”. Người viết tản văn có tâm thế nhàn tản, cái nhàn của con người biết thoát khỏi những o ép đời thường, tìm tới sự thấu triệt sâu sắc của lẽ đời.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ