CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MẠNG XÃ HỘI VÀ MARKETING TRỰC TUYẾN QUA MẠNG XÃ HỘI 1. Tổng quan về mạng xã hội 1. Khái niệm mạng xã hội Mạng xã hội, một danh từ quen thuộc trong thời gian 5 năm trở lại đây và ngày càng đi sâu vào cuộc sống của con người. Có thể nói, đây là mô hình mới nhất trong quá trình phát triển đương đại, đơn giản hoá các phương thức tương tác và kết nối giữa con người với nhau suốt chiều dài lịch sử.
Không những thế, mạng xã hội đã trở thành một kênh bán hàng và quảng bá thương hiệu doanh nghiệp cực kỳ hiệu quả. Theo Wikipedia, mạng xã hội, hay gọi là mạng xã hội ảo, (tiếng Anh: social network) là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian. Mạng xã hội có những tính năng như chat, e-mail, phim ảnh, chia sẻ file, blog và xã luận. Mạng đổi mới hoàn toàn cách cư dân mạng liên kết với nhau và trở thành một phần tất yếu của mỗi ngày cho hàng trăm triệu thành viên khắp thế giới.
Các dịch vụ này có nhiều phương cách để các thành viên tìm kiếm bạn bè, đối tác: dựa theo group (ví dụ như tên trường hoặc tên thành phố), dựa trên thông tin cá nhân (như địa chỉ e-mail hoặc screen name), hoặc dựa trên sở thích cá nhân (như thể thao, phim ảnh, sách báo, hoặc ca nhạc), lĩnh vực quan tâm: kinh doanh, mua bán. Giá trị cốt lõi của mạng xã hội là sự tham gia của các thành viên, đông đảo thì mạng xã hội mạnh mẽ. Hiện nay có hình thành các cộng đồng trực tuyến gắn với những ngành nghề khác nhau mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp. Các mạng xã hội cho phép bạn chủ động tạo dựng và phát triển profile, quảng cáo sản phẩm hay tiết lộ những thông tin có ích, và xa hơn là hòa nhập và trở thành một phần của cộng đồng.
Nhiệm vụ đặt ra cho những người làm Marketing Online là phải làm sao để các doanh nghiệp của bạn kết nối với người tiêu dùng và tạo ra cộng đồng của mình đông đảo, điều này giúp cho doanh nghiệp của bạn có được những thành quả tuyệt vời. Quá trình phát triển. Năm 1995 mạng xã hội đầu tiêm ra đời là trang Classmate với mục đích kết nối bạn học, tiếp theo là sự xuất hiện của SixDegrees vào năm 1997 với mục đích giao lưu kết bạn dựa theo sở thích. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Đến năm 2002, Friendster đã trở thành một trào lưu thịnh hành tại Mỹ.
Con số thành viên tăng lên tới hàng triệu, tuy nhiên do phát triển quá nhanh nên server của Friendster thường bị quá tải, gây bức xúc cho nhiều thành viên. Hai năm sau, năm 2004, trang MySpace ra đời được thiết kế với nhiều tính năng như phim ảnh (embedded video) mỗi ngày đã thu hút hàng chục ngàn thành viên mới, không chỉ vậy, Myspace còn thu hút được cả các thành viên cũ của Friendster chuyển qua MySpace. Với tốc độ phát triển quá nhanh, MySpace đã trở thành mạng xã hội đầu tiên có nhiều lượt xem hơn cả Google và được tập đoàn News Corporation chú ý mua lại với giá 580 triệu USD. Năm 2006, sự ra đời của “Facebook đánh dấu bước ngoặt mới cho hệ thống mạng xã hội trực tuyến với nền tảng lập trình “Facebook Platform” cho phép thành viên tạo ra những công cụ mới (“apps”) cho cá nhân mình cũng như các thành viên khác dùng.
Facebook Platform nhanh chóng gặt hái được thành công vược bực, mang lại hàng trăm tính năng mới cho Facebook và đóng góp không nhỏ cho con số trung bình 19 phút mà các thành viên bỏ ra trên trang này mỗi ngày” Ở Việt Nam trong vài năm gần đây cũng đã xuất hiện một số các mạng xã hội do người Việt xây dựng như Vietspace, Yobanbe, Zingme, Tamtay, Clipvn,… Cũng phải thừa nhận, nhìn chung, những mạng xã hội này đều là “bản sao chưa hoàn chỉnh” của các trang web nổi tiếng như MySpace, Flickr, Facebook hay Youtube. Các mạng xã hội “made in Vietnam” đều chưa phát triển được các ứng dụng như Facebook hay Google nên không thu hút đựơc người sử dụng. Một số mạng xã hội trên thế giới. Các mạng xã hội hàng đầu thế giới như MySpace, Facebook, YouTube, LinkedIn, Pinterest… đều chứa đựng những điểm đặc thù hay những công cụ riêng có mà tùy theo chiến dịch các marketer có thể tận dụng tối đa.
- MySpace ưu tiên hướng tới các nội dung giải trí như chia sẻ âm nhạc, video trực tuyến kết hợp với các dịch vụ giải trí offline. Mạng xã hội này phù hợp với các chiến dịch marketing xây dựng và phát triển các cộng đồng thu hút giới trẻ, có tính nghệ thuật giải trí cao. - Facebook là đối thủ của MySpace, nhưng có điểm đặc biệt là giành được sự ưa thích của một nhóm nhờ tập trung vào sự duy trì những mối quan hệ sẵn có. Và hiện LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 nay đây là mạng xã hội được sử dụng mạnh mẽ nhất.
Facebook giúp thành viên nhóm mở rộng mạng lưới bạn bè với các trường khác, cũng như kết nối các hoạt động vui chơi, giải trí và tình nguyện. Và hiện nay nó chính là công cụ giúp các doanh nghiệp bán hàng online cực kỳ hiệu quả - LinkedIn đặc điểm nổi bật nhất của LinkedIn là phát triển mạng lưới quan hệ kinh doanh. Với nhiều thương gia, mạng xã hội này tựa như một cuốn danh thiếp trực tuyến, giúp họ dễ dàng kết nối và duy trì với những đối tượng khác trong cộng đồng, nhất là với tính năng tự động cập nhật danh sách. Cuốn danh bạ trực tuyến này còn nói cho các chủ nhân biết được họ đang có bao nhiêu quan hệ và chúng “bền chặt” đến đâu.
- Twitter là một mạng xã hội với thông tin được chia sẻ theo thời gian thực, cho phép mọi người giao tiếp bằng cách trao đổi những mẩu tin ngắn (chỉ 140 ký tự). Tuy Twitter chưa quá phổ biến tại Việt Nam nhưng nó được sử dụng rất nhiều trên thế giới ngang ngửa với Facebook. Đặc điểm của mạng xã hội Cần phân biệt rõ giữa hai khái niệm “mạng xã hội” (Social network) và “truyền thông xã hội” (Social media). Theo Wikipedia, social media đề cập tới việc tương tác giữa con người với con người, trong đó là việc thiết lập, chia sẻ và trao đổi những thông tin hay các ý tưởng mà họ tạo ra, trên các cộng đồng ảo hoặc các mạng chia sẻ.
Vì vậy, mạng xã hội và truyền thông xã hội là hai khái niệm không đồng nhất với nhau. Bản thân Facebook hay Twitter hay Zingme chỉ là mạng xã hội (Social networks), không phải là Social media. Điểm nổi bật của mạng xã hội mà ai cũng nhận thấy đó là tính kết nối và chia sẻ rất mạnh mẽ. Nó phá vỡ những ngăn cách về địa lý, ngôn ngữ, giới tính lẫn quốc gia.
Những gì bạn làm, bạn nghĩ, cả thế giới có thể chia sẻ với bạn chỉ trong tích tắc. Social Network site hay mạng xã hội là mạng được tạo ra để tự thân nó lan rộng trong cộng đồng thông qua các tương tác của các thành viên trong chính cộng đồng đó. Mọi thành viên trong mạng xã hội cùng kết nối và mỗi người là một mắt xích để tạo nên một mạng lưới rộng lớn truyền tải thông tin trong đó. Về cơ bản, mạng xã hội giống như một trang web mở với nhiều ứng dụng khác nhau.
Mạng xã hội khác với trang web thông thường ở cách truyền tải thông tin và tích hợp ứng dụng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Trang web thông thường cũng giống như truyền hình, cung cấp càng nhiều thông tin, thông tin càng hấp dẫn càng tốt còn mạng xã hội tạo ra các ứng dụng mở, các công cụ tương tác để mọi người tự tương tác và tạo ra dòng tin rồi cùng lan truyền dòng tin đó. Trong khi mạng xã hội đề cập đến một tập hợp các phần tử (thành viên) và các quan hệ liên kết giữa chúng thì Social Media đề cập tới hình thức sản xuất và phân phối nội dung. Như vậy, ngay cả MySpace hay Facebook, tự thân nó không phải Social Media vì nó không sản xuất mà cũng không phân phối, mà là mạng xã hội, nhưng nó cung cấp môi trường để các blogger sản xuất và phân phối.
Social Media không hề phụ thuộc vào Social Network. Ví dụ nếu ai đó lập một trang web cá nhân để đưa các bài viết và quan điểm cá nhân của mình lên, vậy là đã sản xuất nội dung, nhờ Internet phân phối chính là Social Media. Marketing mạng xã hội 1. Khái niệm Marketing mạng xã hội Marketing trực tuyến, theo Wikipedia, E-marketing (Internet marketing hay online marketing), hay tiếp thị qua mạng, tiếp thị trực tuyến là hoạt động tiếp thị cho sản phẩm và dịch vụ thông qua mạng kết nối toàn cầu Internet.
Các dữ liệu khách hàng kỹ thuật số và các hệ thống quản lý quan hệ khách hàng điện tử (ECRM) cũng kết hợp với nhau trong việc tiếp thị Internet. Sự xuất hiện của Internet đã đem lại nhiều lợi ích như chi phí thấp để truyền tải thông tin và truyền thông (media) đến số lượng lớn đối tượng tiếp nhận, thông điệp được truyền tải dưới nhiều hình thức khác nhau như văn bản, hình ảnh, âm thanh, phim và trò chơi. Với bản chất tương tác của E-marketing, đối tượng nhận thông điệp có thể phản hồi tức khắc hay giao tiếp trực tiếp với đối tượng gửi thông điệp. Đây là lợi thế lớn của E-marketing so với các loại hình khác.
E-marketing kết hợp tính sáng tạo và kỹ thuật của Internet, bao gồm thiết kế, phát triển, quảng cáo và bán hàng. Mục đích sử dụng - Tạo ra một hệ thống trên nền Internet cho phép người dùng giao lưu và chia sẻ thông tin một cách hiệu quả, vượt ra ngoài những giới hạn về địa lý và thời gian - Xây dựng lên một mẫu định danh trực tuyến nhằm phục vụ những yêu cầu công việc những giá trị của cộng đồng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Nâng cao vai trò của mỗi công dân trong việc tạo lập quan hệ và tự tổ chức xoay quanh những mối quan tâm chung trong cộng đồng, thúc đẩy sự liên kết các tổ chức xã hội. Các nền tảng mạng xã hội chủ yếu Theo cây internet marketing, dựa trên nền tảng là website, có 6 hình thức – 6 công việc trong marketing trực tuyến: Hình 1.
Sơ đồ cây Internet Marketing (Nguồn: Docstoc.com) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.