Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT 1. Khái niệm thừa kế theo pháp luật và các trường hợp thừa kế theo pháp luật 1. Khái niệm về thừa kế Thừa kế là một chế định xuất hiện ngay từ thời kỳ sơ khai của xã hội loài người, tồn tại và phát triển cho đến ngày nay, gắn liền với quyến sở hữu về tư liệu sản xuất. Với ý nghĩa đó, thừa kế là một phạm trù kinh tế.
Theo khái niệm của từ điển Tiếng việt năm 2008 của Nhà xuất bản Đà Nẵng, thừa kế là “ được hưởng cái của người đã chết để lại cho (thường nói về tài sản, của cải)” [Từ điển tiếng Việt, 1206] Quan hệ thừa kế là một quan hệ xã hội được pháp luật dân sự điều chỉnh và trở thành một quan hệ pháp luật. Pháp luật thừa kế quy định các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể thuộc quan hệ thừa kế. Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được pháp luật thừa nhận. Công dân có quyền để lại thừa kế thuộc quyền ở hữu của mình cho người khác, nhà nước không hạn chế quyền để lại thừa kế và quyền nhận thừa kế của công dân.
Theo nghĩa khách quan, thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc dịch chuyển tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định, đồng thời quy định phạm vi quyền và nghĩa vụ, phương thức bảo vệ quyền và nghĩa vụ của người thừa kế. Khái niệm thừa kế theo pháp luật Pháp luật thừa kế của nước ta từ năm 1945 đến nay đều quy định hai hình thức thừa kế: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. 9 luan an Nếu như thừa kế theo di chúc là sự dịch chuyển di sản của một người đã chết cho người khác theo sự định đoạt hợp pháp của người lập di chúc khi còn sống thì thừa kế theo pháp luật có thể được hiểu là sự dịch chuyển di sản của người chết cho người còn sống trên cơ sở quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng hay quan hệ thân thuộc giữa người có tài sản để lại sau khi họ chết và người nhận di sản. Thừa kế theo pháp luật là sự dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống theo hàng thừa kế.
Như phân tích ở trên, cá nhân có quyền sở hữu đối với tài sản của mình, sau khi cá nhân chết, số tài sản còn lại được chia đều cho những người thừa kế. Người được thừa kế theo pháp luật là những người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản thừa kế. Những người được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật không phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi. Mọi người đều bình đẳng trong việc hưởng di sản thừa kế của người chết, thực hiện nghĩa vụ mà người chết chưa thực hiện trong phạm vi di sản nhận.
Như vậy, thừa kế theo pháp luật được hiểu một cách đơn giản là quá trình dịch chuyển di sản của người chết sang những người còn sống theo quy định của pháp luật về thừa kế. Mặt khác, theo quy định của pháp luật thì khi không có căn cứ để dịch chuyển di sản của người chết theo ý chí của họ thì di sản đó phải dịch chuyển theo quy định của pháp luật về hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế. Điều 649 BLDS năm 2015 đã định nghĩa về thừa kế theo pháp luật như sau: “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”. Thừa kế theo pháp luật về bản chất vừa bảo vệ quyền đương nhiên người có tài sản được để lại tài sản của họ khi họ chết, vừa bảo vệ quyền của những người có quan hệ huyết thống, gia đình hay thân thuộc với người có tài sản để lại 1.
Khái niệm tranh chấp thừa kế theo pháp luật “Tranh chấp” là “tranh giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào” [từ điển tiếng Việt, NXB Đà nẵng 2008, 1268]. Sự tranh giành đó cho 10 luan an ta thấy số lượng chủ thể tham gia và sự thể hiện của nó ra bên ngoài. Tranh chấp nào cũng có ít nhất hai chủ thể trở lên. Tranh chấp là sự xung đột các quyền và lợi ích của các chủ thể trong xã hội.
Tranh chấp thừa kế theo pháp luật là một trong các loại tranh chấp diễn ra phổ biến trong xã hội. Nó được sử dụng từ khi xuất hiện quan hệ thừa kế và cho đến ngày nay lại đang diễn ra đa dạng và phong phú hơn về các loại tranh chấp. Quan hệ thừa kế ở đâu thì tất yếu có sự tranh chấp về thừa kế ở đó. Từ các khái niệm trên, ta có thể khái niệm “tranh chấp thừa kế theo pháp luật” là một loại tranh tranh giành về tài sản của người đã chết để lại chưa rõ thuộc về bên nào, được xem xét theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.
Các trường hợp thừa kế theo pháp luật Thừa kế theo pháp luật không chỉ phát sinh khi người để lại di sản không có di chúc mà còn có thể phát sinh trong nhiều tình huống khác. Qua mỗi giai đoạn phát triển, quy định về các trường hợp thừa kế theo pháp luật ngày càng rõ ràng, chặt chẽ và toàn diện hơn. Theo quy định tại Điều 650 Bộ luật dân sự 2015 thì thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây: Một là, không có di chúc. Đây là trường hợp theo quy định của Pháp luật, người để lại di sản đáp ứng yêu cầu về năng lực chủ thể trong việc lập di chúc nhưng lại không thực hiện quyền lập di chúc của mình.
Hai là, di chúc không hợp pháp. Mặc dù người để lại di sản có lập di chúc nhưng di chúc này lại không thỏa mãn đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định cuả Pháp luật dẫn đến di chúc vô hiệu (không có giá trị pháp lý, di sản sẽ được chia theo pháp luật. Ba là, những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế. Trường hợp này, di chúc bị coi là vô hiệu căn cứ khoản 2 Điều 643 Bộ luật dân sự 2015.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong trường hợp nếu chỉ có một trong số những người thừa kế theo di chúc chết trước 11 luan an hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản hoặc một trong số các cơ quan, tổ chức không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di sản liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này vô hiệu và được chia thừa kế theo pháp luật. Bốn là, những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản. Khi mở thừa kế nếu người thừa kế theo di chúc vi phạm khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự 2005 thì không có quyền hưởng di sản. Trường hợp người được chỉ định trong di chúc có quyền hưởng di sản nhưng từ chối nhận di sản thì di sản được chia theo pháp luật.
Năm là, phần di sản không được định đoạt trong di chúc. Trường hợp này xảy ra khi người để lại di sản có nhiều tài sản khác nhau nhưng lại chỉ định đoạt trong di chúc một phần tài sản trong khối di sản này. Khi đó, phần di sản không được thể hiện trong di chúc sẽ được chia theo pháp luật. Sáu là, phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực.
Theo tinh thần của Khoản 4 Điều 643 Bộ luật dân sự 2015 thì trong trường hợp di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực pháp luật. Điều này có nghĩa là di sản liên quan đến phần di chúc vô hiệu thì sẽ được chia theo pháp luật còn các phần khác sẽ được chia theo di chúc. Bảy là, phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền hưởng di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc. Khác với các quy định về thừa kế dưới thời phong kiến, những người thừa kế của người chết có nghĩa vụ phải nhận di sản và phải trả các khoản nợ của người chết để lại kể cả di sản không đủ để trả nợ, pháp luật hiện hành công nhận quyền thừa kế là một quyền năng dân sự và người thừa kế có quyền khước từ quyền hưởng di sản của mình.
Theo quy định tại Điều 620 Bộ luật dân sự 2015 thì người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. Bên cạnh đó, pháp luật thừa kế cũng ghi nhận những trường hợp không được quyền hưởng di sản tại Điều 621 Bộ luật dân sự 12 luan an 2015. Đó là những người vi phạm nghiêm trọng pháp luật hoặc đạo đức xã hội. Người để lại di sản không biết những hành vi nêu trên nên đã dành cho những người này một phần di sản nhất định.
Khi đó, phần di sản của những người thừa kế này sẽ bị coi là vô hiệu và được chia theo pháp luật. Tám là, phần di sản có liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế. Điều kiện để một cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc là cơ quan tổ chức đó phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Điều này có nghĩa là vào thời điểm người để lại di sản chết mà cơ quan, tổ chức đã chấm dứt hoạt động thì sẽ không được hưởng thừa kế.
Đó là trường hợp pháp nhân bị giải thể hoặc phá sản, quyền và nghĩa vụ của pháp nhân hoàn toàn chấm dứt nên pháp nhân không còn tồn tại trên thức tế.