Chương 1: Cơ sở lý luận về đô la hóa; Chương 2: Kinh nghiệm quốc tế về kiểm soát đô la hóa và bài học cho Việt Nam; Chương 3: Thực trạng đô la hóa nền kinh tế Việt Nam; Chương 4: Giải pháp kiểm soát đô la hóa nền kinh tế Việt Nam. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÔ LA HÓA 1. Khái niệm đô la hóa Đô la hóa có thể đƣợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Theo Connie Mack (1999, trang 352), thuật ngữ “đô la hóa” là tên gọi của hiện tƣợng “ngƣời dân của một quốc gia sử dụng ngoại tệ một cách rộng rãi đồng thời hoặc thay thế đồng nội tệ”.
Theo định nghĩa này, thuật ngữ “đô la hóa” có cách hiểu tƣơng tự nhƣ thuật ngữ “ngoại tệ hóa”, đó là việc sử dụng một hay nhiều loại ngoại tệ khác nhau. Ngoài ra, còn có thêm thuật ngữ “euro hóa” đƣợc dùng trong trƣờng hợp đồng ngoại tệ đó là đồng euro, phổ biến ở các quốc gia không thuộc Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) nhƣng lại sử dụng đồng ngoại tệ này. Ragnar Nurkse (1946, trang 48) đã viết: “Việc thiếu thốn phƣơng tiện thanh toán nội địa ổn định là một sự bất tiện nghiêm trọng trong thƣơng mại và sản xuất, và do đó các đồng ngoại tệ đƣợc mong muốn không chỉ đơn thuần là giá trị lƣu trữ mà còn là phƣơng tiện thanh toán trong nƣớc”. Tuy chƣa có nghiên cứu chính thức nào về sự xuất hiện đầu tiên của hiện tƣợng đô la hóa, song việc thay thế tiền tệ trong nền kinh tế siêu lạm phát đã đƣợc thƣờng xuyên nhắc đến.
Sau Thế chiến thứ nhất, Đức bị buộc chi trả cho các khoản vay bằng vàng hoặc ngoại tệ do siêu lạm phát, điều này làm cho chính phủ nƣớc này phải bán tiền mark1 để đổi lấy ngoại tệ với bất cứ giá nào (Carl-Ludwig Holtfrerich, 1986). Trong Thế chiến thứ hai, nền kinh tế Hy Lạp phải đối mặt với tình trạng siêu lạm phát, đại đa số ngƣời dân bỏ rơi đồng nội tệ là đồng drachma và chuyển sang sử dụng đồng bảng Anh (He Liping, 2017). Bên cạnh đó, theo Edgar Feige (2003, trang 359), “đô la hóa là quá trình thay thế đồng ngoại tệ cho đồng nội tệ để thực hiện các chức năng cơ bản của tiền nhƣ phƣơng tiện trao đổi và/ hoặc tài sản lƣu trữ”. Nhƣ vậy, thuật ngữ “đô la hóa” cũng có cách hiểu tƣơng tự nhƣ thuật ngữ “sự thay thế tiền tệ”.
Theo Pierre-Richard Agenor (1995, 1 Đồng nội tệ Đức. 8 trang 101), “sự thay thế tiền tệ là quá trình mà ngoại tệ thay thế nội tệ làm giá trị lƣu trữ, đơn vị tiền tệ và phƣơng tiện trao đổi”. Mặc dù không nổi bật và phát triển rộng rãi nhƣ đô la hóa, vàng hóa cũng là một hiện tƣợng không quá mới mẻ trong nền kinh tế toàn cầu. Vàng đƣợc sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới nhƣ một phƣơng tiện chuyển đổi tiền tệ.
Còn trong dân chúng, tuy không là phƣơng tiện trao đổi, mua bán, nhƣng vàng là một trong những phƣơng tiện lƣu trữ chính của ngƣời dân trên thế giới. Ngày nay, tuy đã đánh mất vị thế độc tôn, nhƣng nền kinh tế thế giới không thể phủ nhận vai trò đồng tiền quốc tế của đô la Mỹ. Đô la Mỹ luôn là ngoại tệ hàng đầu trong hoạt động dự trữ ngoại hối của các NHTW. Các hoạt động tài chính, thƣơng mại, đầu tƣ giữa các quốc gia trên thế giới phần lớn đều sử dụng đô la Mỹ nhƣ là một đơn vị tiền tệ trong thanh toán quốc tế.
Cùng với sức ảnh hƣởng mạnh mẽ của nền kinh tế Mỹ lên nền kinh tế thế giới, thuật ngữ “đô la hóa” dần dần đƣợc sử dụng rộng rãi để thay thế cho “ngoại tệ hóa” hay “sự thay thế tiền tệ”, thậm chí là “euro hóa” hay “vàng hóa”. Tóm lại, đô la hóa là hiện tƣợng một hay nhiều đồng ngoại tệ đƣợc lƣu hành rộng rãi và sử dụng phổ biến trong nền kinh tế của một đất nƣớc, thay thế đồng nội tệ trong việc thực hiện một số hoặc toàn bộ các chức năng của tiền tệ. Thông thƣờng, ngoại tệ ở đây có thể là bảng Anh (GBP), euro (EUR), đô la Mỹ (USD), yên Nhật (JPY), Nhân Dân tệ (CNY)… Vì các nghiên cứu đi trƣớc đã cho thấy hiện tƣợng đô la hóa thƣờng diễn ra ở các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, nên các lý thuyết về đô la hóa trong khóa luận này sẽ có phạm vi tập trung vào nhóm các quốc gia này. Phân loại đô la hóa Theo Connie Mack (1999), đô la hóa đƣợc chia thành ba loại: đô la hóa chính thức (official dollarization), đô la hóa bán chính thức (semi-official dollarization) và đô la hóa không chính thức (unofficial dollarization).
Đô la hóa chính thức Đô la hóa chính thức, hay còn gọi là đô la hóa hoàn toàn (full dollarization), là trƣờng hợp khi một quốc gia từ bỏ đồng nội tệ và chấp nhận đồng ngoại tệ là đồng tiền hợp pháp duy nhất đƣợc lƣu hành trong nền kinh tế quốc gia. “Đô la hóa chính thức xảy ra khi một chính phủ thông qua ngoại tệ nhƣ là đồng tiền pháp định2 chủ yếu hoặc độc quyền” (Connie Mack, 1999, trang 352). Nói cách khác, đồng ngoại tệ thực hiện toàn bộ các chức năng của đồng nội tệ. Trong trƣờng hợp đồng nội tệ còn đƣợc sử dụng thì chỉ đóng vai trò thứ yếu, thƣờng là các đồng tiền mệnh giá nhỏ hoặc đồng tiền xu.
Ở một số quốc gia độc lập, đô la hóa chính thức thƣờng diễn ra khi quốc gia đó trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế lớn và các chính sách của chính phủ thực hiện nhằm khôi phục nền kinh tế đều thất bại. Hầu hết các quốc gia bị đô la hóa chính thức thƣờng là các quốc gia không đông dân, có nền kinh tế nhỏ. Sau khi nền kinh tế bị đô la hóa hoàn toàn, chính phủ loại bỏ NHTW ra khỏi hệ thống hành chính, nhằm giảm bớt sự cồng kềnh của hệ thống hành chính, bởi vì mọi chính sách tiền tệ của các quốc gia này đã bị phụ thuộc hoàn toàn vào quốc gia ban hành đồng ngoại tệ. Sheppard (2000), trƣờng hợp khác biệt duy nhất là Ecuador, quốc gia đô la hóa chính thức đông dân nhất vẫn duy trì NHTW trong hệ thống hành chính.
2 “Đồng tiền pháp định là bất kỳ phƣơng tiện thanh toán chính thức nào đƣợc pháp luật công nhận, có thể đƣợc sử dụng để trả nợ công hoặc nợ tƣ nhân, hoặc để đáp ứng nghĩa vụ tài chính. Đồng nội tệ trên thực tế là đồng tiền pháp định của mỗi quốc gia.com/terms/l/legal-tender.asp Ví dụ: “Tiền giấy và tiền kim loại do Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam phát hành là đồng tiền pháp định, đƣợc dùng làm phƣơng tiện thanh toán không hạn chế trên lãnh thổ Việt Nam. Đô la hóa bán chính thức Đô la hóa bán chính thức, hay còn gọi là đô la hóa từng phần (partial dollarization), là trƣờng hợp khi một quốc gia chấp nhận đồng ngoại tệ đƣợc lƣu hành hợp pháp và song song với đồng nội tệ. Đồng ngoại tệ tham gia vào các giao dịch liên quan đến tiền tệ cùng với đồng nội tệ nhƣng giữ vai trò thứ cấp, phần lớn thực hiện chức năng lƣu trữ, cất giữ.
Quá trình đô la hóa này đƣợc hình thành dần dần theo thời gian trong quá trình phát triển kinh tế đất nƣớc và đƣợc chấp nhận bởi chính phủ và ngƣời dân. Tại các quốc gia có nền kinh tế đô la hóa bán chính thức, NHTW vẫn đƣợc duy trì để thực hiện chính sách tiền tệ riêng của quốc gia đó. Đô la hóa không chính thức Đô la hóa không chính thức là trƣờng hợp khi đồng ngoại tệ đƣợc sử dụng song song với đồng nội tệ trong một quốc gia nhƣng không đƣợc chính phủ chính thức chấp nhận. “Đô la hóa không chính thức xảy ra khi mọi ngƣời dân nắm giữ phần lớn tài sản của họ dƣới dạng ngoại tệ mặc dù ngoại tệ đó không phải là đồng tiền pháp định” (Connie Mack, 1999, trang 352).
Nói cách khác, đồng ngoại tệ đƣợc phần lớn ngƣời dân quen sử dụng trong các hoạt động tiền tệ nhƣng chính phủ không thừa nhận và cấm dùng đối với phần lớn các giao dịch trong nƣớc. Quá trình đô la hóa này đƣợc hình thành dần dần theo thời gian, do niềm tin của ngƣời bản xứ vào đồng nội tệ bị mài mòn. Đô la hóa không chính thức thƣờng xảy ra sau khi quốc gia trải qua một hay một vài cuộc khủng hoảng kinh tế và các chính sách khôi phục của chính phủ không lấy lại đƣợc lòng tin của ngƣời dân. Đo lƣờng đô la hóa Mức độ đô la hóa trong nền kinh tế có thể đƣợc đo lƣờng ở nhiều chỉ tiêu khác nhau.
Theo Nkunde Mwase (2015), các chỉ tiêu này bao gồm: phƣơng tiện thanh toán; hƣơng tiện cất giữ giá trị; sự định giá, niêm yết giá. Đô la hóa ở phƣơng tiện cất giữ Đô la hóa phƣơng tiện cất giữ, hay còn đƣợc gọi là đô la hóa tiền gửi, là chỉ tiêu đƣợc sử dụng rộng rãi để đo lƣờng mức độ đô la hóa vì có thể xác định và lƣợng hóa đƣợc một cách rõ ràng và chính xác. Đô la hóa phƣơng tiện cất giữ thể hiện qua Tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ (Foreign Currency Deposits – FCD) trên Tổng phƣơng tiện thanh toán (Broad Money – M2). Theo IMF, tỷ lệ FCD/M2 thông thƣờng còn đƣợc gọi là tỷ lệ đô la hóa (xem Bảng 1.
Ngƣời dân có xu hƣớng nắm giữ ngoại tệ, hoặc gửi tiền tiết kiệm bằng ngoại tệ nhằm bảo vệ tài sản của họ.1: Mức độ đô la hóa nền kinh tế dựa trên tỷ lệ FCD/M2 theo IMF Tỷ lệ FCD/M2 Mức độ đô la hóa Quốc gia bị đô la hóa Dƣới 30% Đô la hóa mức Bulgaria, Dominica, Estonia, Hungary, trung bình Jordan, Nga, Mexico, Việt Nam, Ukraine… Từ 30% trở lên Đô la hóa mức cao Argentina, Bolivia, Campuchia, Costa Rica, Georgia, Lào, Peru, Thổ Nhĩ Kỳ, Uruguay… Nguồn: IMF, 1986. Đô la hóa ở phƣơng tiện thanh toán Đô la hóa phƣơng tiện thanh toán thể hiện ở mức độ sử dụng ngoại tệ trong các giao dịch thanh toán. Ngƣời dân nắm giữ một lƣợng lớn ngoại tệ để thực hiện các giao dịch trao đổi, mua bán hàng hóa. Các giao dịch này thƣờng là chi trả cho những hàng hóa mang giá trị cao nhƣ máy móc – thiết bị công nghệ cao, bất động sản, xe ô tô hoặc thậm chí là tiền lƣơng.
Tuy nhiên, vì các giao dịch thanh toán bất hợp pháp bằng ngoại tệ trên thị trƣờng chợ đen rất khó đánh giá nên chỉ tiêu này ít khi đƣợc sử dụng để đo lƣờng. Ví dụ tại Campuchia, theo Khmer Times, 700.