đặt vấn đề phải tiết kiệm. Tiết kiệm và hiệu quả là vấn đề rất cơ bản của mỗi quốc gia, cũng như của mỗi doanh nghiệp. Nhập khẩu thiết bị kỹ thuật tiên tiến hiện đại. Việc nhập khẩu thiết bị máy móc và nhận chuyển giao công nghệ, kể cả thiết bị theo con đường đầu tư phải nắm vững phương châm đón đầu, đi thẳng vào tiếp thu công nghệ hiện đại.
Nhập khẩu phải hết sức chọn lọc, hết sức tránh nhập những loại công nghệ lạc hậu mà các nước đang tìm cách thải ra. Nhất thiết không vì mục tiêu rẻ mà nhập các thiết bị cũ về, chưa dùng được bao lâu, chưa đủ sinh lợi nhuận, đã phải thay thế. Đây không chỉ là bài học được rút ra qua một số năm gần đây, mà còn là kinh nghiệm của hầu hết các nước đang phát triển. Nhập khẩu bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tăng nhanh xuất khẩu.
Thế giới lâu nay và gần đây vẫn đầy ắp những kho tồn trữ hàng hóa và những nguyên nhiên liệu. Trong hoàn cảnh đó, việc nhập khẩu dễ hơn là tự sản xuất trong nước. Trong điều kiện sản xuất hiện tại của Việt Nam, giá hàng nhập khẩu thường rẻ hơn, phẩm chất tốt hơn. Nhưng nếu ỷ lại vào nhập khẩu sẽ không mở mang được sản xuất, thậm chí bóp chết sản xuất trong nước.
Vì vậy, cần tính toán và tranh thủ các lợi thế của nước ta trong từng thời kỳ để mở mang sản xuất vừa đáp 21 22 ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa về số lượng, vừa tạo ra được nguồn hàng xuất khẩu mở rộng thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, không nên bảo hộ sản xuất nội địa với bất cứ giá nào. Các công cụ quản lý, điều hành nhập khẩu Công cụ quản lý điều hành nhập khẩu của các nước rất khác nhau. Có những nước đánh thuế cao đối với hàng nhập khẩu.
Có những nước lại quản lý nhập khẩu qua quản lý ngoại tệ, qua các biện pháp phi thuế quan. Mục đích của các công cụ quản lý nhập khẩu là cản trở xuất khẩu của các nước khác vào lãnh thổ nước mình. Vì vậy, các nhà nhập khẩu và xuất khẩu phải biết được những quy định cụ thể và đặc điểm của chính sách quản lý nhập khẩu của Nhà nước mình và nước mà họ bán hàng. Đây là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhà nhập khẩu, xuất khẩu.
Những công cụ quản lý nhập khẩu rất nhiều, phức tạp và đa dạng. Nhưng tựu trung lại có hai nhóm công cụ (biện pháp) là thuế quan và phi thuế quan.2 Hoạt động xuất khẩu: Xuất khẩu đã được thừa nhận là một hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh tế đối ngoại, là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Việc mở rộng xuất khẩu để tăng thu nhập ngoại tệ cho đất nước và cho nhu cầu nhập khẩu phục vụ cho sự phát triển kinh tế là một mục tiêu quan trọng nhất của chính sách của một quốc gia. Nhà nước ta đã và đang thực hiện các biện pháp thúc đẩy các ngành kinh tế hướng theo xuất khẩu, khuyến khích khu vực tư nhân mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và tăng thu ngoại tệ cho đất nước.
Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với quá trình phát triển kinh tế: Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hóa đất nước. Công nghiệp hóa đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của nước ta. Để công nghiệp hóa đất nước trong một thời gian ngắn, đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến. Các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài, vay nợ và viện trợ…tuy quan trọng, nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hay cách khác ở thời kì sau này.
Nguồn vốn 22 23 quan trọng nhất để nhập khẩu, công nghiệp hóa đất nước là xuất khẩu. Xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu. Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng mạnh mẽ.
Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với nước ta. Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và dịch chuyển cơ cấu kinh tế. Một là, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu nội địa.
Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển như nước ta, sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dùng. Nếu chỉ thụ động chờ ở sự “ thừa ra” của sản xuất thì xuất khẩu sẽ vẫn cứ nhỏ bé và tăng trưởng chậm chạp. Hai là, coi thị trường và đặc biệt thị trường thế giới là hướng quan trọng để sản xuất. Quan điểm thứ hai chính là xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới để tổ chức sản xuất.
Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống của nhân dân. Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm rất nhiều mặt. Trước hết, sản xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập không thấp.
Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta. Chúng ta thấy rõ xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau. Có thể hoạt động xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác và tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ này phát triển.
Chẳng hạn, 23 24 xuất khẩu và công nghệ sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, mở rộng vận tải quốc tế… Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế trên lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu. Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hóa đất nước.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ CHIẾN LƯỢC TÀI CHÍNH HỔ TRỢ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU: 1.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản Kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai, tuy bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nền kinh tế Nhật Bản vẫn đạt được nhiều thành tựu đáng kinh ngạc. Nếu như năm 1948, GDP đầu người chỉ 380 USD, thì con số này năm 1987 là 12.750 USD và năm 1995 là 35000 USD. Thành công này của Nhật Bản có sự đóng góp quan trọng của các chiến lược tài chính giai đoạn này, cụ thể là việc phát triển các công cụ tài chính để nâng cao tỷ lệ tiết kiệm và phân bổ nguồn lực tài chính có hiệu quả.
So với các nước phát triển khác, tỷ lệ tiết kiệm của Nhật Bản có cao hơn, những năm 1961 – 1967, tỷ lệ tiết kiệm trung bình của khu vực tư nhân là 18,6% tổng thu nhập cá nhân, trong khi đó ở Mỹ là 6,2 % , Anh là 7,7%. Đến những năm 1986 – 1989 tỷ lệ này tăng lên 20%. Đạt được kết quả như vậy là nhờ chính phủ Nhật đã sử dụng hiệu quả các công cụ tín dụng Nhà nước để thu hút rộng rãi tiền nhàn rỗi của xã hội, đồng thời tiến hành thành lập các quỹ hỗ trợ để tài trợ vốn ưu đãi cho những lĩnh vực cần ưu tiên phát triển. Tất cả đã phát huy tác dụng nhất định, góp phần thúc đẩy nền kinh tế Nhật Bản cất cánh và tăng trưởng.
Nền kinh tế Nhật Bản phát triển thành công hầu hết là nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp hướng vào xuất khẩu. Chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu của Nhật Bản chia làm hai phần: 1) Về khả năng tổ chức của các công ty tư nhân, đó là sự tồn tại của các Tổng công ty thương mại được gọi là thương xá tổng hợp như Mitsui và Co, Mitsubishi Corporation. Các tổng công ty thương mại có tính chất cơ bản như sau: Tính tổng hợp - kinh doanh nhiều ngành hàng, tính đa dạng - kinh doanh xuất nhập khẩu, bán buôn trong nước, bán buôn với các nước bên ngoài Nhật Bản, tính tổ chức - đóng vai trò tích cực trong việc cung cấp vốn, tín 24 25 dụng cho các doanh nghiệp nhỏ, giới thiệu công nghệ mới, tìm đối tác và đầu tư trực tiếp trong các liên doanh ở nước ngoài. Các thương xá tổng hợp này phát huy sức mạnh về thông tin, vốn và quản lý,… ở thị trường quốc tế với hệ thống các cứ điểm hoạt động ở nhiều nơi trên thế giới.
Sự tồn tại và lớn mạnh của các thương xá tổng hợp đã góp phần rất lớn vào việc đẩy mạnh xuất khẩu của Nhật Bản. 2) Chính sách đẩy mạnh xuất khẩu của Chính phủ. Trong quá trình phát triển các ngành công nghiệp hướng vào xuất khẩu, vai trò của Chính phủ Nhật Bản rất to lớn. Chính phủ Nhật Bản đã áp dụng chính sách ưu đãi cho các xí nghiệp xuất khẩu, lập ra ngân hàng xuất khẩu để hỗ trợ tín dụng cho các dự án xuất khẩu có kim ngạch lớn, lập hội nghị tối cao bàn về xuất khẩu gồm đại diện Chính phủ và giới kinh doanh, lập chế độ kiểm tra hàng ; cuối cùng lập tổ chức chấn hưng mậu dịch (JETRO) để hỗ trợ về mặt thông tin và tiếp thị.
JETRO được thành lập năm 1958 với nhiều hoạt động phong phú hỗ trợ xuất nhập khẩu như đặt các cơ quan điều tra, nghiên cứu tại hầu hết các nước, theo dõi những thay đổi về chính sách thuế quan, về thị hiếu tiêu dùng, về tình hình cạnh tranh tại các nước. Khả năng tổ chức và nỗ lực của các công ty tư nhân kết hợp với các chiến lược tài chính hỗ trợ của Chính phủ đã làm cho hoạt động xuất nhập khẩu của Nhật Bản tăng nhanh và chiếm thị phần lớn trên thị trường quốc tế.