Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu ngành nghề tại các khu chế xuất, khu công nghiệp TP.HCM

Tài liệu luận văn phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành nghề tại các khu chế xuất, khu công nghiệp TPHCM.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2007

93
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Lời cảm ơn

Danh mục Các chữ viết tắt dùng trong luận văn

Danh mục Bảng biểu – hình vẽ dùng trong luận văn

MỞ ĐẦU

1. Chương 1: Cơ sở lý luận về cơ cấu ngành nghề (CCNN) và chuyển dịch CCNN

1.1. Khái niệm về CCNN

1.2. Khái niệm về chuyển dịch CCNN

1.3. Những chỉ tiêu phản ánh và ý nghĩa của chuyển dịch CCNN

1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch CCNN

1.4.1. Các nguồn lực tự nhiên

1.4.2. Nguồn vốn đầu tư

1.4.3. Nguồn nhân lực

1.4.4. Tiến bộ công nghệ

1.4.5. Thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu

1.4.6. Các nhân tố về cơ chế chính sách

1.5. Sự chuyển dịch CCNN trong một số mô hình công nghiệp hóa

1.5.1. Chuyển dịch CCNN trong mô hình CNH theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung

1.5.2. Chuyển dịch CCNN trong mô hình CNH thay thế nhập khẩu

1.5.3. Chuyển dịch CCNN trong mô hình CNH hướng về xuất khẩu

1.5.4. Chuyển dịch CCNN trong mô hình CNH-HĐH hỗn hợp theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế

1.6. Kinh nghiệm chuyển dịch CCNN ở các nước ASEAN

1.6.1. Kinh nghiệm của Malaysia

1.6.2. Kinh nghiệm của Thái Lan

1.6.3. Kinh nghiệm của Singapore

1.6.4. Bài học kinh nghiệm cho các KCX-KCN Tp. HCM

1.7. Kết luận Chương 1

2. Chương 2: Thực trạng phát triển và chuyển dịch CCNN tại các khu chế xuất, khu công nghiệp (KCX-KCN) Tp. HCM

2.1. Quá trình thành lập và phát triển các KCX-KCN Tp. HCM

2.1.1. Thành lập các KCX-KCN tại Tp. HCM

2.1.2. Thành lập Ban quản lý

2.1.3. Quy hoạch và dự kiến phát triển các KCX-KCN Tp. HCM

2.2. Thực trạng chuyển dịch CCNN tại các KCX-KCN Tp. HCM

2.2.1. Tình hình về quỹ đất tại các KCX-KCN Tp. HCM

2.2.2. Thực trạng về thu hút vốn đầu tư và CCNN đầu tư tại các KCX-KCN Tp. HCM

2.2.3. Thực trạng về nguồn lực lao động

2.2.4. Tình hình xuất nhập khẩu tại các KCX-KCN Tp. HCM

2.2.5. Thực trạng về quản lý nhà nước các KCX-KCN Tp. HCM và cơ chế chính sách vĩ mô của Nhà nước

2.3. Nhận xét chung

2.3.1. Mặt tích cực

2.3.2. Những tồn tại và nguyên nhân

2.4. Kết luận Chương 2

3. Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu chuyển dịch CCNN tại các KCX-KCN Tp. HCM

3.1. Mục tiêu, quan điểm xây dựng giải pháp

3.1.1. Quan điểm xây dựng giải pháp

3.1.2. Mục tiêu phát triển chung của các KCX-KCN Việt Nam

3.1.3. Mục tiêu chuyển dịch CCNN trong các KCX-KCN Tp. HCM

3.2. Một số giải pháp chủ yếu chuyển dịch CCNN tại các KCX-KCN Tp. HCM

3.2.1. Giải pháp về quy hoạch KCX-KCN

3.2.2. Giải pháp về thu hút đầu tư

3.2.3. Phát triển và đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề

3.2.4. Phát triển KCX-KCN kết hợp chặt chẽ với bảo vệ môi trường

3.2.5. Nâng cao hiệu quả quản lý các KCX-KCN Tp. HCM

3.3. Kiến nghị

3.3.1. Kiến nghị Chính phủ

3.3.2. Kiến nghị UBND Tp. HCM

3.3.3. Kiến nghị đối với HEPZA

3.3.4. Đối với các công ty phát triển hạ tầng KCX-KCN

3.4. Kết luận Chương ba

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Phụ lục 1

Phụ lục 2

Phụ lục 3

Tóm tắt

I. Khái niệm cơ cấu ngành nghề và chuyển dịch tại KCX KCN

Cơ cấu ngành nghề là thành phần cấu tạo nên một nền kinh tế, phản ánh sự phân bổ lao động và vốn đầu tư giữa các ngành sản xuất khác nhau. Tại các khu chế xuất-khu công nghiệp (KCX-KCN), chuyển dịch cơ cấu ngành nghề là quá trình thay đổi tỷ trọng và thành phần các ngành công nghiệp, từ những ngành truyền thống sang các ngành công nghiệp tiên tiến hơn. Đây là một chỉ số quan trọng phản ánh mức độ phát triển kinh tế và tính cạnh tranh quốc tế của các KCX-KCN. Quá trình này được thúc đẩy bởi các yếu tố như công nghệ, vốn đầu tư, nguồn nhân lực và chính sách quốc gia.

1.1. Định nghĩa và tầm quan trọng của cơ cấu ngành nghề

Cơ cấu ngành nghề là sự sắp xếp tỷ lệ giữa các ngành kinh tế trong một vùng. Tại các KCX-KCN Thành phố Hồ Chí Minh, cơ cấu ngành nghề phản ánh sự phân bổ hợp lý giữa công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ và các dịch vụ. Tầm quan trọng của cơ cấu ngành nghề nằm ở việc nó giúp tối ưu hóa sử dụng tài nguyên, tạo việc làm và nâng cao giá trị gia tăng.

1.2. Chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong bối cảnh hiện đại

Chuyển dịch cơ cấu ngành nghề là xu hướng tất yếu trong quá trình công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Tại các KCX-KCN, quá trình này thể hiện sự nâng cấp từ các ngành lao động dày đặc, chi phí thấp sang các ngành công nghiệp đòi hỏi công nghệ cao hơn. Điều này giúp các khu công nghiệp cạnh tranh tốt hơn trên thị trường toàn cầu và nâng cao thu nhập cho người lao động.

II. Những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành nghề

Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành nghề tại các KCX-KCN không xảy ra ngẫu nhiên mà chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố quan trọng. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những yếu tố chính thúc đẩy chuyển dịch ngành nghề tại các khu chế xuất. Bên cạnh đó, tiến bộ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng và chính sách quốc gia cũng đóng vai trò quan trọng. Những nguồn lực tự nhiên và khả năng xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp tại KCX-KCN cũng ảnh hưởng đáng kể đến định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành nghề.

2.1. Vốn đầu tư và công nghệ

Vốn đầu tư, đặc biệt là FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài), là nhân tố chính thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành nghề tại các KCX-KCN. Các doanh nghiệp nước ngoài mang theo công nghệ tiên tiến và yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm. Tiến bộ công nghệ giúp nâng cao năng suất lao động và tạo điều kiện cho chuyển dịch sang những ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao hơn.

2.2. Nguồn nhân lực và chính sách

Nguồn nhân lực có tay nghề là yếu tố sống còn cho sự phát triển cơ cấu ngành nghề tại các khu công nghiệp. Các chương trình đào tạo lao động và nâng cao kỹ năng là thiết yếu. Chính sách quốc gia hỗ trợ phát triển KCX-KCN, cơ chế ưu đãi thuế, và hỗ trợ doanh nghiệp cũng là những yếu tố quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển dịch cơ cấu ngành nghề.

III. Thực trạng phát triển tại các KCX KCN Thành phố Hồ Chí Minh

Từ khi thành lập, các khu chế xuất-khu công nghiệp (KCX-KCN) tại Thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành những đầu tàu phát triển kinh tế, thu hút hàng nghìn doanh nghiệp nước ngoài và trong nước. Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành nghề tại các KCX-KCN từng trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau, từ các ngành công nghiệp nhẹ ban đầu đến các ngành công nghiệp hiện đại hơn. Cơ cấu lao động tại các khu công nghiệp cũng ghi nhận sự tăng trưởng ấn tượng, với hàng chục nghìn lao động được tuyển dụng. Tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa từ các KCX-KCN cho thấy sự đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu.

3.1. Quá trình phát triển và quy hoạch KCX KCN

Các khu chế xuất-khu công nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh được thành lập theo quy hoạch tổng thể, với định hướng phát triển không gian rõ ràng đến năm 2020. Ban quản lý KCX-KCN (HEPZA) đã triển khai nhiều dự án quy hoạch để cải thiện hạ tầng và môi trường kinh doanh. Sự phát triển này được thúc đẩy bởi nhu cầu thu hút vốn đầu tư và tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu ngành nghề một cách bền vững.

3.2. Cơ cấu ngành nghề đầu tư hiện tại

Cơ cấu ngành nghề tại các KCX-KCN TP. Hồ Chí Minh hiện tại bao gồm ngành dệt may, điện tử, cơ khí, hoá chất và các ngành công nghiệp khác. Chuyển dịch cơ cấu ngành nghề theo hướng tích cực, với sự gia tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp có công nghệ cao. Các doanh nghiệp tại khu công nghiệp ngày càng chú trọng đến chất lượng sản phẩmsản phẩm xuất khẩu có giá trị gia tăng cao.

IV. Giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành nghề bền vững

Để tiếp tục thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành nghề tại các KCX-KCN một cách hiệu quả và bền vững, cần áp dụng những giải pháp toàn diện. Quy hoạch KCX-KCN cần được điều chỉnh để phù hợp với xu hướng phát triển công nghiệp toàn cầu. Thu hút đầu tư các dự án công nghiệp cao cấp là ưu tiên hàng đầu. Đồng thời, cần tăng cường đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn, nâng cao kỹ năng cho lao động. Bảo vệ môi trường cũng phải đi kèm với phát triển kinh tế. Cuối cùng, cải thiện hiệu quả quản lý các KCX-KCN thông qua những kiến nghị Chính phủ và UBND Thành phố.

4.1. Giải pháp về quy hoạch và thu hút đầu tư

Quy hoạch KCX-KCN cần linh hoạt để hạn chế đất trống và thu hút những dự án đầu tư chất lượng cao. Cần xây dựng chính sách ưu đãi để thu hút vốn đầu tư vào những ngành công nghiệp chiến lược. Giải pháp này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển dịch cơ cấu ngành nghề theo hướng công nghiệp cao cấp, nâng cao sức cạnh tranh quốc tế.

4.2. Đầu tư nhân lực môi trường và quản lý

Đào tạo nguồn nhân lực chuyên biệt là then chốt cho chuyển dịch cơ cấu ngành nghề. Cần thiết lập các trung tâm đào tạo lao động tiên tiến tại các KCX-KCN. Bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển công nghiệp là vấn đề cấp bách. Nâng cao hiệu quả quản lý các khu công nghiệp thông qua ứng dụng công nghệ và cải cách hành chính là những giải pháp quan trọng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/12/2025
Tài liệu luận văn chuyển dịch cơ cấu ngành nghề tại các khu chế xuất khu công nghiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về cơ cấu ngành nghề và chuyển dịch cơ cấu ngành nghề Chương 2: Thực trạng phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành nghề tại các KCX-KCN Tp. HCM đến năm 2006 Chương 3: Giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu ngành nghề tại các KCX-KCN Tp. HCM đến năm 2020 Kết luận khoa luan, document9 of 138. tai lieu, luan van10 of 138.

10 CHÖÔNG MỘT: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU NGÀNH NGHỀ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH NGHỀ 1.1- Khái niệm về cơ cấu ngành nghề (CCNN): Cơ cấu (hay kết cấu) là một khái niệm mà triết học duy vật biện chứng dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó. Trong khi chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa bộ phận và toàn thể, nó biểu hiện ra như là một thuộc tính của sự vật, hiện tượng. Như vậy, có thể thấy có rất nhiều trình độ, nhiều kiểu tổ chức cơ cấu của các khách thể và các hệ thống. (Từ điển Triết học.

NXB Tiến bộ, Matxcơva, 1975, tr.269-270) Cũng như vậy, đối với các KCX-KCN Tp. HCM, khi xem nó là một hệ thống thì có thể thấy rất nhiều các bộ phận và cơ cấu hợp thành chúng, tùy theo cách mà chúng ta tiếp cận khi nghiên cứu hệ thống ấy. Đặc biệt, sự vận động và phát triển của nền kinh tế theo thời gian bao hàm trong đó sự thay đổi bản thân các bộ phận cũng như sự thay đổi của các kiểu cơ cấu. Mỗi một loại cơ cấu phản ánh những nét đặc trưng của các bộ phận và các cách mà chúng quan hệ với nhau trong quá trình phát triển nền kinh tế.

Đối với đề tài này, chúng ta chỉ tập trung vào những vấn đề của cơ cấu ngành nghề. Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống, CCNN (của nền kinh tế) là tập hợp tất cả các ngành nghề hình thành nền kinh tế và mối quan hệ tương đối ổn định giữa chúng. Sự phát triển nền sản xuất xã hội từ nền kinh tế tự nhiên tới nền kinh tế hàng hóa cũng có nghĩa là xuất hiện những ngành độc lập, dựa trên những đối tượng sản xuất khác nhau. Sản xuất càng phát triển thì tập hợp ngành nghề càng trở nên phức tạp và đa dạng.

Ở đây, CCNN biểu hiện ra dưới các hình thức ngành lớn (ngành cấp I): nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; các phân ngành (ngành cấp II): chăn nuôi, trồng trọt… khoa luan, document10 of 138. tai lieu, luan van11 of 138. 11 trong nông nghiệp; cơ khí, luyện kim, năng lượng… trong công nghiệp…; ngành cấp III (may mặc, sợi, dệt…) trong dệt may… Sự vận động của các ngành nghề và mối liên hệ của nó vừa tuân theo những đặc điểm chung của sự phát triển sản xuất xã hội, lại vừa mang những nét đặc thù của mỗi giai đoạn và của từng vùng, khu vực. Vì vậy, nghiên cứu CCNN là nhằm tìm ra những cách thức duy trì tính tỷ lệ hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ưu tiên tập trung các nguồn lực có hạn cho từng vùng, khu vực hay quốc gia trong mỗi thời kỳ để thúc đẩy sự phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân một các nhanh chóng nhất, hiệu quả nhất.2- Khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành nghề (CCNN): Chuyển dịch cơ cấu do sự thay đổi các chính sách và do các biến động về mặt xã hội gây ra, nó có thể được thực hiện một cách chủ động, có ý thức hoặc xảy ra do điều kiện khách quan, có thể không theo dự kiến hoặc ngược lại với dự kiến.

Theo đó, chuyển dịch CCNN là quá trình phát triển của các ngành nghề dẫn đến sự tăng trưởng khác nhau giữa các ngành và làm thay đổi mối quan hệ tương quan giữa chúng so với một thời điểm trước đó sao cho phù hợp với phương hướng phát triển kinh tế-xã hội đã đề ra. Chuyển dịch CCNN chỉ xảy ra sau một thời gian nhất định và sự phát triển của các ngành nghề dẫn đến thay đổi mối quan hệ tương đối ổn định vốn có của chúng. Trên thực tế, những biểu hiện của những thay đổi này là: - Sự thay đổi về số lượng cũng như loại ngành nghề trong nền kinh tế (sự mất đi một số ngành nghề đã có hay sự xuất hiện một số ngành nghề mới). - Tăng trưởng về quy mô và nhịp độ khác nhau của các ngành nghề sẽ dẫn tới thay đổi CCNN của nền kinh tế.

- Tốc độ biến đổi tương quan giữa các ngành nghề thường được xác định qua chỉ tiêu “tốc độ tăng trưởng của ngành”. - Thay đổi trong mối quan hệ tác động qua lại giữa các ngành nghề (khi một ngành ra đời hay phát triển, do có mối quan hệ với ngành khác, nó có thể tác động thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển các ngành có liên quan tới nó). khoa luan, document11 of 138. tai lieu, luan van12 of 138.3- Những chỉ tiêu phản ánh và ý nghĩa của chuyển dịch CCNN: Khi phân tích và đánh giá quá trình chuyển dịch CCNN, các nhà kinh tế học thường sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu gồm cơ cấu GDP, cơ cấu lao động và cơ cấu mặt hàng xuất khẩu xem xét.

[4] Quá trình phát triển kinh tế cũng đồng thời là quá trình làm thay đổi rất lớn về các loại cơ cấu, trước hết là CCNN. Sự thay đổi của CCNN phản ánh trình độ phát triển của sức sản xuất xã hội, biểu hiện chủ yếu trên hai mặt: một là, lực lượng sản xuất càng phát triển càng tạo điều kiện cho quá trình phân công lao động xã hội trở nên sâu sắc; hai là, sự phát triển của phân công lao động xã hội đến lược nó lại càng làm cho các mối quan hệ kinh tế thị trường càng củng cố và phát triển. Như vậy, sự thay đổi về số lượng và chất lượng của cơ cấu kinh tế, đặc biệt là CCNN (bao gồm tất cả các cấp độ phân ngành) phản ánh trình độ phát triển của sức sản xuất xã hội. Và trong thời kỳ công nghiệp hóa, nó phản ánh mức độ đạt được của quá trình công nghiệp hóa.

Chính vì thế, ngày nay kinh tế học phát triển coi chuyển dịch CCNN là một trong những nội dung trụ cột phản ánh mức độ phát triển của nền kinh tế. Trong quá trình phát triển, tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ trong GDP và trong tổng nguồn lao động xã hội tăng, trong khi tỷ trọng của nông nghiệp giảm. Đồng thời dân cư thành thị tăng, dân cư nông thôn giảm. Sự thay đổi CCNN phản ánh mức độ thay đổi của phương thức sản xuất theo hướng ngày càng hiện đại, những khu vực có năng suất lao động cao, giá trị gia tăng lớn có tốc độ phát triển cao hơn và thay thế dần những khu vực sản xuất kinh doanh có năng suất lao động và giá trị gia tăng thấp.

Dù quá trình công nghiệp hóa có diễn ra dưới bất kỳ hình thức hay mô hình nào thì sự thay đổi cơ cấu đáng kể nhất của quá trình này vẫn là sự thay đổi tỷ trọng của sản xuất nông nghiệp truyền thống, năng suất thấp vốn chiếm phần lớn trong nền kinh tế sang một nền kinh tế có tỷ trọng lao động công nghiệp (nhất là công nghiệp chế biến) có năng suất cao hơn. Lẽ đương nhiên, cùng với quá trình phát triển nền sản xuất công khoa luan, document12 of 138. tai lieu, luan van13 of 138. 13 nghiệp dựa trên kỹ thuật công nghệ hiện đại, một khu vực dịch vụ hiện đại cũng ra đời và ngày càng phát triển.

Đặc biệt là từ một vài thập kỷ gần đây, sự phát triển của khu vực dịch vụ này được xem là một trong những đặc trưng mới của xu hướng phát triển thế giới, xu hướng phát triển của kỷ nguyên hậu công nghiệp, khiến cho cách tiếp cận vấn đề cơ cấu và chuyển dịch CCNN trong quá trình công nghiệp hóa có những thay đổi không nhỏ.2- Những nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch CCNN: Để chuyển dịch CCNN thành công, cần chú ý đến những nhân tố sau: 1.1- Các nguồn lực tự nhiên: Nhà kinh tế học cổ điển William Petty đã từng nói: “Lao động là cha của của cải, còn đất là mẹ của nó”. (Karl marx – Tư bản, Tập 1, Q1, Phần 1. NXB Tiến bộ Matxcơva và NXB Sự Thật Hà Nội, tr. Cơ cấu kinh tế của một quốc gia được hình thành như thế nào đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của nguồn tài nguyên thiên nhiên ban tặng.

Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở xuất phát tự nhiên quan trọng để hình thành CCNN của các nền kinh tế của các quốc gia, của từng vùng, khu vực trong mỗi quốc gia. Nguồn lực tự nhiên có thể được kể đến quy mô đất đai để canh tác, xây dựng và đầu tư; địa hình và khí hậu, nguồn nước, mỏ khoáng sản… Nguồn lực tự nhiên tạo nên cái mà các nhà kinh tế học gọi là “lợi thế tuyệt đối” trong phân công lao động của các nền kinh tế. Song, để thúc đẩy sự chuyển dịch CCNN trong quá trình CNH- HĐH thì cần phải có những chính sách, định hướng, quy hoạch sao cho đúng, phù hợp với đặc điểm, tình hình của từng khu vực trong từng giai đoạn phát triển khác nhau.2- Nguồn vốn đầu tư: Nhân tố kinh tế quan trọng luôn ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình chuyển dịch CCNN là quy mô nguồn vốn đầu tư. Do khởi phát quá trình CNH trong điều kiện một nền kinh tế nghèo nàn, hầu như đối với tất cả các nước đang phát triển, nguồn vốn đầu tư là chiếc “cổ họng hẹp” đối với quá trình tăng trưởng và chuyển dịch CCNN.

Khát vốn là căn bệnh dai dẳng đối với những quốc gia đang mong muốn đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH. Vì lẽ đó, việc xác định CCNN không thể không tính tới khả năng của nguồn vốn đầu tư có thể huy động được. khoa luan, document13 of 138. tai lieu, luan van14 of 138.

14 Trong giai đoạn hiện nay, ngoài sự tác động của nhân tố vốn đến sự hình thành CCNN, còn có sự tác động của toàn cầu hóa và tính chất, mức độ can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế, trước hết qua chính sách đầu tư có một ý nghĩa rất to lớn đối với sự chuyển dịch CCNN của nền kinh tế. Vì thế, để có thể khơi thông dòng chảy vốn đầu tư từ bên ngoài cần phải cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ