CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VÈ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÃ GIẢI QUYÉT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYÊN NHƯỢNG QUYỀN sử DỤNG ĐÁT 1. Một số vấn đề lý luận chung về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Quyền sử dụng đất, họp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tìm hiểu về quyền sử dụng đất.
Đạo luật gốc cũng như các văn bản pháp luật về đất đai đều khẳng định đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá, là tư liệu sản xuất vô cùng quan trọng của chủ sử dụng đất thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện quản lý. Trong giai đoạn hiện nay với sự phát triến của công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì nhu cầu về sử dụng đất ngày một gia tăng. Đất đai không chỉ là tư liệu sản xuất của ngành nông nghiệp, mà còn là môi trường sống, là cơ sở tiến hành mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhà nước là chủ sở hữu đất đai thực hiện hiệu quả việc quản lý đất đai và bảo vệ quyền lợi của người sử dụng đất.
Điều 54 Hiến pháp 2013 quy định: “ Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật. Tổ chức, cả nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất được chuyên nhượng quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Quyền sử dụng đất được pháp luật báo hộ” [24, tr. 12 Điều 4 Luật đất đai 2013 một lần nữa khẳng định: “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện sở hữu và thống nhất quản lý.
Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của luật này” [25, tr. Nhà nước với vai trò là đại diện chủ sở hữu đối với đất đai có quyền định đoạt đất đai thông qua các quyền như: Quyền phân bổ đất (quyết định giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất), quyền quyết định thời hạn, hạn mức sử dụng đất, quyền quyết định mục đích sử dụng đất, quyền quản lý nhà nước đối với đất đai trên cả phương diện hành chính - kinh tế được thể hiện qua việc người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ của mình, quyền giải quyết các khiếu nại, các tố cáo hay các tranh chấp về đất đai. Dù đất đai được giao cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào sử dụng thông qua bất kỳ hình thức nào: giao đất có thu tiền hay giao đất không thu tiền, hay cho thuê đất thì họ trở thành người có quyền sử dụng đất chứ không phải có quyền sở hữu đất đai. Thực tế đất đai vẫn thuộc sở hữu toàn dân và chịu sự quản lý của Nhà nước, đất được chuyển giao cho người sử dụng tùy thuộc vào hình thức sử dụng đất khác nhau.
Nhà nước cho phép các chủ thể sử dụng đất được hưởng các quyền sử dụng đất tương ứng. Có thế thấy nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu luôn được giữ vững từ năm 1980 đến nay. Các cá nhân, tố chức chỉ là chủ thế sử dụng đất và được thực hiện các quyền với tư cách là chủ sử đụng đất mà thôi. Thông qua các quyền năng được pháp luật ghi nhận như: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt Nhà nước thống nhất quản lý đất đai.
Nhà nước không thể trực tiếp thực hiện ba quyền năng trên để khai thác 13 những thuộc tính vốn của đất một cách hừu hiệu mà nó được thực hiện thông qua việc Nhà nước giao cho người sử dụng đất quyền sử dụng đất. Với diện tích đất được Nhà nước trao quyền sử dụng ốn định, lâu dài, để đảm bảo quyền và lợi ích thiết thực của mình người sừ dụng đất còn được thực hiện giao dịch quyền sừ dụng đất của mình như chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất. Nhằm đàm bảo người sử dụng đất được thực hiện các quyền trên trong thực r. Pháp luật nước ta cũng xác lập tiên đê và điêu kiện đê quyên sử dụng đât của A __________ L.
A _ A A____ mỗi người dân được đảm bảo, từ đó đà hình thành chế định về quyền sử dụng đất. Từ những phân tích trên, ta có thể định nghĩa: "Quyền sử dụng đất là những khả năng của một chủ thế được thực hiện hoặc được hưởng những quyền nhất định khi khai thác và sử dụng đất đê phục vụ cho các nhu cầu của đời sống xã hội. Những quyền đó được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện trên thực té". Họp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Họp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không được định nghía cụ thể trong bất cứ văn bản pháp luật nào. Tuy nhiên họp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng là một trong những loại họp đồng về quyền sử dụng đất. Vì vậy theo tinh thần của Bộ luật Dân sự 2015, tại Điều 500 quy định " Hợp đồng về quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyên nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật đất đai 14 cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất” [27, tr. Có thể hiểu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chính là việc người sử dụng đất (bên chuyển nhượng) thỏa thuận việc chuyển giao quyền sử dụng đất của mình cho người nhận chuyển nhượng (bên nhận chuyển nhượng) và người nhận chuyển nhượng phải trả cho bên chuyển nhượng một khoản tiền tương ứng với giá trị quyền sử dụng đất.
Khi chuyển nhượng quyền sừ dụng đất thì mục tiêu của người sử dụng đất là chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho người khác sử dụng và sẽ thu được một số tiền tương ứng với giá trị quyền sử dụng đất theo thỏa thuận của hai bên. Thông qua hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà đất đai có những người chú mới, thay đổi chủ sử dụng đất. Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành thì hợp đồng chuyến nhượng quyền sử dụng đất được hiểu là: Sự thỏa thuận giữa các bên, theo đỏ bên chuyên nhượng quyền sử dụng đất có nghĩa vụ chuyên giao đất và quyền sử dụng của mình cho bên nhận chuyển nhượng; bên nhận chuyển nhượng có nghĩa vụ trả cho bên chuyên nhượng một khoản tiền tương ứng vói giá trị quyền sử dụng đất. Tranh chấp họp đồng chuyên nhượng quyền sử dụng đất.
Trong bối cảnh hiện nay khi thị trường bất động sản có nhiều biến động, nhu cầu sử dụng đất của người dân tăng cao, các giao dịch bất động sản diễn ra phổ biến kéo theo đó là sự xuất hiện ngày càng nhiều các tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Mặc dù tranh chấp này tồn tại trong mọi thời kỳ lịch sử, tuy nhiên nó chi thực sự tăng về số lượng, phức tạp về tính chất khi đất nước chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường đặc biệt 15 trong những năm trở lại đây khi mà đất đai được thừa nhận có giá trị và quyền sử dụng đất được tham gia giao dịch trên thị trường, bị chi phối bời các quy luật của thị trường. Tranh chấp về họp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong những năm gần đây luôn xảy ra một cách phổ biến và có diễn biến phức tạp nhất là khi thị trường bất động sản “ nóng “ lên, nhu cầu sử dụng đất của người dân tăng cao, lợi nhuận mà nhà đầu tư có được từ giao dịch chuyến nhượng quyền sử dụng đất lớn. Tuy nhiên bên cạnh đó nó cũng kéo theo một số hệ lụy như: Khi giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mục đích tối thượng của các chủ thể tham gia giao dịch là lợi nhuận nên các chủ thể tham gia nhiều trường hợp đà thực hiện các giao dịch trái với các quy định của pháp luật.
Các sai phạm có thể kể ra trong việc ký kết cũng như trong quá trình thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất như: chủ thể tham gia ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sừ dụng đất không đủ điều kiện; hoặc không có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất; họp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi phạm điều kiện về hình thức (không được công chứng, chứng thực và đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền); đối tượng của họp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật để giao dịch (đất đang có tranh chấp, đất không tách thửa được) hay quá trình thực hiện họp đồng một trong các bên không thực hiện đúng cam kết thỏa thuận trong hợp đồng. Đó là những nguyên nhân làm phát sinh mâu thuẫn, bất đồng giữa các chủ thế tham gia giao dịch, từ đó dẫn đến tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. 16 Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có nhiều loại ( tranh chấp về chủ thể, về giá cả, về phương thức thanh toán, về đối tượng) nhung chúng đều có bản chất chung nhất đó là những bất đồng, những mâu thuẫn và xung đột về quyền, xung đột về nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết và thực hiện họp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Xung đột này có thể được biểu hiện trực tiếp giữa hai bên tham gia giao dịch: bên chuyến nhượng và bên nhận chuyển nhượng, hoặc là xung đột liên quan tới lợi ích của người thứ ba khi họ cho rằng một bên trong quan hệ chuyển nhượng không thực hiện đúng hay không thực hiện đầy đủ những cam kết, thỏa thuận trong họp đồng khiến cho quyền, lợi ích chính đáng của họ bị ảnh hưởng.
Đối với các tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà trong đó mâu thuẫn, bất đồng, giá trị tài sản tranh chấp hoặc lợi ích của các bên hướng tới không lớn, không gây hậu quả nặng nề, những xung đột đó từ nguyên nhân tác động khách quan mà ra thì các bên tranh chấp có thế giải quyết ổn thỏa thông qua hòa giải, thương lượng để tìm ra hướng giải quyết đảm bảo hài hòa nhất về quyền lợi cho các bên.