Luận văn thạc sĩ: Dạy học sinh sản hữu tính ở động vật - Nguyễn Thị Thủy

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu xây dựng, tổ chức dạy học chủ đề Sinh sản hữu tính ở động vật, nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh THPT.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục

2020

132
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Mục tiêu nghiên cứu

3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4. Giả thuyết khoa học

5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

6. Nội dung nghiên cứu

7. Phương pháp nghiên cứu

8. Đóng góp mới của đề tài

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

1.1.1. Trên thế giới

1.1.2. Tại Việt Nam

1.2. Một số vấn đề chung về DHTCĐ và dạy học định hướng phát triển NL cho HS THPT

1.2.1. Khái niệm chủ đề học tập và dạy học theo chủ đề

1.2.2. Ưu thế của dạy học theo chủ đề so với dạy học tiếp cận truyền thống

1.2.3. Tổ chức dạy học theo chủ đề

1.2.4. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho HS THPT

1.2.5. Mối quan hệ giữa DHTCĐ và việc phát triển NL VDKT đã học vào thực tiễn cho HS THPT

1.3. Thực trạng của việc tổ chức DHTCĐ sinh sản hữu tính ở động vật theo định hướng phát triển NL VDKT cho HS

1.4. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG VÀ THIẾT KẾ KẾ HOẠCH DẠY HỌC CHỦ ĐỀ SINH SẢN HỮU TÍNH Ở ĐỘNG VẬT GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC CHO HỌC SINH THPT

2.1. Xây dựng chủ đề sinh sản hữu tính ở động vật

2.1.1. Nguyên tắc xây dựng chủ đề dạy học

2.1.2. Quy trình xây dựng chủ đề

2.1.3. Xây dựng nội dung chủ đề Sinh sản hữu tính ở động vật

2.1.4. Các biện pháp phát triển NL VDKT đã học vào thực tiễn trong dạy học chủ đề “Sinh sản hữu tính ở động vật”

2.2. Thiết kế kế hoạch dạy học

2.2.1. Nguyên tắc thiết kế kế hoạch dạy học chủ đề theo định hướng phát triển NL VDKT

2.2.2. Quy trình thiết kế kế hoạch dạy học chủ đề theo định hướng phát triển NL VDKT cho HS THPT

2.2.3. Bản kế hoạch (giáo án) dạy học theo chủ đề

2.3. Tổ chức dạy học chủ đề

2.4. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ

3.1. TỔ CHỨC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ

3.2. Thực nghiệm sư phạm

3.2.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm

3.2.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm

3.2.3. Nội dung thực nghiệm sư phạm

3.2.4. Phương pháp thực nghiệm

3.2.5. Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm

3.3. Kết quả thực nghiệm sư phạm

3.3.1. Kết quả đánh giá về kiến thức

3.3.2. Kết quả đánh giá NL VDKT đã học vào thực tiễn

3.4. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan cách tiếp cận mới Dạy học chủ đề sinh sản hữu tính ở động vật hiệu quả

Việc đổi mới giáo dục phổ thông đang diễn ra mạnh mẽ, tập trung vào phát triển năng lực và phẩm chất người học. Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã chỉ rõ nhiệm vụ này [1]. Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và các môn học, trong đó có dạy học Sinh học 11, chuyển từ định hướng nội dung sang phát triển năng lực học sinh [3]. Đây là sự chuyển đổi quan trọng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế [19]. Đặc biệt, dạy học theo chủ đề nổi lên như một phương pháp dạy học sinh sản hữu hiệu, gắn kết kiến thức với thực tiễn. Mô hình này không chỉ giúp học sinh tự hoạt động nhiều hơn để tìm ra kiến thức mà còn vận dụng kiến thức vào thực tiễn một cách có ý nghĩa [21].

Chủ đề “Sinh sản hữu tính ở động vật” trong Sinh học 11 chứa đựng nhiều kiến thức quan trọng, liên quan mật thiết đến các hiện tượng tự nhiên và đời sống. Nội dung này đề cập đến quá trình sinh lý trong cơ thể động vật, con người, duy trì nòi giống, và ứng dụng trong chăn nuôi hay bảo vệ sức khỏe con người, đặc biệt là sức khỏe sinh sản vị thành niên [17]. Tổ chức dạy học chủ đề sinh sản hữu tính ở động vật theo hướng tiếp cận năng lực, gắn kiến thức với thực tiễn, sẽ làm tăng sự yêu thích môn học, phát huy tư duy và năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Đồng thời, qua việc vận dụng kiến thức, học sinh có khả năng ghi nhớ kiến thức lâu hơn, hiểu sâu hơn, và việc học tập trở nên ý nghĩa hơn [17]. Sự đổi mới này cũng đòi hỏi giáo viên áp dụng các kỹ thuật dạy học tích cực và tích hợp liên môn, làm cho nội dung học trở nên thực tế và có ý nghĩa hơn, góp phần hình thành và phát triển năng lực người học [5]. Các phương pháp này tạo cơ hội cho học sinh làm việc theo nhóm, giải quyết vấn đề thực tế, thu thập thông tin từ nhiều nguồn, và hình thành các kỹ năng quan trọng như giao tiếp, hợp tác [9].

1.1. Mục tiêu đổi mới giáo dục Nâng tầm dạy học sinh học 11

Mục tiêu chính của Chương trình Giáo dục phổ thông môn Sinh học là hình thành và phát triển năng lực sinh học ở học sinh, đồng thời góp phần vào việc phát triển phẩm chất và năng lực chung. Những phẩm chất này bao gồm tình yêu thiên nhiên, niềm tự hào về đất nước, thái độ tôn trọng quy luật tự nhiên, và ý thức bảo vệ môi trường để hướng tới sự phát triển bền vững [5]. Chương trình cũng rèn luyện cho học sinh thế giới quan khoa học, tính trung thực, tinh thần trách nhiệm, tình yêu lao động, cùng với các năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo [5].

Yêu cầu cần đạt của môn Sinh học được xác định là đầu ra của chương trình, không chỉ phát triển phẩm chất và năng lực chung mà còn hình thành năng lực sinh học đặc thù. Năng lực sinh học biểu hiện qua ba thành phần chính: nhận thức sinh học, tìm hiểu thế giới sống, và vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học [5]. Cụ thể, năng lực vận dụng kiến thức bao gồm khả năng giải thích, đánh giá các hiện tượng trong tự nhiên và đời sống, đồng thời có thái độ và hành vi ứng xử phù hợp [5]. Việc này giúp học sinh gắn kết kiến thức sinh học đại cương với các vấn đề thực tiễn, như trồng trọt, chăn nuôi, chăm sóc sức khỏe, và bảo vệ môi trường, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống [18]. Điều này tạo tiền đề vững chắc cho việc học tập môn Sinh học 11 trở nên thiết thực và có ý nghĩa hơn bao giờ hết.

1.2. Ưu thế phương pháp dạy học sinh sản theo chủ đề Học gắn liền thực tiễn

Dạy học theo chủ đề (Themes-Based Learning) là một chiến lược dạy học hiện đại, chú trọng vào việc thiết kế và tổ chức các chủ đề học tập mang tính tổng quát, liên quan đến nhiều lĩnh vực và tích hợp các vấn đề thực tiễn. Mô hình này thay thế cách dạy học truyền thống, nơi giáo viên là trung tâm, bằng cách đặt học sinh vào vai trò chủ động tìm kiếm thông tin và vận dụng kiến thức để giải quyết các nhiệm vụ có ý nghĩa [23]. Khác với dạy học truyền thống chỉ dừng lại ở các bài học ngắn, cô lập, dạy học theo chủ đề tạo ra một môi trường học tập nơi học sinh có nhiều cơ hội làm việc nhóm, giải quyết vấn đề có hệ thống và liên quan đến nhiều kiến thức khác nhau [9].

Ưu điểm của phương pháp dạy học sinh sản theo chủ đề so với cách tiếp cận truyền thống là rõ rệt. Trong khi dạy học truyền thống thường khiến kiến thức rời rạc, hoặc chỉ có mối liên hệ tuyến tính, thì dạy học theo chủ đề giúp học sinh thu được các khái niệm trong một mối liên hệ mạng lưới chặt chẽ [Nguồn: http://ngthcsquyetthang.vn/null/file_van_ban/42_DAY_HOC_THEO_CHU_DE.doc]. Mức độ nhận thức của học sinh sau khi học theo chủ đề có thể đạt mức cao hơn, bao gồm phân tích, tổng hợp, đánh giá và đề xuất giải pháp mới [Nguồn: http://ngthcsquyetthang.vn/null/file_van_ban/42_DAY_HOC_THEO_CHU_DE.doc]. Hơn nữa, kiến thức thu được gần gũi với thực tiễn, làm cho việc học tập có ý nghĩa và tạo động lực cho học sinh tham gia nhiệt tình [32]. Việc áp dụng các kỹ thuật dạy học tích cực trong dạy học theo chủ đề còn bồi dưỡng các kỹ năng sống, làm việc, giao tiếp, hợp tác và phát triển năng lực chung cũng như năng lực cốt lõi cho học sinh.

II. Thách thức lớn trong dạy học sinh sản hữu tính Giải pháp nào cho giáo viên

Thực trạng dạy học chủ đề sinh sản hữu tính ở động vật tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vẫn còn nhiều thách thức. Mặc dù nội dung này đã được xây dựng thành chủ đề học tập, quá trình tổ chức dạy học chủ yếu dừng ở mức độ liên hệ kiến thức với một số vấn đề thực tiễn, chưa thực sự phát triển năng lực vận dụng kiến thức và kỹ năng cho học sinh [17]. Nguyên nhân chính được khảo sát từ giáo viên cho thấy, 43/48 (89,58%) giáo viên chưa tổ chức dạy học chủ đề sinh sản hữu tính ở động vật một cách thường xuyên. Lý do phổ biến là đây là phần cuối của chương trình Sinh học 11, thường bị ngắt quãng bởi thời gian ôn tập và thi học kỳ II, dẫn đến tâm lý học sinh không còn tích cực học tập [Kết quả khảo sát GV].

Những khó khăn cụ thể mà giáo viên gặp phải bao gồm việc quản lý học sinh trong các hoạt động dự án, trải nghiệm ngoài trường học (85% giáo viên gặp khó khăn), thời lượng tiết học cố định 45 phút không đủ để triển khai chủ đề kéo dài (100% giáo viên nhận định đây là khó khăn lớn). Hơn nữa, việc xây dựng một chủ đề học tập đòi hỏi nhiều công đoạn phức tạp, tốn thời gian, và yêu cầu giáo viên phải có trình độ nhất định (82,5% giáo viên gặp khó khăn). Đặc biệt, thiết kế công cụ đánh giá năng lực, phẩm chất của học sinh khi học theo chủ đề là một thách thức lớn (92,5% giáo viên gặp khó khăn) [Kết quả điều tra thuận lợi và khó khăn]. Phần lớn giáo viên vẫn chưa nắm vững quy trình kiểm tra đánh giá năng lực vận dụng kiến thức một cách đầy đủ. Điều này cho thấy nhu cầu cấp thiết về các giải pháp hỗ trợ giáo viên trong việc tổ chức dạy học chủ đề sinh sản hữu tính theo định hướng phát triển năng lực, đặc biệt là trong việc kiểm tra đánh giá sinh học một cách hiệu quả và phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông mới [Kết quả điều tra về nhận thức của GV về quy trình].

2.1. Thực trạng dạy học sinh sản hữu tính ở động vật Những điểm nghẽn cần tháo gỡ

Thực trạng tổ chức dạy học chủ đề sinh sản hữu tính ở động vật tại các trường THPT cho thấy nhiều hạn chế. Mặc dù đa số giáo viên (83,33%) đã nắm được quy trình thiết kế một chủ đề dạy học, nhưng tỷ lệ giáo viên thực sự tổ chức dạy học sinh sản hữu tính ở động vật theo chủ đề còn rất thấp. Lý do chính là do nội dung này thường được dạy vào cuối năm học của Sinh học 11, trùng với thời điểm ôn tập và thi học kỳ, khiến mạch dạy bị gián đoạn và học sinh thiếu động lực học tập [Kết quả khảo sát GV].

Bên cạnh đó, việc quản lý học sinh trong các hoạt động học tập theo dự án hoặc trải nghiệm thực tế bên ngoài trường học gặp nhiều khó khăn. Thời gian dành cho mỗi tiết học trên lớp (45 phút) không đủ để triển khai một chủ đề kéo dài vài tiết học, đòi hỏi giáo viên phải linh hoạt trong việc sắp xếp và tổ chức [Kết quả điều tra thuận lợi và khó khăn]. Việc thiết kế giáo án sinh sản hữu tính theo chủ đề cũng là một thách thức lớn, yêu cầu giáo viên đầu tư nhiều thời gian và công sức. Những “điểm nghẽn” này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giảng dạy và khả năng phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh.

2.2. Nhận thức giáo viên về năng lực vận dụng kiến thức và kiểm tra đánh giá sinh học

Kết quả khảo sát về nhận thức của giáo viên về các biểu hiện của năng lực vận dụng kiến thức (NL VDKT) đã học cho thấy một khoảng cách đáng kể. Phần lớn giáo viên chưa có nhận thức đầy đủ về các biểu hiện của NL VDKT vào thực tiễn, chủ yếu tập trung vào khả năng giải thích một vấn đề thực tiễn liên quan đến bài học (100% giáo viên đồng ý với biểu hiện này) [Bảng 1.1]. Tuy nhiên, các biểu hiện khác như học sinh chủ động phát hiện và giải quyết vấn đề (chỉ 27,08% đồng ý), nhận diện mâu thuẫn (20,83% đồng ý), hay thu thập, sắp xếp kiến thức (14,58% đồng ý) lại có tỷ lệ đồng thuận rất thấp [Bảng 1.1]. Điều này cho thấy giáo viên chưa nhìn nhận toàn diện các khía cạnh của NL VDKT.

Trong khi đó, việc kiểm tra đánh giá sinh học về NL VDKT sau mỗi bài học hay chủ đề cũng ít được thực hiện. Chỉ 10,42% giáo viên thường xuyên thực hiện, trong khi 47,92% hiếm khi và 16,17% chưa bao giờ thực hiện [Kết quả khảo sát GV]. Điều này xuất phát từ việc phần lớn giáo viên chưa hiểu rõ về NL VDKT nên chưa thể tiến hành đánh giá hoặc có nhưng rất hiếm khi làm. Quy trình kiểm tra đánh giá sinh học về NL VDKT, bao gồm xác định cấu trúc năng lực, xây dựng bảng tiêu chí, thiết kế công cụ đánh giá, và tổ chức đánh giá, cũng chưa được giáo viên nắm rõ [Bảng 1.2]. Điều này đặt ra yêu cầu cần có tài liệu tham khảo rõ ràng và dễ hiểu để hỗ trợ giáo viên trong quá trình kiểm tra đánh giá này.

III. Hướng dẫn xây dựng và tổ chức dạy học chủ đề sinh sản hữu tính ở động vật hiệu quả

Để xây dựng và tổ chức dạy học chủ đề sinh sản hữu tính ở động vật hiệu quả, cần tuân thủ các nguyên tắc và quy trình khoa học, hướng đến phát triển năng lực học sinh. Luận văn này đề xuất một quy trình gồm 5 bước, khác với quy trình 7 bước của Đỗ Hương Trà và cộng sự [23], nhằm tối ưu hóa việc thiết kế và triển khai chủ đề. Quy trình này đảm bảo tính khoa học, hệ thống và phù hợp với bối cảnh giáo dục hiện nay [18]. Các nguyên tắc xây dựng chủ đề nhấn mạnh việc bám sát yêu cầu cần đạt của Chương trình GDPT môn Sinh học [5], đồng thời phải có tính khả thi, gắn với thực tiễn địa phương và phù hợp với đặc điểm của học sinh [18].

Nội dung chuyên đề sinh sản hữu tính cần được xây dựng dựa trên sự tổng hợp từ các tài liệu khoa học như Giáo trình sinh lý người và động vật [8], [15], Sinh học cơ thể [11], Giáo trình sinh học đại cương [6], và các nguồn khác [25], [26], [28], [30], [31]. Nội dung này bao gồm các quá trình cơ bản như hình thành giao tử (tinh trùng, trứng), quá trình thụ tinh tạo hợp tử, phát triển phôi thai, và các hình thức đẻ trứng, đẻ con. Đặc biệt, cần tập trung vào cơ chế điều hòa sinh sản (điều hòa sinh tinh, sinh trứng) và vai trò hormone sinh sản, cũng như các yếu tố ảnh hưởng. Cuối cùng, chủ đề phải tích hợp các ứng dụng thực tiễn về điều khiển sinh sản ở động vật và sinh đẻ có kế hoạch ở người, bảo vệ sức khỏe sinh sản. Việc này giúp học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề trong cuộc sống, như chăn nuôi, kế hoạch hóa gia đình, và sức khỏe vị thành niên [Mục tiêu nghiên cứu, Xây dựng nội dung chủ đề Sinh sản hữu tính ở động vật].

3.1. Nguyên tắc cốt lõi khi xây dựng chủ đề dạy học sinh sản hữu tính

Việc xây dựng chủ đề dạy học cho nội dung sinh sản hữu tính ở động vật cần tuân thủ bốn nguyên tắc cốt lõi. Thứ nhất, chủ đề phải đảm bảo định hướng đổi mới giáo dục phổ thông, phù hợp với mục tiêu dạy học sinh học và yêu cầu cần đạt của Chương trình GDPT môn Sinh học [5]. Điều này đảm bảo tính cập nhật và hiệu quả của nội dung giảng dạy. Thứ hai, chủ đề phải có tính khoa học, nghĩa là nội dung dạy học cần được xây dựng một cách chặt chẽ, hệ thống, dựa trên các kiến thức sinh học chuẩn xác [18].

Thứ ba, nguyên tắc về tính nội dung yêu cầu chủ đề phải tạo điều kiện cho học sinh vận dụng kiến thức của môn học để phát hiện và giải quyết vấn đề một cách chủ động, sáng tạo và hợp tác. Điều này khuyến khích sự tham gia tích cực của học sinh [18]. Cuối cùng, nguyên tắc tính khả thi đòi hỏi chủ đề phải gắn liền với thực tiễn, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, và đáp ứng điều kiện khách quan của từng trường, địa phương [18]. Việc này giúp cho giáo án sinh sản hữu tính trở nên gần gũi và dễ triển khai trong thực tế, đặc biệt là với các hoạt động trải nghiệm hoặc ứng dụng trong chăn nuôi tại địa phương.

3.2. Quy trình thiết kế giáo án sinh sản hữu tính theo hướng phát triển năng lực

Để thiết kế giáo án sinh sản hữu tính theo hướng phát triển năng lực học sinh, một quy trình 5 bước được đề xuất, khác biệt so với các quy trình 7 bước trước đó [23]. Bước 1 là Lựa chọn chủ đề, trong đó giáo viên cần làm rõ lý do chọn, chú ý mở rộng kiến thức, rèn luyện kỹ năng thực hành và định hướng nghề nghiệp liên quan đến sinh sản hữu tính ở động vật. Việc vận dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề thực tiễn là yêu cầu đầu ra quan trọng.

Bước 2 là Xác định yêu cầu cần đạt của chủ đề. Giáo viên cần nghiên cứu kỹ mạch kiến thức trong Chương trình GDPT môn Sinh học [5] để xác định các phẩm chất, năng lực chungnăng lực đặc thù (năng lực sinh học) mà học sinh cần đạt được, đặc biệt là năng lực vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn. Từ đó, xác định phương pháp dạy học sinh sản và hình thức tổ chức dạy học phù hợp. Bước 3 là Xác định nội dung chủ đề. Giáo viên cần trả lời các câu hỏi về tính tích hợp, các nội dung cụ thể thuộc môn học nào, mạch logic phát triển, thời lượng dự kiến, và mức độ gắn với thực tiễn để học sinh vận dụng kiến thức đã học. Bước 4 là Xác định phương pháp, phương tiện, hình thức dạy học chủ đề, và cuối cùng, Bước 5 là Kiểm tra, rà soát, điều chỉnh chủ đề, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả theo mục tiêu dạy học sinh học mới.

3.3. Xây dựng nội dung chuyên đề sinh sản hữu tính Từ cơ bản đến ứng dụng

Nội dung chuyên đề sinh sản về sinh sản hữu tính ở động vật được xây dựng dựa trên yêu cầu cần đạt của Chương trình GDPT môn Sinh học [5] và các tài liệu chuyên ngành [6], [7], [8], [11], [15]. Chủ đề này bao gồm các kiến thức cốt lõi và ứng dụng thực tiễn. Về kiến thức cơ bản, học sinh cần trình bày được quá trình sinh sản hữu tính ở động vật, bao gồm hình thành giao tử (tinh trùng, trứng), thụ tinh tạo hợp tử, phát triển phôi thai, và sự đẻ [5]. Việc phân biệt các hình thức thụ tinh trongthụ tinh ngoài ở các loài động vật khác nhau là rất quan trọng để hiểu rõ đa dạng sinh học. Ngoài ra, cần làm rõ quá trình phân bào giảm nhiễm để hình thành giao tử.

Các nội dung nâng cao bao gồm cơ chế điều hòa sinh sản ở động vật, tập trung vào vai trò hormone sinh sản trong điều hòa sinh tinh và sinh trứng, cùng các yếu tố ảnh hưởng. Về ứng dụng, chủ đề đề cập đến điều khiển sinh sản ở động vật trong chăn nuôi (ví dụ: điều khiển số con, giới tính, thụ tinh nhân tạo cho lợn, cá) và sinh đẻ có kế hoạch ở người, các biện pháp tránh thai, cũng như các thành tựu thụ tinh trong ống nghiệm [5]. Việc lồng ghép các hoạt động trải nghiệm về dân số, kế hoạch hóa gia đình, và sức khỏe sinh sản vị thành niên giúp học sinh vận dụng kiến thức vào thực tiễn, định hướng nghề nghiệp và phát triển ý thức bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

IV. Bí quyết phát triển năng lực vận dụng kiến thức qua chủ đề sinh sản hữu tính

Để tối ưu hóa phát triển năng lực vận dụng kiến thức (NL VDKT) cho học sinh thông qua dạy học chủ đề sinh sản hữu tính ở động vật, giáo viên cần chủ động tạo ra các tình huống thực tiễn và sử dụng đa dạng phương pháp dạy học tích cực. Việc đặt học sinh vào các tình huống có vấn đề giúp các em không chỉ chiếm lĩnh kiến thức mà còn rèn luyện khả năng giải quyết vấn đề từ thực tế [2]. Các kỹ thuật dạy học tích cực như dạy học giải quyết vấn đề, thí nghiệm, và dạy học dự án đóng vai trò then chốt trong quá trình này [4]. Giáo viên cần chú ý tạo cơ hội cho học sinh đề xuất hoặc tiếp cận với các tình huống thực tiễn, đọc hiểu, giải thích thông tin về vấn đề cần giải quyết, từ đó vận dụng kiến thức sinh học để đưa ra giải pháp [4].

Việc xây dựng giáo án sinh sản hữu tính cần tích hợp các bài tập đòi hỏi tư duy phản biện, sáng tạo, bao gồm câu hỏi mở và các bài tập có nhiều cách giải quyết, gắn kết với sự phản hồi trong quá trình học [4]. Đồng thời, ứng dụng công nghệ thông tin dạy học (ICT) cũng là một biện pháp hiệu quả, giúp học sinh tìm kiếm thông tin, xử lý dữ liệu và trình bày kết quả một cách trực quan, sinh động. ICT không chỉ hỗ trợ quá trình khám phá kiến thức mà còn tăng cường tính hứng thú và khả năng hợp tác của học sinh. Việc này giúp học sinh liên hệ và vận dụng kiến thức, kỹ năng từ các lĩnh vực khác nhau vào giải quyết các vấn đề thực tế, từ đó nâng cao NL VDKT một cách bền vững. Quy trình tổ chức dạy học cần lặp đi lặp lại với mức độ phức tạp tăng dần, giúp học sinh củng cố và phát triển NL VDKT theo thời gian [Hình 1. Quy trình tổ chức dạy học phát triển NL VDKT].

4.1. Cách sử dụng câu hỏi tình huống và bài tập thực tiễn trong dạy học sinh sản hữu tính

Trong dạy học chủ đề sinh sản hữu tính ở động vật, việc sử dụng hệ thống câu hỏi định hướng và bài tập thực tiễn là biện pháp quan trọng để phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh. Giáo viên đưa ra các ví dụ thực tiễn liên quan đến bài học, sau đó yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải thích. Ví dụ, khi dạy về sinh sản hữu tính, giáo viên có thể đặt câu hỏi: "Tại sao mỗi lần cá chép cái đẻ 15-20 vạn trứng nhưng chỉ vài chục con lớn lên thành cá trưởng thành? Người ta cần làm gì để tăng hiệu quả thụ tinh ở cá chép?" hoặc "Tại sao mỗi lần sinh, thú đẻ con chỉ sinh từ 1 đến 7-8 con nhưng tỉ lệ con non sống sót rất lớn? Để tăng hiệu suất sinh sản của đàn vật nuôi, cần làm như thế nào?" [Ví dụ 1, Ví dụ 2 trong Bảng 2.2].

Các bài tập thực tiễn không chỉ giúp học sinh nhận biết và giải thích vấn đề mà còn củng cố kiến thức đã học một cách sâu sắc hơn. Giáo viên có thể sử dụng các tình huống liên quan đến ứng dụng trong chăn nuôi hoặc bảo vệ sức khỏe sinh sản vị thành niên để học sinh phân tích và đưa ra giải pháp. Chẳng hạn, tình huống về việc "vỗ béo lươn bằng thuốc tránh thai" có thể khơi gợi học sinh tìm hiểu về cơ chế điều hòa sinh sản động vật và tác động của hormone. Từ đó, học sinh hiểu rõ hơn về các khái niệm như thụ tinh trong, thụ tinh ngoài, hình thành giao tử, và phát triển phôi trong đời sống.

4.2. Khai thác ứng dụng công nghệ thông tin dạy học Tăng cường tính thực tiễn

Ứng dụng công nghệ thông tin dạy học (ICT) đóng vai trò then chốt trong việc tăng cường tính thực tiễn và hiệu quả của dạy học chủ đề sinh sản hữu tính ở động vật. ICT cung cấp các công cụ và tài nguyên đa dạng, giúp học sinh dễ dàng tiếp cận thông tin, hình ảnh, video minh họa về các quá trình sinh học phức tạp như phân bào giảm nhiễm, hình thành giao tử, thụ tinh trongthụ tinh ngoài, hay phát triển phôi. Việc này giúp học sinh hình dung rõ ràng hơn về vòng đời động vật và các cơ chế sinh sản.

Giáo viên có thể sử dụng các phần mềm mô phỏng, bài giảng E-learning, hoặc các nền tảng trực tuyến để tổ chức các hoạt động học tập tương tác. Điều này không chỉ kích thích hứng thú học tập mà còn giúp học sinh tự tìm tòi, khám phá kiến thức một cách chủ động. Ví dụ, học sinh có thể sử dụng internet để nghiên cứu về vai trò hormone sinh sản trong điều hòa sinh sản ở các loài động vật khác nhau, hoặc tìm hiểu về các thành tựu tiến hóa sinh sản. ICT còn hỗ trợ học sinh trong việc thu thập, xử lý dữ liệu từ các khảo sát hoặc dự án học tập, từ đó phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn, chẳng hạn như trong chăn nuôi hay bảo vệ sức khỏe sinh sản. Việc tích hợp ICT giúp dạy học chủ đề sinh sản hữu tính trở nên hiện đại, hấp dẫn và gắn kết hơn với cuộc sống.

4.3. Đánh giá năng lực vận dụng kiến thức Tiêu chí và công cụ hiệu quả

Việc đánh giá năng lực vận dụng kiến thức (NL VDKT) là một phần không thể thiếu trong dạy học chủ đề sinh sản hữu tính ở động vật, đảm bảo rằng học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn có khả năng áp dụng vào thực tiễn. Dựa trên quy trình của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng [10], việc đánh giá NL VDKT bao gồm 4 bước chính: xác định cấu trúc năng lực, xây dựng bảng tiêu chí đánh giá, thiết kế bộ công cụ đánh giá và tổ chức đánh giá.

Bảng tiêu chí đánh giá NL VDKT được xây dựng theo thang đo kỹ năng của Dreyfus, bao gồm các mức độ từ “Bắt chước” đến “Hình thành năng lực”, với các chỉ số chất lượng cho từng hành vi cụ thể [Bảng 1.3]. Các tiêu chí này bao gồm thái độ thích hợp với vấn đề, khả năng nhận biết vấn đề thực tiễn, dẫn ra bằng chứng, giải thích và đánh giá hiện tượng, cũng như đề xuất và thực hiện giải pháp [Bảng 1.3]. Các công cụ kiểm tra đánh giá sinh học thường được sử dụng là câu hỏi, bài tập, bài tập tình huống, bài tập thực tiễn, bài tập dự án, kèm theo bảng kiểm, bảng hỏi, bảng quan sát [Phương pháp nghiên cứu thực tiễn]. Việc này giúp giáo viên có cái nhìn toàn diện về khả năng vận dụng kiến thức của học sinh về sinh sản hữu tính động vật và điều chỉnh giáo án sinh sản hữu tính cho phù hợp. Quá trình đánh giá này không chỉ dừng lại ở kiến thức mà còn mở rộng sang khả năng tư duy phản biện và sáng tạo của học sinh.

V. Kết quả thực nghiệm Nâng cao chất lượng dạy học sinh sản hữu tính ở THPT

Để kiểm chứng giả thuyết về việc xây dựng và tổ chức dạy học chủ đề Sinh sản hữu tính ở động vật có thể góp phần phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh THPT, một thực nghiệm sư phạm đã được tiến hành tại trường THPT Lê Chân – Quảng Ninh. Mục đích của thực nghiệm là đánh giá hiệu quả của quy trình dạy học mới. Các kết quả thu được từ thực nghiệm sư phạm đã cung cấp bằng chứng rõ ràng về sự tiến bộ của học sinh [THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ].

Kết quả đánh giá về kiến thức cho thấy có sự cải thiện đáng kể về điểm kiểm tra 15 phút của lớp thực nghiệm sau khi áp dụng chủ đề mới. Cụ thể, điểm trung bình của lớp thực nghiệm sau tác động đã tăng lên, đồng thời độ lệch chuẩn giảm, cho thấy sự đồng đều và nâng cao về mặt kiến thức của học sinh [Bảng phân phối tần số điểm kiểm tra 15 phút TTĐ và STĐ]. Điều này khẳng định rằng phương pháp dạy học sinh sản theo chủ đề không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức cốt lõi về sinh sản hữu tính ở động vật mà còn cải thiện khả năng ghi nhớ và hiểu bài sâu sắc hơn. Quan trọng hơn, kết quả đánh giá năng lực vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cũng cho thấy lớp thực nghiệm có điểm trung bình cao hơn đáng kể so với lớp đối chứng [Bảng đánh giá điểm trung bình NL VDKT đã học vào thực tiễn của lớp TN, ĐC]. Đây là minh chứng cho hiệu quả của việc tổ chức dạy học chủ đề sinh sản hữu tính ở động vật theo định hướng phát triển năng lực. Học sinh lớp thực nghiệm đã thể hiện khả năng giải thích hiện tượng, đề xuất giải pháp và ứng dụng kiến thức vào các tình huống thực tiễn tốt hơn. Điều này đóng góp vào việc nâng cao chất lượng dạy học môn Sinh học tại cấp THPT.

5.1. Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm Hiệu quả của dạy học theo chủ đề

Kết quả thực nghiệm sư phạm đã khẳng định hiệu quả vượt trội của dạy học theo chủ đề đối với dạy học chủ đề sinh sản hữu tính ở động vật. Phân tích dữ liệu từ các bài kiểm tra 15 phút trước và sau tác động cho thấy sự cải thiện rõ rệt về kiến thức của học sinh. Điểm trung bình của lớp thực nghiệm tăng lên, và sự chênh lệch điểm giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng là có ý nghĩa thống kê [Bảng tần suất hội tụ tiến điểm kiểm tra 15 phút TTĐ và STĐ, Bảng kết quả xử lí số liệu bài kiểm tra 15 phút lớp TN và ĐC bằng phần mềm Excel]. Điều này chứng tỏ phương pháp dạy học sinh sản mới đã giúp học sinh tiếp thu kiến thức về sinh sản hữu tính động vật, bao gồm các khái niệm về thụ tinh trong, thụ tinh ngoài, phân bào giảm nhiễm, hình thành giao tử, phát triển phôi, và vòng đời động vật, một cách hiệu quả hơn.

Bên cạnh đó, phân tích bằng phần mềm Excel cho thấy các tham số đặc trưng của lớp thực nghiệm (điểm trung bình, độ lệch chuẩn) có sự biến đổi tích cực, phản ánh chất lượng học tập được nâng cao. Việc tổ chức dạy học chủ đề sinh sản hữu tính đã tạo điều kiện cho học sinh tự lực tìm kiếm thông tin, thảo luận nhóm, và giải quyết các vấn đề, từ đó củng cố kiến thức một cách bền vững. Hiệu quả của dạy học theo chủ đề không chỉ nằm ở việc truyền tải kiến thức mà còn ở khả năng khơi gợi sự chủ động và tích cực của học sinh trong quá trình học tập.

5.2. Tác động đến năng lực vận dụng kiến thức và hứng thú của học sinh sinh học

Một trong những tác động quan trọng nhất của việc tổ chức dạy học chủ đề sinh sản hữu tính ở động vật là sự phát triển năng lực vận dụng kiến thức (NL VDKT) và gia tăng hứng thú học sinh đối với môn Sinh học. Kết quả đánh giá NL VDKT cho thấy lớp thực nghiệm đạt điểm trung bình cao hơn đáng kể so với lớp đối chứng [Bảng đánh giá điểm trung bình NL VDKT đã học vào thực tiễn của lớp TN, ĐC]. Điều này minh chứng cho khả năng của học sinh trong việc giải thích các hiện tượng liên quan đến sinh sản hữu tính, đánh giá tác động của các biện pháp tránh thai, hoặc đề xuất giải pháp cho các vấn đề chăn nuôi [Bảng đánh giá kết quả cuộc thi].

Ngoài ra, khảo sát ý kiến học sinh cũng cho thấy sự chuyển biến tích cực. Tỷ lệ học sinh đồng ý với việc dạy học theo chủ đề, áp dụng các phương pháp dạy học tích cực như dự án, hoạt động trải nghiệm, giải quyết vấn đề, đạt 76,5%. Học sinh cũng bày tỏ sự đồng ý cao về việc được giáo viên hướng dẫn trực tiếp (79%) [Kết quả điều tra về ý kiến của HS]. Mặc dù tỷ lệ hứng thú học tập cao chưa đạt mức tuyệt đối (42,5% đồng ý), nhưng sự gắn kết kiến thức với thực tiễn đã giúp học sinh hiểu bài sâu sắc, dễ nhớ và nhớ lâu hơn (37% đồng ý) [Kết quả điều tra về ý kiến của HS]. Điều này khẳng định rằng việc đổi mới trong dạy học chủ đề sinh sản hữu tính đã tạo ra một môi trường học tập năng động, khuyến khích học sinh chủ động và phát triển NL VDKT hiệu quả.

VI. Tương lai dạy học chủ đề sinh sản hữu tính Xu hướng và khuyến nghị đột phá

Việc nghiên cứu và áp dụng thành công mô hình dạy học chủ đề sinh sản hữu tính ở động vật theo định hướng phát triển năng lực đã mở ra những triển vọng mới cho giáo dục Sinh học tại Việt Nam. Các kết quả từ luận văn này không chỉ góp phần giải quyết những thách thức hiện tại mà còn định hình hướng đi cho sự đổi mới bền vững. Tương lai của dạy học chủ đề sinh sản hữu tính đòi hỏi sự tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các phương pháp dạy học sinh sảngiáo án sinh sản hữu tính để phù hợp hơn với sự phát triển không ngừng của khoa học và công nghệ. Đặc biệt, việc lồng ghép các yếu tố của tiến hóa sinh sảncơ chế điều hòa sinh sản sâu hơn vào các chủ đề sẽ giúp học sinh có cái nhìn toàn diện hơn về thế giới sống.

Để đạt được mục tiêu kép là học sinh vừa nắm vững kiến thức vừa phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn, dạy học theo chủ đề với việc lựa chọn các phương pháp dạy học tích cực như dạy học giải quyết vấn đề, thí nghiệm, và dạy học dự án là giải pháp tối ưu nhất [Kết luận chương 1]. Luận văn đã biên soạn được nội dung chuyên đề sinh sản hữu tính dựa theo yêu cầu cần đạt của Chương trình GDPT môn Sinh học mới [5], thiết kế kế hoạch tổ chức hoạt động dạy và học theo hướng phát triển NL VDKT, và xây dựng bảng tiêu chí đánh giá NL này [Đóng góp mới của đề tài]. Những đóng góp này tạo nền tảng vững chắc cho giáo viên và nhà trường trong việc triển khai chương trình giáo dục mới, đảm bảo kiểm tra đánh giá sinh học một cách công bằng và hiệu quả, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục nói chung. Do đó, việc nghiên cứu và áp dụng mô hình này cần được khuyến khích và nhân rộng trong tương lai.

6.1. Khuyến nghị cho giáo viên và nhà trường Đổi mới dạy học sinh sản hữu tính bền vững

Để đảm bảo sự đổi mới trong dạy học chủ đề sinh sản hữu tính ở động vật được bền vững, cần có các khuyến nghị cụ thể cho cả giáo viên và nhà trường. Đối với giáo viên, cần chủ động tham gia các khóa tập huấn về phương pháp dạy học sinh sản theo định hướng phát triển năng lực, đặc biệt là các kỹ thuật dạy học tích cựcứng dụng công nghệ thông tin dạy học. Giáo viên nên dành thời gian xây dựng và thiết kế giáo án sinh sản hữu tính có tính tích hợp cao, lồng ghép nhiều bài tập thực tiễn và tình huống có vấn đề để học sinh vận dụng kiến thức. Việc này không chỉ làm cho bài học sinh động hơn mà còn giúp học sinh phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống. Ngoài ra, giáo viên cần nâng cao năng lực kiểm tra đánh giá sinh học theo hướng phát triển năng lực, sử dụng các tiêu chí và công cụ đánh giá đa dạng để đo lường chính xác sự tiến bộ của học sinh [Kết luận và khuyến nghị].

Đối với nhà trường, cần tạo điều kiện thuận lợi về thời gian và cơ sở vật chất để giáo viên triển khai dạy học theo chủ đề. Cung cấp các tài liệu tham khảo, học liệu số và hỗ trợ kỹ thuật cần thiết cho việc ứng dụng công nghệ thông tin dạy học. Đồng thời, nhà trường cần khuyến khích và tổ chức các hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm thực tế liên quan đến sinh sản hữu tính ở động vật, giúp học sinh có cơ hội trực tiếp quan sát và học hỏi. Chính sách khuyến khích giáo viên nghiên cứu khoa học, viết sáng kiến kinh nghiệm về đổi mới phương pháp dạy học sinh sản cũng là yếu tố quan trọng để duy trì và phát triển chất lượng giáo dục.

6.2. Triển vọng phát triển chuyên đề sinh sản trong chương trình giáo dục mới

Triển vọng phát triển chuyên đề sinh sản trong chương trình giáo dục mới là rất lớn, đặc biệt khi nhận thấy hiệu quả của việc tổ chức dạy học chủ đề sinh sản hữu tính ở động vật theo định hướng năng lực. Với việc tích hợp sâu hơn các nội dung về tiến hóa sinh sản, cơ chế sinh sản, và vai trò hormone sinh sản, chuyên đề sinh sản có thể trở thành một phần quan trọng, góp phần hình thành và phát triển năng lực học sinh sinh học toàn diện. Sự liên hệ giữa sinh sản hữu tính với vòng đời động vật và các ứng dụng trong thực tiễn (chăn nuôi, y tế) sẽ làm cho chuyên đề này trở nên hấp dẫn và thiết thực hơn bao giờ hết.

Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc đa dạng hóa các tình huống thực tiễn, phát triển thêm các bài tập thực tiễn và dự án học tập để học sinh có nhiều cơ hội vận dụng kiến thức. Đồng thời, việc mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các địa bàn khác hoặc các cấp học khác cũng là một hướng đi tiềm năng. Mục tiêu là tạo ra một hệ thống giáo án sinh sản hữu tính phong phú, dễ áp dụng, giúp giáo viên tự tin triển khai các hoạt động dạy học mới. Sự phát triển của chuyên đề sinh sản sẽ không chỉ nâng cao chất lượng giáo dục môn Sinh học mà còn góp phần đào tạo ra những thế hệ học sinh có khả năng thích nghi, giải quyết vấn đề và đóng góp vào sự phát triển bền vững của xã hội.

01/10/2025
Luận văn thạc sĩ xây dựng và tổ chức dạy học chủ đề sinh sản hữu tính ở động vật góp phần phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trung học phổ thông tỉnh quảng ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Tư tưởng DHTCĐ đã xuất hiện khá sớm, từ thời trung cổ. “Tính vấn đề” trong dạy học đã được nhà triết học cổ Hy Lạp Sôcrat quan tâm đến, ông đã xây dựng một phương pháp độc đáo: “Toạ đàm, tranh luận” đó là tư tưởng khởi đầu cho dạy học theo chủ đề sau này.

Các nhà giáo dục Nga như A.Rizôlôp… đã đề xuất phương pháp tìm tòi ơritxtic trong dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của HS trong quá trình nhận thức. Quan điểm về DHTCĐ đã được nhà giáo dục nổi tiếng Hoa kỳ J.Dewey trình bày trong cuốn: “Dân chủ và giáo dục” (1916), đừng quan niệm giáo dục là chuẩn bị cho cuộc sống tương lai mà phải làm cho giáo dục gắn đầy đủ với cuộc sống hiện tại, nghĩa là xã hội rộng lớn và lớp học đều phải tham gia nghiên cứu cuộc sống hiện tại với các vấn đề cần giải quyết.Skatkin, một nhà sư phạm nổi tiếng, đã cống hiến cho lí luận dạy học Xô viết (cũ) và thế giới mà các công trình của ông được đặc cách viết thành báo cáo khoa học đặc biệt có giá trị để bảo vệ học vị tiến sĩ Khoa học sư phạm năm 1970 [33].Skatkin đã thông báo về thành tựu khoa học của ông và nhiều đồng nghiệp Xô viết khác là tìm ra con đường nâng cao hoạt động nhận thức độc lập và sáng tạo cho học sinh khi sử dụng mọi hình thức dạy học đa dạng như: dùng lời, quan sát và thực hành, từ đó tác giả đã đưa ra nhiều kiến nghị cho GV áp dụng DH theo chủ đề vào hoạt động DH các bộ môn tại trường phổ thông [33].Skatkin đã đề ra ba mức độ áp dụng dạy học theo chủ đề đối với học sinh tuỳ theo lứa tuổi, trình độ kỹ năng tiếp cận lối dạy học này mà các em được tập dượt dưới sự hướng dẫn từng bước của GV. Mức độ tiếp theo GV dẫn dắt HS tiếp nhận tài liệu học tập theo tình huống vấn đề kiểu “Tìm tòi bộ phận”. Mức độ cao là sự gắn chặt với sự xúc cảm cao của người học có tác dụng tập dượt tư duy khoa học một cách biện chứng cho HS, GV dẫn dắt tổ chức hoạt động nhận thức để các em đặt ra được tình huống có vấn đề rồi tự mình giải quyết tức là mức độ “Tìm tòi khoa học”.

Khi áp dụng mức độ này thì tình huống có vấn đề diễn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com ra trong giảng dạy do HS đặt và giải quyết nên nâng cao được tính hứng thú học tập của các em một cách tự lực sáng tạo, tạo cơ hội cho HS bắt chước nhà khoa học nghiên cứu một vấn đề khoa học. Vai trò của GV và HS trong hoạt động dạy - học này là sự hợp tác, tuỳ theo cách thức áp dụng mô tả như trên mà GV chi phối mức hoạt động độc lập tích cực nhận thức của HS khi nghiên cứu tài liệu mới.D trong cuốn “Teaching by principles: An interactive approach to language pedagogy”, DHTCĐ hình thành một loạt các kỹ năng và kiến thức ở HS bằng cách “tích hợp các đơn vị học tập của các ngành khoa học xung quanh một chủ đề”. DHTCĐ giúp liên kết các nội dung học tập và tạo ra sự hứng thú ở HS, thúc đẩy tính cộng đồng trong lớp học nhằm đạt được mục tiêu của chủ đề. Việc lựa chọn nội dung dạy học của chủ đề dựa trên “nền tảng kiến thức, kĩ năng, thái độ và sở thích nguyện vọng của HS” sẽ tạo động cơ cho người học, giúp người học tham gia nhiệt tình vào quá trình học tập.

GV lúc này trở thành “người điều phối”, duy trì định hướng xây dựng một bức tranh toàn cảnh về kiến thức và kĩ năng mà HS cần đạt được thông qua các hoạt động học tập. Brown cũng khẳng định rằng thiết kế các đơn vị học tập xoay quanh một hoặc một số chủ đề có thể thúc đẩy HS quan tâm và tập trung vào chủ đề đã được chọn, các hoạt động và nhiệm vụ giảng dạy cũng được tích hợp và tổ chức tốt hơn khi tổ chức dạy học chủ đề. Từ động lực mong muốn biết nhiều hơn, HS tham gia nhiệt tình vào quá trình học tập, GV lúc này trở thành người điều phối, duy trì định hướng xây dựng một bức tranh toàn cảnh về kiến thức và kĩ năng mà HS cần đạt được thông qua các hoạt động học tập. Brown cũng khẳng định rằng thiết kế các đơn vị học tập xoay quanh một hoặc một số chủ đề có thể thúc đẩy HS quan tâm và tập trung vào chủ đề đã được chọn, các hoạt động và nhiệm vụ giảng dạy cũng được tích hợp và tổ chức tốt hơn khi dạy học theo chủ đề [32].

Nghiên cứu của Brown, H.D có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn nội dung học tập của chủ đề và việc tổ chức, thiết kế kế hoạch DH chủ đề, một nhiệm vụ quan trọng trong nhóm các biện pháp chuẩn bị tổ chức DH chủ đề của GV. Trong thế kỉ XXI, thế giới có những bước chuyển mình mạnh mẽ trong lĩnh vực giáo dục. Do sức ép và thách thức lớn mang tính thời đại nên giáo dục buộc phải thay đổi cách tiếp cận từ nội dung sang tiếp cận NL để sản phẩm đào tạo là HS phải “biết Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com làm”, nghĩa là mang tính ứng dụng cao. UNESCO đã đề xướng mục tiêu học tập: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”.

Ngân hàng thế giới gọi thế kỉ XXI là kỉ nguyên của kinh tế dựa vào kĩ năng (Skills Based Economy). NL của con người được đánh giá trên 3 mức độ: kiến thức, kĩ năng và thái độ trong một bối cảnh có ý nghĩa. Muốn tăng cường NL cạnh tranh, rút ngắn khoảng cách ứng dụng khoa học công nghệ thì phải biết cách dạy và cách học. Thế giới đã và đang thiết kế chương trình giáo dục, nội dung giáo dục, PPDH theo hướng tiếp cận NL và xây dựng hệ thống các NL chung và chuyên biệt cho từng môn học.

Các NL này khi xây dựng thường được nhấn mạnh ở mỗi NL người học phải làm được gì. Đối với NL chuyên biệt, mỗi NL phải được cụ thể hóa đầu ra làm được gì. Ngoài ra, cần phải lưu ý đến khả năng tích hợp liên quan đến lý thuyết, thực hành, ứng dụng vào thực tiễn xã hội. Các chủ đề có ý nghĩa thực tiễn thường có sự tích hợp.

Vì vậy, ở Mĩ, nhiều nước Tây Âu và ngay cả nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái lan, Indonesia, Sungapore, Malaixia, Philipin,… đã từ lâu không tách rời các môn Lý, Hóa, Sinh ở cấp Tiểu học và THCS. Ở hai cấp học này, các môn này được tích hợp thành môn Khoa học, đến cấp THPT, các môn này được tách ra, nhưng cấp này cũng xây dựng các chủ đề tích hợp có tính thực tiễn cao. Sự tích hợp thành môn Khoa học sẽ được giảng dạy theo một số chủ đề chính, sau đó được phân cấp thành các chủ đề nhỏ hơn. Mỗi chủ đề chính lại được phát triển thành các chủ đề nhỏ và được phân thành các mức khác nhau từ Tiểu học đến THCS và THPT.

Theo đánh giá của UNESCO, việc đổi mới nội dung chương trình và cách tiếp cận nội dung chương trình dạy học ở nhiều quốc gia đang có xu hướng tích hợp theo chủ đề dạy học cùng với sự tích hợp công nghệ vào dạy học. Tại Việt Nam Ở Việt Nam, vấn đề dạy học theo chủ đề được nhiều tác giả nghiên cứu trong thời gian gần đây. Trong các công trình nghiên cứu đó, các tác giả đã chỉ rõ quy trình các bước để xây dựng một chủ đề dạy học; xác định các NL HS có thể đạt được thông qua các chủ đề dạy học; phân loại các chủ đề dạy học. Tiêu biểu trong hướng nghiên cứu này là tác giả Cao Thị Thặng với công trình nghiên cứu “Vận dụng quan điểm tích hợp trong việc phát triển chương trình giáo dục Việt Nam giai đoạn sau 2015” [20], Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com nhóm tác giả do Đỗ Hương Trà (chủ biên) và cộng sự đã biên soạn 2 cuốn sách về dạy học tích hợp các môn học Khoa học tự nhiên và dạy học tích hợp các môn Khoa học xã hội [24].

Tháng 12/2014, Bộ GD & ĐT đã tiến hành tập huấn cán bộ quản lí và GV THPT về xây dựng chủ đề dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển NL HS trên phạm vi cả nước, trong đó chú trọng đến quy trình xây dựng chủ đề và phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá theo chủ đề. Bên cạnh đó, Bộ GD & ĐT đã tổ chức cuộc thi DHTCĐ tích hợp giành cho GV trung học nhằm khuyến khích GV sáng tạo, DHTCĐ, chủ điểm có nội dung liên quan đến nhiều môn học và gắn với thực tiễn cuộc sống, góp phần đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập. Trong đề án cải cách giáo dục của Bộ GD & ĐT nhấn mạnh việc chuyển từ “dạy học tiếp cận nội dung” sang “dạy học tiếp cận NL”. Ở đó, sẽ tiến hành “dạy học tích hợp”, “dạy học giải quyết vấn đề” với nội dung học tập thiết kế theo chủ đề.

Trong chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ GD & ĐT (Ban hành ngày 26/12/2018 kèm theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT của Bộ GDĐT) đã nêu rõ quan điểm “Chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm phát triển phẩm chất và NL người học thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức, kĩ năng cơ bản, thiết thực, hiện đại; hài hoà đức, trí, thể, mĩ; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống; tích hợp cao ở các lớp học dưới, phân hoá dần ở các lớp học trên; thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi HS, các phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu giáo dục và phương pháp giáo dục để đạt được mục tiêu đó” [3]. Một số vấn đề chung về DHTCĐ và dạy học định hướng phát triển NL cho HS THPT 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ