Tổng quan nghiên cứu

Ngành du lịch Việt Nam trong giai đoạn 1996 - 2008 ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ với tổng cộng 34.559.519 lượt khách quốc tế, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 9,7%/năm. Tỉnh Thừa Thiên Huế sở hữu kho tàng tài nguyên du lịch đặc sắc với 120 km bờ biển, hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai rộng hơn 216 km2 cùng quần thể di sản cố đô Huế gồm 253 công trình kiến trúc cung đình và 34 di tích lịch sử cấp quốc gia được xếp hạng. Tuy nhiên, trước bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008 khiến tăng trưởng du lịch thế giới giảm xuống mức 2% và lượng khách quốc tế đến Việt Nam chỉ tăng nhẹ 0,6%, ngành du lịch Thừa Thiên Huế bộc lộ nhiều điểm nghẽn về năng lực cạnh tranh và hiệu quả khai thác tài nguyên.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là giải quyết sự mâu thuẫn giữa tiềm năng di sản phong phú với kết quả kinh doanh du lịch chưa tương xứng tại địa phương. Đề tài của tác giả Cao Thị Minh Tri xác định hai mục tiêu cụ thể: nhận diện toàn diện các yếu tố hạn chế đang kìm hãm ngành du lịch địa phương, đồng thời xây dựng hệ thống giải pháp mang tính chiến lược nhằm thúc đẩy du lịch Thừa Thiên Huế phát triển bền vững đến năm 2015. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ các hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 1991 đến năm 2008 và định hướng tầm nhìn đến năm 2015. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc tối ưu hóa hiệu suất sử dụng 5.172 phòng lưu trú hiện có, gia tăng ngày khách lưu trú bình quân và tạo động lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế dịch vụ vững chắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết "Sự ngắm nhìn của du khách" (The Tourist Gaze) của John Urry (2002) nhằm phân tích tâm lý hành vi du khách khi tìm kiếm những trải nghiệm khác biệt so với cuộc sống thường nhật. Đồng thời, luận văn kết hợp định nghĩa tương tác bốn nhóm của Hunziker - Kraft cùng hướng dẫn phát triển bền vững của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO 2002), trong đó xem du lịch là mối quan hệ tương hỗ giữa du khách, nhà cung ứng dịch vụ, chính quyền và cộng đồng bản địa. Theo thống kê của UNWTO, du lịch toàn cầu mang lại nguồn thu hơn 523 tỷ USD mỗi năm và tạo ra 207 triệu việc làm trực tiếp lẫn gián tiếp.

Khung phân tích của đề tài vận hành dựa trên các khái niệm cốt lõi theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005: khái niệm du lịch, khách du lịch nội địa và quốc tế, sản phẩm du lịch, tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, cùng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ Sở Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế, Cục Thống kê tỉnh, Tổng cục Du lịch, báo cáo của Tổ chức Du lịch châu Á - Thái Bình Dương (PATA) và Hội đồng Du lịch & Lữ hành Thế giới (WTTC) trong chuỗi thời gian 1991 - 2008. Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu đa chiều và suy luận logic để lượng hóa bức tranh phát triển của ngành.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn sâu với cỡ mẫu gồm 45 chuyên gia, nhà quản lý tại các sở ban ngành và giám đốc các doanh nghiệp lữ hành, khách sạn trên địa bàn tỉnh. Phương pháp chọn mẫu định tính chuyên gia phi xác suất (purposive sampling) được lựa chọn nhằm tiếp cận những cá nhân có chuyên môn sâu về thị trường du lịch Thừa Thiên Huế. Việc kết hợp chuỗi số liệu định lượng 17 năm (1991 - 2008) với phân tích định tính giúp tác giả đánh giá chính xác các chỉ số tài chính, đồng thời bóc tách tường tận các rào cản về tâm lý xã hội và cơ chế điều hành đặc thù tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Thừa Thiên Huế phát triển nhanh về số lượng nhưng phân khúc cao cấp còn hạn chế. Tính đến năm 2008, toàn tỉnh có 280 cơ sở lưu trú, trong đó gồm 149 khách sạn với 5.172 phòng (tăng 13 khách sạn so với năm 2007) và 131 nhà khách, nhà nghỉ. Tuy nhiên, toàn tỉnh chỉ có 37 cơ sở được xếp hạng từ 1 đến 5 sao và 52 cơ sở đạt chuẩn (chiếm tỷ trọng 71,5% tổng số phòng), trong đó mới chỉ có 2 khu nghỉ dưỡng đạt chuẩn 5 sao quốc tế như Làng Hành Hương.

Thứ hai, áp lực cạnh tranh gay gắt từ các trung tâm du lịch lân cận làm giảm thị phần của Huế. Trong năm 2008, thành phố Đà Nẵng đón 1,2 triệu lượt khách (tăng 18%, riêng khách quốc tế tăng 40%), doanh thu chuyên ngành đạt 810,9 tỷ đồng (tăng 30%); tỉnh Quảng Nam đón 2,3 triệu lượt khách (tăng 7,9%), doanh thu đạt 769 tỷ đồng (tăng 28,4%). Trái lại, Huế đang đối mặt với nguy cơ trở thành trạm trung chuyển trong tuyến hành trình di sản miền Trung.

Thứ ba, mô hình du lịch cộng đồng và khai thác tài nguyên bản địa chưa được tổ chức đồng bộ. Toàn tỉnh có khoảng hơn 1.000 nhà vườn truyền thống đủ điều kiện phục vụ du khách theo hình thức homestay từ năm 2002, nhưng việc thiếu cơ chế phối hợp liên ngành khiến nguồn tài nguyên này chưa tạo ra bứt phá kinh tế thực sự.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những tồn tại trên xuất phát từ rào cản tâm lý văn hóa và chính sách xúc tiến thương mại. Khảo sát chuyên gia chỉ ra rằng tính cách người Huế thâm trầm, sống thiên về đạo đức văn hóa truyền thống, e ngại đổi mới kinh doanh thị trường và lo sợ mất bí quyết nghề. Do đó, các sản phẩm quà lưu niệm đặc trưng của Huế còn đơn điệu, nhiều mặt hàng lưu niệm phải nhập từ địa phương khác hoặc Trung Quốc.

Để làm rõ xu hướng, dữ liệu doanh thu và lượng khách giai đoạn 1991 - 2008 được tổng hợp thành bảng thống kê chuỗi thời gian và trực quan hóa qua biểu đồ cột kép kết hợp đường xu hướng (dual-axis combo chart), cho thấy mức độ co giãn doanh thu chưa tương xứng với tốc độ tăng trưởng số lượng phòng lưu trú. So sánh với các nghiên cứu quốc tế, báo cáo của PATA và Visa (2007) chỉ ra 31% du khách quốc tế dự định đến Việt Nam và 9/10 khách sẵn sàng chi trả thêm 10% chi phí cho sản phẩm du lịch văn hóa bền vững. Điều này chứng minh dư địa phát triển của Huế rất lớn nếu địa phương học tập bài học xúc tiến từ Thái Lan (cấp 0,5 triệu USD/năm cho mỗi văn phòng đại diện du lịch nước ngoài) và Malaysia (ngân sách tiếp thị trên 40 triệu USD/năm).

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cơ cấu quy hoạch không gian du lịch và hạ tầng kỹ thuật: Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế chủ trì nâng cấp đồng bộ hạ tầng cảng biển nước sâu Chân Mây (độ sâu 18 - 20m) và mở rộng sân bay Phú Bài trước năm 2012, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ khai thác công suất buồng phòng lưu trú bình quân đạt trên 75% vào năm 2015.

Thứ hai, đổi mới chiến lược quảng bá và xúc tiến điểm đến: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế triển khai chiến dịch định vị thương hiệu "Huế - Thành phố Festival đặc trưng", bố trí ngân sách xúc tiến tối thiểu 15 - 20 tỷ đồng/năm giai đoạn 2010 - 2015, chủ động phối hợp các hãng hàng không và mở văn phòng đại diện tại các thị trường trọng điểm Đông Á và Tây Âu.

Thứ ba, chuẩn hóa và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao: Hiệp hội Du lịch phối hợp hệ thống 7 trường đại học thành viên Đại học Huế tổ chức đào tạo chuẩn kỹ năng nghề và năng lực ngoại ngữ cho đội ngũ lao động, phấn đấu đến năm 2015 có trên 80% nhân sự phục vụ tại các khách sạn, lữ hành đạt chứng chỉ nghiệp vụ du lịch tiêu chuẩn quốc gia.

Thứ tư, thương mại hóa mô hình du lịch cộng đồng và nhà vườn sinh thái: Ủy ban nhân dân thành phố Huế và các huyện ban hành quy chuẩn hướng dẫn dịch vụ homestay trong năm 2011, hỗ trợ vốn vay ưu đãi để chuyển đổi tối thiểu 300 trong tổng số hơn 1.000 nhà vườn đạt chuẩn đón khách quốc tế, góp phần tăng ngày khách lưu trú bình quân từ 1,8 ngày lên 2,5 ngày vào năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thừa Thiên Huế cùng các tỉnh miền Trung sử dụng dữ liệu đánh giá giai đoạn 1991 - 2008 và bài học từ Thái Lan, Malaysia để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch địa phương tầm nhìn 2015 - 2020.

Doanh nghiệp lữ hành, khách sạn và nhà đầu tư: Ban lãnh đạo 149 khách sạn cùng 280 cơ sở lưu trú trên địa bàn áp dụng các chỉ số phân tích để tái cấu trúc gói sản phẩm, nâng cấp chất lượng dịch vụ và tối ưu hóa doanh thu lưu trú.

Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Các trường đại học khối ngành kinh tế và du lịch sử dụng công trình làm tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng trong quản trị điểm đến di sản văn hóa.

Cộng đồng cư dân và chủ nhà vườn truyền thống: Hơn 1.000 hộ gia đình sở hữu nhà vườn và các nghệ nhân làng nghề tại Huế tìm thấy định hướng thực tiễn để tham gia chuỗi cung ứng du lịch homestay, tạo thêm nguồn thu nhập ổn định.

Câu hỏi thường gặp

Đâu là điểm nghẽn lớn nhất của du lịch Thừa Thiên Huế trong giai đoạn 1991 - 2008? Điểm nghẽn lớn nhất là sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, phụ thuộc nhiều vào các di tích cung đình Đại Nội mà thiếu dịch vụ giải trí về đêm. Dù tỉnh sở hữu 5.172 phòng lưu trú tại 280 cơ sở, thời gian lưu trú của khách còn ngắn, chưa khai thác hết giá trị của 253 công trình di sản và 34 di tích quốc gia.

Đặc trưng văn hóa và tính cách người Huế tác động thế nào đến hoạt động du lịch? Văn hóa Huế sâu sắc và mến khách, song tính cách người dân thâm trầm, ít mạo hiểm trong kinh doanh thị trường. Khảo sát 45 chuyên gia cho thấy tâm lý e ngại đổi mới khiến các sản phẩm lưu niệm đặc trưng chưa phong phú, làm hạn chế mức chi tiêu mua sắm của du khách khi đến Huế.

Kinh nghiệm quốc tế từ Thái Lan và Malaysia mang lại bài học gì cho du lịch Thừa Thiên Huế? Thái Lan cấp 0,5 triệu USD/năm cho mỗi văn phòng xúc tiến quốc tế và Malaysia chi trên 40 triệu USD/năm giúp thu hút 15,7 triệu khách năm 2004. Thừa Thiên Huế cần học tập sự phối hợp liên ngành đồng bộ, cơ chế một cửa linh hoạt và đầu tư mạnh mẽ cho công tác tiếp thị thị trường trọng điểm.

Tiềm năng tài nguyên tự nhiên của Thừa Thiên Huế được đánh giá ra sao trong nghiên cứu? Tỉnh sở hữu 120 km bờ biển với các bãi tắm Lăng Cô, Cảnh Dương cùng hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai rộng hơn 216 km2 (phá Tam Giang 52 km2, đầm Cầu Hai 104 km2). Đây là nguồn tài nguyên vô giá để phát triển các loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng biển và thể thao mặt nước.

Mục tiêu cốt lõi của du lịch Thừa Thiên Huế hướng đến năm 2015 là gì? Mục tiêu trọng tâm là nâng tỷ lệ cơ sở lưu trú đạt chuẩn cao cấp lên trên 75%, tăng thời gian lưu trú bình quân từ 1,8 ngày lên 2,5 ngày, khai thác hiệu quả hơn 1.000 nhà vườn homestay và nâng cao năng lực cạnh tranh trước sự vươn lên mạnh mẽ của Đà Nẵng (năm 2008 đón 1,2 triệu khách) và Quảng Nam.

Kết luận

Công trình nghiên cứu đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu khoa học với những giá trị cốt lõi:

  • Hệ thống hóa nền tảng lý luận kinh tế du lịch và rút ra bài học thực tiễn giá trị từ các mô hình thành công của Thái Lan, Malaysia và Chu Hải (Trung Quốc).
  • Đánh giá toàn diện bức tranh thực trạng du lịch Thừa Thiên Huế giai đoạn 1991 - 2008 thông qua hệ thống dữ liệu 280 cơ sở lưu trú và 5.172 phòng nghỉ.
  • Chỉ rõ những nút thắt nội tại về cơ cấu sản phẩm, tính mùa vụ thời tiết và tâm lý văn hóa bản địa ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng ngành.
  • Đề xuất 7 nhóm giải pháp mang tính đột phá từ quy hoạch không gian, xúc tiến đa kênh đến chuẩn hóa hơn 1.000 cơ sở du lịch nhà vườn homestay.
  • Xác lập lộ trình hành động khả thi từ năm 2010 đến năm 2015 nhằm đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Cố đô.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là việc kết hợp chặt chẽ giữa tư duy quản trị kinh doanh hiện đại với bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống. Quý bạn đọc, nhà quản lý và doanh nghiệp quan tâm hãy khai thác toàn văn công trình nghiên cứu để áp dụng hiệu quả vào chiến lược phát triển du lịch địa phương.