Chương 1. MỘT SỐ VAN DE KHÁI QUÁT VE CHUNG SÓNG NHƯ. Khái niệm chung sống như vợ chẳng. Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý “chung” được hiểu là củng với nhau lam gi 461, Theo đó, “chung sống" được hiểu la cùng sống với của hai từ lại ta có the “chung sống như vợ chồng” là việc cùng sống với nhau và coi nhau như vợ chẳng, mặc dù chưa đăng ký kết hôn.
Xét đưới góc độ của những nhà xế hội, văn hóa thi chung sống như vơ chồng 1a việc sống thử hay chung sống phi hôn nhân. Theo đó, các cặp nam. nữ về sống chung cùng với nhau như vợ chồng, nhưng không tổ chức hôn lễ và cũng không đăng ký kết hôn Dưới góc đô thuật ngữ pháp lý thi "chung sống như vợ chẳng" ham ý chi quan hệ giữa hai người nam và nữ chung sống với nhau ma không tiền. hành đăng ký kết hồn theo quy đính của pháp luật.
Mặc dù, không có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nhưng các bên nam nữ vấn chung sông với nhau như vợ chẳng va thực hiện các quyển, nghĩa vụ của vợ chẳng với nhau, với gia đình và với xã hội giống như vợ chẳng hợp pháp. Theo điểm 7 Điều 3 Luật Hôn nhân gia đỉnh năm 2014 “Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung vả coi nhau lả vợ chẳng”. Như vậy, kể từ ngày 1/1/2015 (ngay Luật Hôn nhân và gia đính năm 2014 chính thức có hiệu lực) thì đây 1a khái niệm pháp lý chính thức dành cho người dân va các chủ thé áp dụng pháp luật. Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm chung sống như vợ chẳng, "Nguyễn Như Ý (1996), Từ đến Thing Việtthông đựng, Nib Giáo dục, Hi Nội, 399.
(Quan điểm thứ nhất cho rằng, nam nữ chung sống như vo chẳng la việc nam nữ về chung sống với nhau, mặc dù không đăng ký kết hôn nhưng hai người thưởng xuyên sông cùng nhau như bao gia đỉnh khác họ được gia đính và những người suing quanh công nhận sinh hoạt như vợ chẳng, có con cái và tải sin chung Quan điểm thứ hai cho rằng chung sống như vợ chẳng la việc nam nữ tổ chức cuộc sống thử trước khi quyết định tiền tới hôn nhân, hiện tương nay ton tại nhiều ở giới trẻ, theo đó hai bên nam nữtrước khi tiền tới hôn nhân thi cùng nhau chung sống và coi nhau như vợ chồng trong một khoảng thời gian nhất định. Theo ý kiến của Doan luật sư Thanh phó Hà Nội thi chung sống như. vợ chẳng la việc nam, nữ công khai quan hệ chung sống như vợ chồng va không đăng ký kết hôn hoặc không đủ điều kiện kết hôn” ‘Tuy nhiên có thé thay các quan điểm trên la chưa bao ham được hết các trường hợp chung sống như vợ chẳng và chưa chứa dung được đây đủ các đặc điểm của nó. Chung sông như vợ chủng mà không đăng ký kết hôn.
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng việc sống chúng như vợ chồng có đặc điểm chung 1a không đăng ký kết hôn. Việc sông chúng như vợ. chẳng không được pháp luật thừa nhân Đổ là rõ hon khái niệm này xin được phân tích thêm v khái niệm kết hôn, điển kiện kết hôn, giá trị pháp lý của Giấy chứng nhân đăng ký kết hôn. Khai niệm kết hôn.
Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức", C.Mác đã đưa ra quan niệm vé gia. đính: “Hang ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mảnh con người còn tao ra những người khác, sinh sôi nay nở - đó là quan hệ giữa chủng va vơ, cha me và con cái, đó là gia đình. Sự sin xuất ra đời sông - ra đời sống của ban thân. "Nguyễn Thị Phương Thio G019, Cg cổng nh vợ chẳng— Một sb vin đỀ ý bản và đục tấn, run, ‘vinthue sThnithec, tường Đạ học Luật Ha Nội, 5 10 minh bằng lao đông, cũng như ra đời sông của người khác bing việc sinh con đề cai - biểu hiển ra là một quan hé song trùng, một mất là quan hệ tự nhiên, mặt khác là quan hệ xã hội, quan hệ sã hội với ý ngiĩa đó 1a hoạt đồng kết ‘hop của nhiều cá nhân, không ké là trong những diéu kiện nao, theo cách nao vả nhằm mục đích gì”.
‘Nhu vay Quan niệm nảy đã chỉ ra rằng gia đình lả sutổn tại của xã hội vả gia dinh được tao ra bởi hai quan hệ cơ bản bao gồm quan hệ hôn nhân vợ, chẳng và quan hệ huyết thống giữa những người cùng sinh sống với nhau. Trong, quan hệ hôn nhân sự kiện pháp lý tạo nên gia đính chính là việc "Kết hôn”. Theo từ điển Tiếng Việt thi “Kết hôn là việc nam, nit chỉnh thức lấp nam thành vợ chẳng Theo điều 3 Luật hôn nhân gia định năm 2014 quy định tại Điều 3 * Kết hôn là việc nam và nữ zac lập quan hệ vợ chẳng với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình về điều kiên kết hôn và đăng ký kết hôn” Điễu kiện kết hôn Điều kiện kết hôn là điều kiện do pháp luật quy định ma các bên nam, nữ cần phải có hoặc không có điều kiện đó mới có quyển được kết hôn được quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân gia đỉnh năm 2014 cụ thể như sau: - Nam, nữ phải đủ tuổi kết hôn Điểm a khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân. và gia định năm 2014 quy định: “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ tử đủ 18 tuổi trở lên" Xuất phát từ cơ sở khoa học về tâm lý lứa tuổi, sức khöe cia người 'Việt Nam, pháp luật quy định nam tir đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi tro lên mới được kết hôn nhằm đâm bao sự phát triển về thể chat va trí tuệ của các cặp nam nữ khi sống chung để con cái sinh ra được khỏe mạnh, phát triển.
Luật hôn nhân vả gia định năm 2014 quy định độ tuổi kết hôn của nam thành đủ 20 tuổi trở lên, nữ đủ 18 tuổi trở lên tức là phải đủ cả ngày, tháng va năm (nam tròn 20, nữ tròn 18) thay vì nam vừa bước qua tuổi 20 và ul nữ vừa bước qua tuổi 18 như quy định tại Luật hôn nhân vả gia đình năm. Sự thay đổ: nay nhằm đảm bảo tính thống nhất với các văn bản pháp Tuật khác có liên quan như Bộ luật dân su, Bồ luật Tổ tung dân sự viée quy định như vậy sẽ đăm bão cho các chủ thể của khi tham gia quan hệ pháp luật về Hôn nhân gia đính khi có tranh chấp sấy ra. Theo quy đính của Bộ luật dân. sự 2015 thì người thành niên là người thành niên la người từ đủ mười tám tuổi trở lên và đũ năng lực trách nhiệm dân sự đẩy đủ và mới có quyển tham gia Tổ tụng dân sự.
Việc quy định như vậy đâm bảo tính đồng bộ, thong nhất trong hệ thống pháp luật của nước ta. - Kiết hôn phải tự nguyện lả việc hai bên nam, nữ phải thực sự muốn vả phù hợp với ý trí của hai bên. Nguyên tắc kết hồn phải tự nguyện được ghi nhận va thể hiện xuyên xuốt trong các quy định của Luật hôn nhân va gia đính. từ trước cho đến nay, Luật hôn nhân vả gia đính năm 1950 quy định tại Điều 1: "Nhà nước bao đảm việc thực hiện đầy di ché đô hôn nhân tư do va tiên 'bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng, bão vệ quyền lợi của phụ nữ vả con cái, nhằm xây dưng những gia đính hạnh phúc, dân chủ và hoa thuận, trong đó mọi người đoàn kết, thương yêu nhau, giúp đổ nhau tiến bổ”, Luật hôn nhân va gia đính năm 1986 quy định tai Điều 1: "Nhà nước bao dm thực sự chế độ hôn nhân tự nguyên, tiến bộ, một vợ một chẳng, vợ chồng bình đẳng.
nhằm xây dựng gia đình dân chủ, hòa thuận, hạnh phúc, bén vững", Trong Luật hôn nhân va gia đình năm 2000, nguyên tắc nay được thể hiện cụ thể va rõ rang tại khoản 1 Điều 2: “Hôn nhân tự nguyện, tiền bộ, một vợ một chẳng, vợ chẳng binh đẳng”, Luật hôn nhân va gia đinh năm 2014 hôn nhân tự nguyện được thể hiện trong khoản 1 Điều 2: "Hôn nhân tự nguyên, tién bô, một vợ một chông, vợ chồng bình đẳng” vả quy định tại khoản 2 Điều 5: cảm kết hôn giả tao, ly hôn giã tạo, tao hôn, cưỡng ép kết hồn, lita đối kết hôn, cân trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn,. Điểm b Khoản 1 Điển 8 quy 1 định: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định”. Quyển kết hôn không chi được quy đính trong Luật hôn nhân va gia đính mả còn được quy định tai Điều 39 Bộ luật dân sư năm 2015 “cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyên bình đẳng của vợ chẳng.” Từ nguyện hoàn toàn trong việc kết hôn là hai bến nam, nữ tự minh quyết định việc kết hôn và thể hiện ý chí mong muốn trở thành vợ chẳng của. nhau, cùng nhau gắn bó và chung sông suốt đời.
Mỗi bên nam, nữ không bị tác động bởi bắt cử điều gi làm ảnh hưởng tới quyết định của mình. Pháp luật dém bảo cho việc kết hôn hoàn toàn tự nguyên bằng việc quy định những người muốn kết hôn phải cùng có mất tại cơ quan đăng ký kết hôn, nộp tờ khai đăng ký kết hôn, tư mình tay tô mong muốn được kết hôn, pháp luật không cho phép cử người đại diên trong việc đăng ký kết hôn Đồng thời, pháp luật còn có các chế tai xử phạt đối với trường hợp cưỡng ép, lừa đối kết hôn còn bị xử phạt vvé hành chính thêm chi có thé bị truy cứu trách nhiệm hình su. - Nam, nữ kết hôn với nhau không bi mất năng lực hảnh vi dân sự. Theo quy định tại điều 22 Bộ luật Dân sự 2015 thì người bị mất năng lực hành vi dân sự là người m mắc bệnh tâm than hoặc mắc bệnh khác ma không thể nhân thức, làm chủ được hành vĩ của mình và phải được Tòa án ra quyết định tuyên bổ mắt năng lực hảnh vi dân sự trên cơ sở kết luận giám.
định pháp y tâm thân. Điều nay có ngiĩa chủ thể tham gia quan hệ phải bi Tòa án tuyên bổ mất năng lực hành vi dân sự thi mới bị cảm kết hôn, nhưng trên thực tế có nhiều người có biểu hiện tâm thân hoặc các bệnh khác ma không lam chủ được hành vi của minh thi cũng không không thể tự tiền hành các thủ tục để. đăng ký kết hôn như kê khai tỉnh trạng tình trạng hôn nhân.