Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1. Một số vấn đề lý luận về tranh chấp hợp đồng CNQSDĐ 1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng CNQSDĐ Các quan hệ chuyển giao quyền sử dụng đất với tính chất là một tài sản đặc biệt, là tư liệu sản xuất, tư liệu lao động quan trọng của người sử dụng đất cũng là những giao dịch diễn ra phổ biến, thường xuyên và chiếm tỷ lệ lớn trong các giao dịch tài sản diễn ra trong đời sống xã hội. Khi nghiên cứu các quy định của Luật Đất đai 2013 về các quyền của người sử dụng đất thì quyền được thực hiện các giao dịch dân sự về QSDĐ là quyền cơ bản, quan trọng và được các chủ thể sử dụng đất đặc biệt quan tâm, chú trọng khi có được QSDĐ hợp pháp của mình.
Các giao dịch về QSDĐ bao gồm: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, góp vốn, tặng cho và để thừa kế QSDĐ. Trong các giao dịch ấy, CNQSDĐ được xác định là giao dịch tạo cho người sử dụng đất linh hoạt nhất trong việc quyết định khai thác và sử dụng đất sao cho hiệu quả nhất, phù hợp nhất với thực tế và diễn biến của thị trường. Tuy nhiên, việc chuyển giao các lợi ích vật chất đó sẽ không hình thành nếu không xuất hiện những hành vi có sự thống nhất ý chí của các chủ thể. Do đó, chỉ khi nào có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên (bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng) thì quan hệ trao đổi vật chất mới hình thành.
Quan hệ đó được xác lập và thể hiện thông qua hợp đồng dân sự. Theo từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp – Việt, “contrat”: "hợp đồng là một thỏa thuận từ đó dẫn tới việc phát sinh một hay nhiều nghĩa vụ hoặc tạo ra hay chuyển giao một quyền đối vật"[29]. Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 cũng ghi nhận: "Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự"[4]. Hợp đồng dân sự có nhiều loại, trong đó 6 luan an bao gồm cả các hợp đồng về QSDĐ.
Như trên đã đề cập, CNQSDĐ là một trong các quyền về chuyển QSDĐ và khi thực hiện quyền này thì buộc các chủ thể phải thiết lập với nhau hợp đồng CNQSDĐ trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật Đất đai (LĐĐ) 2013 về chuyển QSDĐ nói chung và CNQSDĐ nói riêng. Đồng thời, tuân thủ các quy định của BLDS 2015 về hợp đồng nói chung và hợp đồng về QSDĐ nói riêng. Theo đó, sự tuân thủ các quy định của BLDS 2015 chủ yếu ở các nội dung cơ bản như: hình thức pháp lý của giao dịch CNQSDĐ; nội dung và các điều khoản cơ bản trong hợp đồng CNQSDĐ; các nguyên tắc và yêu cầu đối với các chủ thể khi ký kết hợp đồng CNQSDĐ. Sự tuân thủ các quy định của LĐĐ 2013 chủ yếu ở các nội dung cơ bản như điều kiện về chủ thể chuyển nhượng, nhận chuyển nhượng; đối tượng (QSDĐ) được phép chuyển nhượng; điều kiện có hiệu lực của giao dịch chuyển nhượng và các yêu cầu cụ thể về quy trình, thủ tục và quyền, nghĩa vụ của các bên khi ký kết và thực hiện giao dịch CNQSDĐ.
Mọi trường hợp ký kết hợp đồng CNQSDĐ không thực hiện theo tôn chỉ mục đích nêu trên đều có nguy cơ dẫn đến các tranh chấp, bất đồng giữa các bên; hơn thế nữa, hợp đồng có thể bị tuyên là vô hiệu hoặc bị hủy bỏ bởi quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Với những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm hợp đồng CNQSDĐ như sau: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng là sự thỏa thuận giữa các bên tuân theo các quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Đất đai; theo đó, bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất có nghĩa vụ chuyển giao đất và quyền sử dụng của mình cho bên nhận chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng có nghĩa vụ trả cho người chuyển nhượng một khoản tiền tương ứng với giá trị quyền sử dụng đất. Với khái niệm này, có thể rút ra một số đặc điểm về hợp đồng CNQSDĐ như sau: Thứ nhất, đối với từng loại đất khác nhau thì điều kiện chuyển nhượng là khác nhau. Thứ hai, trong quan hệ hợp đồng chuyển nhượng, bên CNQSDĐ chấm dứt 7 luan an quan hệ QSDĐ, vì vậy phải được đặt ra trong một số hoàn cảnh, lý do nhất định mới được chuyển nhượng.
Thứ ba, hợp đồng CNQSDĐ là hợp đồng song vụ: cả bên chuyển nhượng lẫn bên nhận chuyển nhượng đều có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau, quyền của bên này sẽ tương ứng với nghĩa vụ của bên kia. Bên chuyển nhượng có nghĩa vụ giao QSDĐ cho bên nhận chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng sẽ có nghĩa vụ chuyển giao tiền thanh toán cho bên chuyển nhượng đúng như hai bên đã thỏa thuận. Đây là mối quan hệ “đổi đất lấy tiền” và việc thực hiện quan hệ này là quá trình chấm dứt QSDĐ của bên chuyển nhượng và thiết lập QSDĐ cho bên nhận chuyển nhượng. Thứ tư, hình thức của hợp đồng chuyển QSDĐ được thực hiện bằng văn bản, phải được công chứng hoặc chứng thực và đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Đây là quy định thể hiện sự chặt chẽ hơn của giao dịch CNQSDĐ nói riêng và các giao dịch về chuyển QSDĐ nói chung so với các giao dịch tài sản khác. Theo đó, các giao dịch về mua bán, cho thuê các tài sản không phải là đất đai có thể không công chứng hoặc công chứng tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là phát sinh hiệu lực, phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia giao dịch, song CNQSDĐ thì công chứng hợp đồng thôi chưa đủ, hợp đồng chỉ phát sinh hiệu lực khi hai bên thực hiện việc đăng ký tại cơ quan đăng ký QSDĐ và vào sổ địa chính. Điều này xuất phát từ đặc thù của QSDĐ – tài sản đặc biệt với chủ thể đại diện sở hữu và quản lý là Nhà nước. Mặt khác, đây là loại tài sản có giá trị lớn, hồ sơ, thủ tục, giấy tờ và hiện trạng sử dụng đất thường phức tạp, có nhiều biến động trên thực tế.
Vì vậy, việc ghi nhận thực hiện bằng văn bản đảm bảo sự ràng buộc pháp lý giữa các bên trong quan hệ CNQSDĐ một cách chặt chẽ và đảm bảo quyền, nghĩa vụ hơn của mỗi chủ thể; mặt khác, thể hiện sự kiểm soát sát sao của Nhà nước đối với các giao dịch. Thứ năm, mục đích của hợp đồng chuyển QSDĐ là các bên giao kết hợp đồng để nhận được những lợi ích nhất định theo mong muốn của chính bản thân chủ thể đó khi xác lập hợp đồng. Cụ thể, bên chuyển nhượng trao quyền trọn vẹn 8 luan an về quyền quản lý, khai thác, sử dụng và định đoạt đối với một QSDĐ hợp pháp của mình cho bên nhận chuyển nhượng và nhận lại một khoản lợi ích vật chất nhất định mà mình mong muốn để đáp ứng nhu cầu của mình, còn bên nhận chuyển nhượng sẽ được xác lập QSDĐ hợp pháp mảnh đất đó cho mình và được quyền thực hiện các ý đồ đầu tư, khai thác theo mục đích đã được xác định nhằm thu lợi nhuận. Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp hợp đồng CNQSDĐ Theo từ điển pháp luật Việt Pháp: “Litige” - vụ tranh chấp được giải thích như sau: Người ta nói tới vụ tranh chấp khi mà một người không được hưởng một quyền hay lợi ích hợp pháp của mình bằng thỏa thuận và dự định đưa vụ việc ra Tòa án phân xử[30].
Dù không định nghĩa trực tiếp tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, song với tính chất phát sinh của tranh chấp này như đã nêu trên, cùng với định nghĩa về tranh chấp đất đai nói riêng, có thể hiểu tranh chấp hợp đồng CNQSDĐ như sau: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về mặt lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. * Đặc điểm của tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Thứ nhất: Các chủ thể tranh chấp đất đai là chủ thể quản lý và sử dụng đất, không có quyền sở hữu đối với đất đai. QSDĐ của các chủ thể được xác lập dựa trên quyết định giao đất, cho thuê đất của Nhà nước hoặc được Nhà nước công nhận QSDĐ. Trên cơ sở quyền sử dụng đất được Nhà nước trao cho, người sử dụng đất bên cạnh quyền được tiến hành khai thác các giá trị và khả năng sinh lời của đất, họ còn được thực hiện các giao dịch chuyển QSDĐ, trong đó có quyền CNQSDĐ.
Vì vậy, khi tranh chấp về hợp đồng CNQSDĐ xảy ra thì chủ thể tranh chấp trong trường hợp này chỉ là chủ thể có QSDĐ chứ không phải là chủ thể có quyền sở hữu đất đai. Thứ hai: Đối tượng của tranh chấp đất đai là quyền quản lý, quyền sử dụng và những lợi ích phát sinh từ quá trình sử dụng đất đai theo quy định của pháp 9 luan an luật. Đất đai là loại tài sản đặc biệt không thuộc quyền sở hữu của các bên tranh chấp mà thuộc quyền sở hữu của Nhà nước. Đối tượng của tranh chấp được biểu hiện dưới dạng quyền – QSDĐ chứ không phải bản thân đất đai.
Điều này hoàn toàn khác biệt với các tranh chấp các tài sản thông thường khác, chúng thuộc quyền sở hữu của chính chủ thể tranh chấp. Đây cũng là yếu tố đặc biệt, chi phối lớn tới quá trình giải quyết tranh chấp đất đai nói chung và giải quyết tranh chấp đất hợp đồng CNQSDĐ tại Tòa án nói riêng. Theo đó, việc giải quyết tranh chấp không chỉ hướng tới bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tham gia quan hệ mà còn còn bảo vệ cho chủ thể có quyền sở hữu - đó là Nhà nước. Thứ ba: Tranh chấp đất đai không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích trực tiếp của các bên tham gia tranh chấp, mà còn phát sinh gây hậu quả xấu về nhiều mặt như: Có thể gây mất ổn định về xã hội, làm mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân, gây đình trệ sản xuất, xâm phạm trực tiếp đến lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp.
Vì vậy, giải quyết tranh chấp hợp đồng CNQSDĐ phải hướng tới ổn định kinh tế, chính trị, xã hội.